Falundafa.org


Pháp Luân Công
 

Chương I • Khái luận

第一章 • 概論

Đệ nhất chương: Khái luận

Chương I: Khái luận

氣功在我國源遠流長,有著悠久的歷史,因此,我國人民修煉氣功有著得天獨厚的條件。作為正法修煉的佛、道兩大家氣功,已經公開了許多秘傳大法。道家的修煉方法是很獨特的;佛家也有自己的修煉方法。法輪功就是佛家氣功的高層次修煉大法。在傳授班上,我首先要把大家的身體調整到適合往高層次上修煉的狀態,然後還要給大家身上下法輪和氣機,再把功法教給大家。除此以外,我還有法身保護你們。但是,僅僅這些還很不夠,還不能達到長功的目地,還要求大家必須懂得高層次上修煉的道理。這就是本書要講的內容。

Khí công tại ngã quốc nguyên viễn lưu trường, hữu trước du cửu đích lịch sử, nhân thử, ngã quốc nhân dân tu luyện khí công hữu trước đắc thiên độc hậu đích điều kiện. Tác vi chính Pháp tu luyện đích Phật, Đạo lưỡng đại gia khí công, dĩ kinh công khai liễu hứa đa bí truyền đại pháp. Đạo gia đích tu luyện phương pháp thị ngận độc đặc đích; Phật gia dã hữu tự kỷ đích tu luyện phương pháp. Pháp Luân Công tựu thị Phật gia khí công đích cao tầng thứ tu luyện Đại Pháp. Tại truyền thụ ban thượng, ngã thủ tiên yếu bả đại gia đích thân thể điều chỉnh đáo thích hợp vãng cao tầng thứ thượng tu luyện đích trạng thái, nhiên hậu hài yếu cấp đại gia thân thượng hạ Pháp Luân hoà khí cơ, tái bả công pháp giáo cấp đại gia. Trừ thử dĩ ngoại, ngã hài hữu Pháp thân bảo hộ nhĩ môn. Đãn thị, cẩn cẩn giá ta hài ngận bất cú, hài bất năng đạt đáo trưởng công đích mục địa, hài yêu cầu đại gia tất tu đổng đắc cao tầng thứ thượng tu luyện đích đạo lý. Giá tựu thị bản thư yếu giảng đích nội dung.

Khí công ở nước ta có nguồn gốc xa xưa, có lịch sử rất lâu dài, vì thế, nhân dân nước ta tu luyện khí công là có điều kiện hậu đãi trời ban. Về tu luyện khí công chính Pháp của hai ‘gia’ lớn là Phật gia và Đạo gia, [nay] đã công khai rất nhiều đại pháp bí truyền rồi. Những phương pháp tu luyện của Đạo gia rất độc đáo đặc biệt; Phật gia cũng có những phương pháp tu luyện của mình. Pháp Luân Công là đại pháp tu luyện tầng thứ cao của khí công Phật gia. Tại lớp học truyền thụ này, trước tiên tôi cần điều chỉnh thân thể mọi người cho đến trạng thái thích hợp với tu luyện lên tầng thứ cao, sau đó còn cần cài Pháp Luân và khí cơ lên thân [thể] mọi người, và còn dạy công pháp cho mọi người nữa. Ngoài đó ra, tôi còn có những Pháp thân bảo hộ chư vị. Tuy nhiên, chỉ ngần ấy thôi vẫn rất là không đủ, vẫn không thể đạt mục đích tăng trưởng công, vẫn cần yêu cầu mọi người phải hiểu rõ đạo lý tu luyện tầng thứ cao. Đó chính là nội dung mà cuốn sách này cần giảng đến.

我在高層次上講功,所以我不講修哪個脈、哪個穴、哪條經絡,我是講修煉大法,是真正往高層次上修煉的大法。初聽起來可能覺的玄,但對有志於氣功修煉者,只要細心體悟,奧妙盡在其中。

Ngã tại cao tầng thứ thượng giảng công, sở dĩ ngã bất giảng tu nả cá mạch, nả cá huyệt, nả điều kinh lạc, ngã thị giảng tu luyện Đại Pháp, thị chân chính vãng cao tầng thứ thượng tu luyện đích Đại Pháp. Sơ thính khởi lai khả năng giác đích huyền, đãn đối hữu chí ư khí công tu luyện giả, chỉ yếu tế tâm thể ngộ, áo diệu tận tại kỳ trung.

Tôi giảng công ở tầng thứ cao, do đó tôi không giảng về tu cái mạch nào, cái huyệt nào, hay đường kinh lạc nào; tôi là giảng tu luyện Đại Pháp, là Đại Pháp tu luyện chân chính lên tầng thứ cao. Mới nghe có thể cảm thấy huyền [hoặc], nhưng đối với người có chí tu luyện khí công, chỉ cần cẩn thận thể ngộ, thì [sẽ thấy] những điều huyền diệu đều ở trong đó.

一、氣功的淵源

Nhất, Khí công đích uyên nguyên

I. Khởi nguồn của khí công

我們現在所說的氣功,實際上並不叫氣功。它來源於中國古代人的獨修,或來自宗教的修煉。翻遍所有的丹經、道藏,翻遍所有的大藏經,也找不到「氣功」兩個字。在我們現有人類文明成度這個階段的發展當中,它經歷了宗教雛形時期。在宗教形成之前,氣功已經存在了。有了宗教之後,它帶有一定的宗教色彩。它原來的名字叫作修佛大法、修道大法;還有諸如九轉金丹術、羅漢法、金剛禪之類的名字。我們現在把它叫「氣功」,是為了更適合我們現代人的意識,是為了在社會上更容易普及。它實質上是我們中國純純粹粹的人體修煉的東西。

Ngã môn hiện tại sở thuyết đích khí công, thực tế thượng tịnh bất khiếu khí công. Tha lai nguyên ư Trung Quốc cổ đại nhân đích độc tu, hoặc lai tự tôn giáo đích tu luyện. Phiên biến sở hữu đích Đan Kinh, Đạo Tạng, phiên biến sở hữu đích Đại Tạng Kinh, dã trảo bất đáo “khí công” lưỡng cá tự. Tại ngã môn hiện hữu nhân loại văn minh thành độ giá cá giai đoạn đích phát triển đương trung, tha kinh lịch liễu tôn giáo sồ hình thời kỳ. Tại tôn giáo hình thành chi tiền, khí công dĩ kinh tồn tại liễu. Hữu liễu tôn giáo chi hậu, tha đới hữu nhất định đích tôn giáo sắc thái. Tha nguyên lai đích danh tự khiếu tác Tu Phật Đại Pháp, Tu Đạo Đại Pháp; hài hữu chư như Cửu Chuyển Kim Đan Thuật, La Hán Pháp, Kim Cương Thiền chi loại đích danh tự. Ngã môn hiện tại bả tha khiếu “khí công”, thị vi liễu cánh thích hợp ngã môn hiện đại nhân đích ý thức, thị vi liễu tại xã hội thượng cánh dung dị phổ cập. Tha thực chất thượng thị ngã môn Trung Quốc thuần thuần tuý tuý đích nhân thể tu luyện đích đông tây.

‘Khí công’ mà chúng ta hiện nay nói đến ấy, trên thực tế không hề gọi là ‘khí công’. Nó là từ nguồn gốc tu đơn độc của người cổ đại Trung Quốc, hoặc từ tu luyện của tôn giáo. Hãy giở hết những cuốn sách ‘Đan Kinh’, ‘Đạo Tạng’, hãy giở hết những cuốn ‘Đại Tạng Kinh’, cũng không tìm thấy hai chữ “khí công” này. Trong sự phát triển cho đến giai đoạn ở mức độ này của văn minh nhân loại hiện nay, nó đã trải qua thời kỳ sơ khởi của tôn giáo. Trước khi hình thành tôn giáo, đã tồn tại khí công rồi. Sau khi có tôn giáo, nó mang theo màu sắc của tôn giáo ở mức nào đó. Những tên nguyên gốc của nó là ‘Tu Phật Đại Pháp’, ‘Tu Đạo Đại Pháp’; còn có những tên khác như ‘Cửu Chuyển Kim Đan Thuật’, ‘La Hán Pháp’, ‘Kim Cương Thiền’. Hiện nay chúng ta gọi nó là “khí công”, là để thích hợp hơn với ý thức con người hiện đại chúng ta, là để dễ phổ cập hơn ở xã hội. Thực chất nó là những điều thuần tuý tu luyện [thân] thể người của Trung Quốc chúng ta.

氣功不是我們這茬人類發明的東西,它有相當久遠年代的歷史。那麼氣功是甚麼時間產生的呢?有人講氣功已有三千年歷史,唐代時期盛行。有人講有五千年歷史,與中華民族文化一樣悠久。有人講,從出土文物看,已有七千年歷史。我看氣功不是現代人類發明的,它是史前文化。據有功能的人查,我們生活的這個宇宙已經是九次爆炸後的組合體。我們生活的這個星球已毀滅過多次。每當星球從新組合成後,又從新繁衍人類。現在,我們已發現世界有許多超出現代文明的東西。按照達爾文的進化論,人是猿猴進化過來的,文明也沒超過一萬年。但從出土文物中發現,在歐洲阿爾卑斯山岩洞裏有二十五萬年以前的壁畫,有很高的藝術欣賞價值,為現代人所不及。在秘魯國立大學的博物館裏有塊大石頭,上面刻著一個人,拿著望遠鏡觀察天體。這個人像已有三萬多年歷史。大家知道,伽利略他在一六零九年發明的三十倍天文望遠鏡,到現在也不過三百多年歷史,三萬年以前哪有望遠鏡呢?印度有個鐵棒,含鐵純度達百分之九十九點幾。按現在冶煉技術也不可能煉出這麼高純度的鐵來,已超出現代技術水平。是誰創造了這個文明?人類在那時也許還是微生物呢,怎麼可能創造這些東西呢?這些東西的發現,引起了世界各國科學家的重視。因為解釋不了,就叫它「史前文化」。

Khí công bất thị ngã môn giá tra nhân loại phát minh đích đông tây, tha hữu tương đương cửu viễn niên đại đích lịch sử. Na ma khí công thị thậm ma thời gian sản sinh đích ni? Hữu nhân giảng khí công dĩ hữu tam thiên niên lịch sử, Đường đại thời kỳ thịnh hành. Hữu nhân giảng hữu ngũ thiên niên lịch sử, dữ Trung Hoa dân tộc văn hoá nhất dạng du cửu. Hữu nhân giảng, tùng xuất thổ văn vật khán, dĩ hữu thất thiên niên lịch sử. Ngã khán khí công bất thị hiện đại nhân loại phát minh đích, tha thị sử tiền văn hoá. Cứ hữu công năng đích nhân tra, ngã môn sinh hoạt đích giá cá vũ trụ dĩ kinh thị cửu thứ bộc tạc hậu đích tổ hợp thể. Ngã môn sinh hoạt đích giá cá tinh cầu dĩ huỷ diệt quá đa thứ. Mỗi đương tinh cầu tùng tân tổ hợp thành hậu, hựu tùng tân phồn diễn nhân loại. Hiện tại, ngã môn dĩ phát hiện thế giới hữu hứa đa siêu xuất hiện đại văn minh đích đông tây. Án chiếu Đạt Nhĩ Văn đích tiến hoá luận, nhân thị viên hầu tiến hoá quá lai đích, văn minh dã một siêu quá nhất vạn niên. Đãn tùng xuất thổ văn vật trung phát hiện, tại Âu Châu A Nhĩ Ty Tư sơn nham động lý hữu nhị thập ngũ vạn niên dĩ tiền đích bích hoạ, hữu ngận cao đích nghệ thuật hân thưởng giá trị, vi hiện đại nhân sở bất cập. Tại Bí Lỗ Quốc lập Đại học đích bác vật quán lý hữu khối đại thạch đầu, thượng diện khắc trước nhất cá nhân, nã trước vọng viễn kính quan sát thiên thể. Giá cá nhân tượng dĩ hữu tam vạn đa niên lịch sử. Đại gia tri đạo, Già Lợi Lược tha tại nhất lục linh cửu niên phát minh đích tam thập bội thiên văn vọng viễn kính, đáo hiện tại dã bất quá tam bách đa niên lịch sử, tam vạn niên dĩ tiền nả hữu vọng viễn kính ni? Ấn Độ hữu cá thiết bổng, hàm thiết thuần độ đạt bách phân chi cửu thập cửu điểm kỷ. Án hiện tại dã luyện kỹ thuật dã bất khả năng luyện xuất giá ma cao thuần độ đích thiết lai, dĩ siêu xuất hiện đại kỹ thuật thuỷ bình. Thị thuỳ sáng tạo liễu giá cá văn minh? Nhân loại tại na thời dã hứa hài thị vi sinh vật ni, chẩm ma khả năng sáng tạo giá ta đông tây ni? Giá ta đông tây đích phát hiện, dẫn khởi liễu thế giới các quốc khoa học gia đích trọng thị. Nhân vi giải thích bất liễu, tựu khiếu tha “sử tiền văn hoá”.

Khí công không phải là nhân loại chúng ta lần này phát minh, nó có lịch sử với niên đại rất xa xưa. Vậy khí công sinh ra từ thời gian nào? Có người giảng rằng khí công có lịch sử ba nghìn năm, thịnh hành vào triều đại nhà Đường. Có người giảng rằng có lịch sử năm nghìn năm, cũng xa xưa như văn hoá dân tộc Trung Hoa. Có người giảng, xét từ những văn vật khai quật được, nó có lịch sử bảy nghìn năm. Tôi nhìn nhận rằng khí công không phải do nhân loại hiện đại phát minh, nó là văn hoá tiền sử. Căn cứ theo người có công năng tra cứu, vũ trụ mà chúng ta đang sống đã trải qua chín lần tổ hợp lại sau khi tạc nổ. Tinh cầu mà chúng ta đang sống từng bị huỷ diệt nhiều lần. Sau mỗi lần tinh cầu tổ hợp lại mới, thì nhân loại lại sinh sôi lại mới. Hiện nay, chúng ta đã phát hiện thế giới có rất nhiều thứ vượt khỏi văn minh hiện đại. Chiểu theo thuyết tiến hoá của Darwin, loài người là do người vượn tiến hoá thành, văn minh là cũng không quá một vạn năm. Nhưng từ những văn vật khai quật thì phát hiện rằng, trong động đá dãy núi Apls ở châu Âu có những bức bích hoạ hai mươi lăm vạn năm trước, có giá trị thưởng thức nghệ thuật cao, mà người hiện đại không theo kịp. Tại Bảo tàng của Đại học Quốc gia của Peru có một khối đá lớn, trên đó khắc hình một người, tay đang cầm kính viễn vọng quan sát thiên thể. Hình người này đã có hơn ba vạn năm lịch sử. Như mọi người biết, Galiléo, năm 1609 ông ấy phát minh ra kính viễn vọng thiên văn phóng đại ba mươi lần, tính đến nay chẳng qua là hơn ba trăm năm lịch sử, vậy ba vạn năm trước ở đâu có được kính viễn vọng? Ấn Độ có một cây cột sắt, độ thuần của hàm lượng sắt trên 99%. Theo kỹ thuật nấu luyện hiện nay cũng không thể luyện ra được sắt với độ thuần cao như thế, đã vượt khỏi chuẩn mực khoa học kỹ thuật hiện đại. Là ai đã sáng tạo ra văn minh đó? Bấy giờ nhân loại có lẽ vẫn còn là vi sinh vật, làm sao có thể chế tạo những thứ ấy? Phát hiện ra những điều ấy, đã dấy lên coi trọng của các nhà khoa học các nước trên thế giới. Vì không giải thích nổi, nên bèn gọi những thứ đó là “văn hoá tiền sử”.

每個時期的科學水平都不一樣,有的時期相當高,超出我們現代人類水平。但是那個文明被毀掉了,所以我說,氣功不是我們現代人發明的,不是現代人創造的,而是現代人發現和完善的,它是史前文化。

Mỗi cá thời kỳ đích khoa học thuỷ bình đô bất nhất dạng, hữu đích thời kỳ tương đương cao, siêu xuất ngã môn hiện đại nhân loại thuỷ bình. Đãn thị na cá văn minh bị huỷ điệu liễu, sở dĩ ngã thuyết, khí công bất thị ngã môn hiện đại nhân phát minh đích, bất thị hiện đại nhân sáng tạo đích, nhi thị hiện đại nhân phát hiện hoà hoàn thiện đích, tha thị sử tiền văn hoá.

Chuẩn mực khoa học của mỗi thời kỳ là khác nhau, có thời kỳ nó khá là cao, vượt khỏi chuẩn mực của nhân loại hiện đại chúng ta. Nhưng những văn minh đó bị huỷ diệt rồi, vì thế tôi nói, khí công không phải do người hiện đại chúng ta phát minh ra, không phải người hiện đại sáng tạo ra, mà là được người hiện đại phát hiện và hoàn thiện, nó là văn hoá tiền sử.

氣功並非是我國獨有的產物,外國也有。但他們不叫氣功,西方國家叫魔術,在美國、英國等國家就這麼叫。美國有個魔術師,實際上他是個特異功能大師,表演穿過長城的城牆。當時他穿的時候是用白布把自己罩起來,扣在牆上,然後他穿過去。他為甚麼這樣做呢?這樣一做,好多人就看,是變魔術了。因為他不這樣做不行。他知道我們中國有許多高人,他怕受到這個干擾,所以他就把自己罩起再進去。出來的時候,伸出一隻手,把布頂起來人就走出來了。「內行看門道,外行看熱鬧」,這樣觀眾就認為是變魔術。他們之所以把這些功能叫魔術,是因為他們不是用這個東西來修煉身體,而是用來在舞台上表演以顯示出神奇和取樂。因此,從低層次上講,氣功是改變人的身體狀況,達到祛病健身的目地;從高層上講,氣功就是指修煉本體。

Khí công tịnh phi thị ngã quốc độc hữu đích sản vật, ngoại quốc dã hữu. Đãn tha môn bất khiếu khí công, Tây phương quốc gia khiếu ma thuật, tại Mỹ quốc, Anh quốc đẳng quốc gia tựu giá ma khiếu. Mỹ quốc hữu cá ma thuật sư, thực tế thượng tha thị cá đặc dị công năng đại sư, biểu diễn xuyên quá Trường Thành đích thành tường. Đương thời tha xuyên đích thời hậu thị dụng bạch bố bả tự kỷ trạo khởi lai, khấu tại tường thượng, nhiên hậu tha xuyên quá khứ. Tha vi thậm ma giá dạng tố ni? Giá dạng nhất tố, hảo đa nhân tựu khán, thị biến ma thuật liễu. Nhân vi tha bất giá dạng tố bất hành. Tha tri đạo ngã môn Trung Quốc hữu hứa đa cao nhân, tha phạ thụ đáo giá cá can nhiễu, sở dĩ tha tựu bả tự kỷ trạo khởi tái tiến khứ. Xuất lai đích thời hậu, thân xuất nhất chích thủ, bả bố đính khởi lai nhân tựu tẩu xuất lai liễu. “Nội hành khán môn đạo, ngoại hành khán nhiệt náo”, giá dạng quan chúng tựu nhận vi thị biến ma thuật. Tha môn chi sở dĩ bả giá ta công năng khiếu ma thuật, thị nhân vi tha môn bất thị dụng giá cá đông tây lai tu luyện thân thể, nhi thị dụng lai tại vũ đài thượng biểu diễn dĩ hiển thị xuất thần kỳ hoà thủ lạc. Nhân thử, tùng đê tầng thứ thượng giảng, khí công thị cải biến nhân đích thân thể trạng huống, đạt đáo khứ bệnh kiện thân đích mục địa; tùng cao tầng thượng giảng, khí công tựu thị chỉ tu luyện bản thể.

Khí công không hề là sản vật riêng của Trung Quốc, ngoại quốc cũng có. Nhưng họ không gọi là ‘khí công’, các nước phương Tây gọi đó là ‘ma thuật’, ở các nước như Mỹ quốc, Anh quốc thì người ta gọi như vậy. Tại Mỹ có một nhà ảo thuật, thực ra anh này là một đại sư có công năng đặc dị, đã từng biểu diễn đi xuyên qua tường của Vạn Lý Trường Thành. Bấy giờ khi anh ta xuyên qua thì lấy tấm vải trắng che chắn [tầm nhìn của khán giả], rồi áp vào bức tường thành, sau đó anh ta xuyên qua. Vì sao anh ta làm như thế? Làm theo cách đó, thì nhiều người xem, và hiểu đó là ảo thuật. Vì anh ta không làm thế cũng không được. Anh ta biết rằng Trung Quốc chúng ta có rất nhiều cao nhân, anh ta e rằng sẽ bị can nhiễu, do đó anh ta che mình lại rồi mới đi vào. Đến khi đi ra, bèn duỗi một tay ra, mở tấm vải và người bèn đi ra. “Trong nghề nhìn chiêu pháp, ngoài nghề nhìn náo nhiệt”, khán giả thì nhìn nhận rằng đó là ma thuật. Họ sở dĩ gọi những thứ đó là ma thuật, bởi vì họ không dùng những thứ ấy để tu luyện thân thể, mà dùng để biểu diễn trên sân khấu hiển thị ra những điều thần kỳ và giải trí. Như vậy, từ tầng thứ thấp mà giảng, khí công là cải biến tình trạng của thân thể, đạt được mục đích trừ bệnh khoẻ thân; từ tầng cao mà giảng, thì khí công là nói về tu luyện bản thể.

二、氣與功

Nhị, Khí dữ công

II. ‘Khí’ và ‘công’

我們現在所說的「氣」,古人稱之為「炁」,其本質是一樣的,都是指宇宙之氣,是指宇宙中的一種無形無像的物質。它不是指空氣的氣。人體通過修煉,調動起這種物質的能量,能夠改變人體狀況,起到祛病強身的作用。但是,氣就是氣,你也有氣,他也有氣,氣與氣之間沒有制約作用。有的人講,氣能治病;或者說你給誰發點氣,給他治治病。這些說法是很不科學的,因為氣根本治不了病。煉功人在他身上還有氣的時候,就說明他的身體還不是奶白體,說明他還有病。

Ngã môn hiện tại sở thuyết đích “khí”, cổ nhân xưng chi vi “khí”, kỳ bản chất thị nhất dạng đích, đô thị chỉ vũ trụ chi khí, thị chỉ vũ trụ trung đích nhất chủng vô hình vô tượng đích vật chất. Tha bất thị chỉ không khí đích khí. Nhân thể thông quá tu luyện, điều động khởi giá chủng vật chất đích năng lượng, năng cú cải biến nhân thể trạng huống, khởi đáo khư bệnh cường thân đích tác dụng. Đãn thị, khí tựu thị khí, nhĩ dã hữu khí, tha dã hữu khí, khí dữ khí chi gian một hữu chế ước tác dụng. Hữu đích nhân giảng, khí năng trị bệnh; hoặc giả thuyết nhĩ cấp thuỳ phát điểm khí, cấp tha trị trị bệnh. Giá ta thuyết pháp thị ngận bất khoa học đích, nhân vi khí căn bản trị bất liễu bệnh. Luyện công nhân tại tha thân thượng hài hữu khí đích thời hậu, tựu thuyết minh tha đích thân thể hài bất thị nãi bạch thể, thuyết minh tha hài hữu bệnh.

Khí “” mà hiện nay chúng ta nói ấy, thì người xưa gọi đó là khí “”, về bản chất đều là như nhau, đều là nói về khí của vũ trụ, là nói về một loại vật chất vô hình vô tướng trong vũ trụ này. Nó không phải nói về khí của không khí này. Thân thể người thông qua tu luyện, thì điều động được năng lượng của chủng loại vật chất ấy, có thể cải biến tình trạng của thân thể người, đạt tác dụng trừ bệnh khoẻ thân. Tuy nhiên, khí chỉ là khí, người này cũng có khí, người kia cũng có khí, giữa khí và khí với nhau là không có tác dụng chế ước. Có người giảng rằng khí có thể trị bệnh; hoặc nói rằng ‘bạn hãy phát một chút khí vào ai đó, trị bệnh cho họ xem sao’. Những thuyết nói đó rất không khoa học, vì khí hoàn toàn không trị nổi bệnh. Người luyện công khi ở trên thân vẫn còn khí, thì nói lên rằng thân thể họ vẫn chưa phải là ‘nãi bạch thể’, thuyết minh rằng họ vẫn có bệnh.

煉到高功夫的人,他發出的不是氣,而是高能量團,是表現為光的形式的高能量物質,顆粒很細,密度很大,這就是功,這時才能對常人起制約作用,才能給人看病。有一句話叫作:佛光普照,禮義圓明。意思是對正法修煉者來說,他身體所攜帶的能量很大,在他所經過之處,在他的能量覆蓋範圍之內,可以糾正一切不正常狀態,使之變為正常狀態。比如人的身體有病,就是身體上有不正常狀態,糾正了這種狀態病也就消除了。通俗點說,功就是能量。功具有物質性,煉功人通過修煉,可以體察到它的客觀存在。

Luyện đáo cao công phu đích nhân, tha phát xuất đích bất thị khí, nhi thị cao năng lượng đoàn, thị biểu hiện vi quang đích hình thức đích cao năng lượng vật chất, khoả lạp ngận tế, mật độ ngận đại, giá tựu thị công, giá thời tài năng đối thường nhân khởi chế ước tác dụng, tài năng cấp nhân khán bệnh. Hữu nhất cú thoại khiếu tác: Phật quang phổ chiếu, lễ nghĩa viên minh. Ý tư thị đối chính Pháp tu luyện giả lai thuyết, tha thân thể sở huề đới đích năng lượng ngận đại, tại tha sở kinh quá chi xứ, tại tha đích năng lượng phúc cái phạm vi chi nội, khả dĩ củ chính nhất thiết bất chính thường trạng thái, sử chi biến vi chính thường trạng thái. Tỷ như nhân đích thân thể hữu bệnh, tựu thị thân thể thượng hữu bất chính thường trạng thái, củ chính liễu giá chủng trạng thái bệnh dã tựu tiêu trừ liễu. Thông tục điểm thuyết, công tựu thị năng lượng. Công cụ hữu vật chất tính, luyện công nhân thông quá tu luyện, khả dĩ thể sát đáo tha đích khách quan tồn tại.

Người luyện tới công phu cao rồi, họ phát xuất ra không phải là khí, mà là các đám năng lượng cao, là biểu hiện vật chất cao năng lượng có hình thức ánh sáng, những hạt của nó rất nhỏ, mật độ rất lớn, đó chính là ‘công’, bấy giờ mới có thể có tác dụng chế ước với người thường, mới có thể chữa bệnh cho người. Có câu rằng: ‘Phật quang phổ chiếu, lễ nghĩa viên minh’. Ý tứ là đối với người tu luyện chính Pháp mà nói, năng lượng mà họ mang theo rất là lớn, ở những chỗ họ đi qua, trong phạm vi mà năng lượng của họ che phủ, thì có thể chỉnh lại cho chính tất cả những trạng thái bất thường, khiến cho biến thành trạng thái bình thường, Ví dụ như thân thể người kia có bệnh, chính là trên thân thể có trạng thái bất thường, hiệu chỉnh loại trạng thái bất bình thường ấy thì bệnh cũng tiêu trừ. Nói một cách thông tục, ‘công’ chính là năng lượng. ‘Công’ có mang tính vật chất, người luyện công thông qua tu luyện, có thể cảm nhận được sự tồn tại khách quan của nó.

三、功力與功能

Tam, Công lực dữ công năng

III. ‘Công lực’ và ‘công năng’

(一)功力是靠心性修出來的

(Nhất) Công lực thị kháo tâm tính tu xuất lai đích

1. Công lực là dựa vào tu tâm tính mà xuất lai

真正決定人的功力層次的功不是煉出來的,它是靠「德」這種物質轉化來的,靠修心性修出來的。這個轉化過程也不像常人所想像的安鼎設爐、採藥煉丹煉出來的。我們所說的功是產生在體外,從人體下半部開始,隨著心性的提高就螺旋式的往上長,完全在體外形成,然後在頭頂上形成功柱。功柱有多高,就決定了這個人功有多高。功柱在很隱蔽的空間,一般人不容易看到。

Chân chính quyết định nhân đích công lực tầng thứ đích công bất thị luyện xuất lai đích, tha thị kháo “đức” giá chủng vật chất chuyển hoá lai đích, kháo tu tâm tính tu xuất lai đích. Giá cá chuyển hoá quá trình dã bất tượng thường nhân sở tưởng tượng đích an đỉnh thiết lư, thái dược luyện đan luyện xuất lai đích. Ngã môn sở thuyết đích công thị sản sinh tại thể ngoại, tùng nhân thể hạ bán bộ khai thuỷ, tuỳ trước tâm tính đích đề cao tựu loa toàn thức đích vãng thượng trưởng, hoàn toàn tại thể ngoại hình thành, nhiên hậu tại đầu đỉnh thượng hình thành công trụ. Công trụ hữu đa cao, tựu quyết định liễu giá cá nhân công hữu đa cao. Công trụ tại ngận ẩn tế đích không gian, nhất ban nhân bất dung dị khán đáo.

Cái ‘công’ mà thật sự quyết định tầng thứ công lực của người ta là không phải luyện mà xuất lai, nó là dựa vào chủng vật chất “đức” này chuyển hoá thành, dựa vào tu tâm tính mà xuất lai. Quá trình chuyển hoá này cũng không phải luyện ra như ‘an đỉnh thiết lư, thái dược luyện đan’ mà người thường vẫn tưởng tượng. Công mà chúng ta nói ấy là sản sinh ở ngoài [thân] thể, bắt đầu từ nửa dưới của [thân] thể người, rồi thuận theo tâm tính đề cao mà mà tăng trưởng lên dưới dạng thức xoáy ốc, hoàn toàn hình thành ngoài [thân] thể, sau đó hình thành cột công trụ trên đỉnh đầu. Công trụ cao ngần nào, thì chính là quyết định cá nhân ấy có công cao ngần nấy. Công trụ ở không gian rất ẩn giấu, người bình thường không dễ nhìn thấy được.

功能靠功力所加持,功力高、層次高的人功能就大,運用就自如;功力低的人功能就小,運用就不自如,甚至運用不了。功能本身並不能代表一個人的功力大小、層次高低。決定一個人層次高低的是功力而不是功能。有的人是「鎖」起來煉的,他的功力很高,但不一定有多少功能。功力是起決定作用的,是靠心性修出來的,這是最關鍵的東西。

Công năng kháo công lực sở gia trì, công lực cao, tầng thứ cao đích nhân công năng tựu đại, vận dụng tựu tự như; công lực đê đích nhân công năng tựu tiểu, vận dụng tựu bất tự như, thậm chí vận dụng bất liễu. Công năng bản thân tịnh bất năng đại biểu nhất cá nhân đích công lực đại tiểu, tầng thứ cao đê. Quyết định nhất cá nhân tầng thứ cao đê đích thị công lực nhi bất thị công năng. Hữu đích nhân thị “toả” khởi lai luyện đích, tha đích công lực ngận cao, đãn bất nhất định hữu đa thiểu công năng. Công lực thị khởi quyết định tác dụng đích, thị kháo tâm tính tu xuất lai đích, giá thị tối quan kiện đích đông tây.

‘Công năng’ dựa vào gia trì của công lực, người có công lực cao, tầng thứ cao thì công năng lớn, và vận dụng được thuận ý; người mà công lực thấp thì công năng nhỏ, vận dụng không thuận ý, thậm chí vận dụng không nổi. Bản thân công năng không hề đại biểu cho công lực của người ta là lớn hay nhỏ, tầng thứ cao hay thấp. Quyết định tầng thứ một người là cao hay thấp ấy là công lực chứ không phải công năng. Có người luyện khi bị “khoá”, công lực của họ rất là cao, nhưng không nhất định có mấy công năng. Công lực là có tác dụng quyết định, là dựa vào tu tâm tính mà xuất lai, đây là điều then chốt nhất.

(二)功能不是煉功人的追求

(Nhị) Công năng bất thị luyện công nhân đích truy cầu

2. Công năng không phải là truy cầu của người luyện công

所有煉功人都關心功能,神通在社會上很有誘惑力,很多人都想具備一些功能。但是,心性不好,是不會具備這些功能的。

Sở hữu luyện công nhân đô quan tâm công năng, thần thông tại xã hội thượng ngận hữu dụ hoặc lực, ngận đa nhân đô tưởng cụ bị nhất ta công năng. Đãn thị, tâm tính bất hảo, thị bất hội cụ bị giá ta công năng đích.

Tất cả những người luyện công đều quan tâm công năng, thần thông có sức dụ hoặc rất lớn ở xã hội, rất nhiều người đều muốn có được công năng nào đó. Tuy nhiên, tâm tính mà không tốt, thì sẽ không có những công năng ấy.

有些功能是常人可能有的,如天目開、天耳通、思維傳感、預測功能等。但這些功能因人而異,在漸悟狀態中不會全有。有些功能是常人不可能有的,比如把一種現實空間的物體轉變為另外一種物體,這是常人不可能有的。大功能是靠後天煉出來的。法輪功按照宇宙的原理演化而來,宇宙中存在的功能法輪功裏都有,就看煉功人修煉的如何了。想得到一些功能的想法並不算錯誤,但是,過於強烈的追求,就不是一般的想法,就會產生不良的後果。在低層次上得點功能沒有多少用處,無非想用一用,在常人面前顯示一下本事,做常人的強者。如果是這樣,正說明心性不高,不給功能是對的。有些功能,如果給心性不好的人是可以用來幹壞事的,因為心性不牢靠就無法保證他不幹壞事。

Hữu ta công năng thị thường nhân khả năng hữu đích, như thiên mục khai, thiên nhĩ thông, tư duy truyền cảm, dự trắc công năng đẳng. Đãn giá ta công năng nhân nhân nhi dị, tại tiệm ngộ trạng thái trung bất hội toàn hữu. Hữu ta công năng thị thường nhân bất khả năng hữu đích, tỷ như bả nhất chủng hiện thực không gian đích vật thể chuyển biến vi lánh ngoại nhất chủng vật thể, giá thị thường nhân bất khả năng hữu đích. Đại công năng thị kháo hậu thiên luyện xuất lai đích. Pháp Luân Công án chiếu vũ trụ đích nguyên lý diễn hoá nhi lai, vũ trụ trung tồn tại đích công năng Pháp Luân Công lý đô hữu, tựu khán luyện công nhân tu luyện đích như hà liễu. Tưởng đắc đáo nhất ta công năng đích tưởng pháp tịnh bất toán thác ngộ, đãn thị, quá ư cường liệt đích truy cầu, tựu bất thị nhất ban đích tưởng pháp, tựu hội sản sinh bất lương đích hậu quả. Tại đê tầng thứ thượng đắc điểm công năng một hữu đa thiểu dụng xứ, vô phi tưởng dụng nhất dụng, tại thường nhân diện tiền hiển thị nhất hạ bản sự, tố thường nhân đích cường giả. Như quả thị giá dạng, chính thuyết minh tâm tính bất cao, bất cấp công năng thị đối đích. Hữu ta công năng, như quả cấp tâm tính bất hảo đích nhân thị khả dĩ dụng lai cán hoại sự đích, nhân vi tâm tính bất lao kháo tựu vô pháp bảo chứng tha bất cán hoại sự.

Một số công năng là người thường có thể có, chẳng hạn như mở thiên mục, thông thiên nhĩ, truyền cảm tư duy, công năng tiên đoán, v.v. Nhưng những công năng đó mỗi người một khác, và không có được toàn bộ trong trạng thái tiệm ngộ. Một số công năng là người thường không thể có được, chẳng hạn như khiến một loại vật thể của không gian hiện thực này biến thành một loại vật thể khác, đó là điều người thường không thể có. Các đại công năng là dựa vào hậu thiên luyện mà thành. Pháp Luân Công là chiểu theo nguyên lý của vũ trụ mà diễn hoá mà thành, công năng nào tồn tại trong vũ trụ thì đều có trong Pháp Luân Công, [có được nó hay không] ấy là xét xem người luyện công tu luyện thế nào. Suy nghĩ muốn đắc những công năng đó thì không có tính là sai, tuy nhiên, truy cầu mạnh mẽ, thì đã không phải lối nghĩ thông thường nữa rồi, chính là sẽ sinh ra hậu quả không tốt. Ở tầng thứ thấp mà đắc chút công năng thì không có được bao nhiêu tác dụng, chỉ muốn dùng thử, muốn hiển thị trước mặt người thường một chút bản sự, làm ‘cường giả’ nơi người thường. Nếu là như thế, thì quả đã nói lên rằng tâm tính không cao, và không cấp công năng [cho người ấy] là đúng. Có một số công năng, nếu như cấp cho người có tâm tính bất hảo thì có thể dùng để làm việc xấu, vì tâm tính không vững vàng thì không cách nào đảm bảo rằng người kia sẽ không làm chuyện xấu.

另一方面,凡屬可拿出來表演的功能,都不能用於改變人類社會,改變不了正常的社會生活。真正的高功能是不允許拿出來表演的,因為它的影響和危險太大了。正如總不能表演把一座大樓搬倒。對於特別大的功能,除非負有特殊使命的人才允許使用,否則是不允許使用的,也是拿不出來的,因為是要受到上師那裏控制的。

Lánh nhất phương diện, phàm thuộc khả nã xuất lai biểu diễn đích công năng, đô bất năng dụng ư cải biến nhân loại xã hội, cải biến bất liễu chính thường đích xã hội sinh hoạt. Chân chính đích cao công năng thị bất duẫn hứa nã xuất lai biểu diễn đích, nhân vi tha đích ảnh hưởng hoà nguy hiểm thái đại liễu. Chính như tổng bất năng biểu diễn bả nhất toạ đại lâu bàn đảo. Đối ư đặc biệt đại đích công năng, trừ phi phụ hữu đặc thù sứ mệnh đích nhân tài duẫn hứa sử dụng, phủ tắc thị bất duẫn hứa sử dụng đích, dã thị nã bất xuất lai đích, nhân vi thị yếu thụ đáo thượng sư na lý khống chế đích.

Một phương diện khác, hễ thuộc loại công năng có thể lấy ra biểu diễn, thì đều không thể dùng để cải biến xã hội nhân loại, không cải biến nổi cuộc sống bình thường của xã hội. Công năng cao cấp chân chính thì không cho phép lấy ra biểu diễn, là vì ảnh hưởng và sự nguy hiểm của nó quá lớn. Chẳng hạn như không thể biểu diễn đánh sập một toà cao ốc. Đối với những công năng hết sức lớn, thì trừ phi là người mang theo sứ mệnh đặc thù mới được phép sử dụng, nếu không thì không được phép dùng, có lấy ra cũng không lấy ra được, vì phải chịu khống chế của thượng sư ở kia.

可是往往有些常人非讓氣功師表演表演,逼著他拿出來看看。有功能的人都不願意把功能拿出來表演,因為那是不允許拿出來的,拿出來要影響整個社會狀態的。真正的大德之人,他的功能是不允許拿出來的。有的氣功師表演時心情很不好,他回去之後,恨不能大哭一場。不要去逼他表演!他拿出那個東西是難受的。有個學員拿了一本雜誌,我一看那東西很反感。意思是:開國際氣功會議,有功能的可以拿功能來參加比賽,誰功能強誰去。我看完之後,我那心難受好幾天。這東西是不能拿出來比賽的,拿出來是要後悔的。常人嘛,他就注重世間實際的東西,但氣功師就得要自重。

Khả thị vãng vãng hữu ta thường nhân phi nhượng khí công sư biểu diễn biểu diễn, bức trước tha nã xuất lai khán khán. Hữu công năng đích nhân đô bất nguyện ý bả công năng nã xuất lai biểu diễn, nhân vi na thị bất duẫn hứa nã xuất lai đích, nã xuất lai yếu ảnh hưởng chỉnh cá xã hội trạng thái đích. Chân chính đích đại đức chi nhân, tha đích công năng thị bất duẫn hứa nã xuất lai đích. Hữu đích khí công sư biểu diễn thời tâm tình ngận bất hảo, tha hồi khứ chi hậu, hận bất năng đại khốc nhất trường. Bất yếu khứ bức tha biểu diễn! Tha nã xuất na cá đông tây thị nan thụ đích. Hữu cá học viên nã liễu nhất bản tạp chí, ngã nhất khán na đông tây ngận phản cảm. Ý tư thị: khai quốc tế khí công hội nghị, hữu công năng đích khả dĩ nã công năng lai tham gia tỷ tái, thuỳ công năng cường thuỳ khứ. Ngã khán hoàn chi hậu, ngã na tâm nan thụ hảo kỷ thiên. Giá đông tây thị bất năng nã xuất lai tỷ tái đích, nã xuất lai thị yếu hậu hối đích. Thường nhân ma, tha tựu chú trọng thế gian thực tế đích đông tây, đãn khí công sư tựu đắc yếu tự trọng.

Nhưng thường hay có người thường cứ muốn khí công sư phải biểu diễn, bức bách họ lấy ra cho xem. Người có công năng đều không muốn lấy công năng ra biểu diễn, là vì không được phép lấy ra, lấy ra sẽ ảnh hưởng trạng thái của toàn thể xã hội. Người thật sự có đức rất lớn, công năng của họ là không được phép lấy ra đâu. Một số khí công sư khi biểu diễn cảm thấy tâm tình rất khó chịu, sau khi họ quay về, thì chỉ hận không khóc lớn lên một hồi. Đừng bức bách họ biểu diễn! Họ đưa ra những thứ đó thì họ thấy rất khó chịu. Có học viên đưa tôi một cuốn tạp chí, tôi rất phản cảm khi thấy những thứ ấy. Ý là: khai mở hội nghị khí công quốc tế, ai có công năng thì có thể lấy ra và tham gia tỉ thí, và ai có công năng mạnh thì sẽ vào [hội nghị]. Tôi xem xong, thì trong tâm khó chịu đến mấy ngày. Những cái đó là không thể lấy ra tỉ thí được, lấy ra thì sau sẽ hối hận. Người thường kia họ là chú trọng những gì ‘thực tế’ ở thế gian, nhưng khí công sư cần phải tự trọng.

要功能的目地是為甚麼?它反映著煉功人的思想境界和追求,思想所求不純正,不牢靠,不可能得高功能。這裏有一個原因,就是在你還沒有開悟之前,你所看到的事物好壞,僅僅是按照世間法的是非標準,你看不到事情的真相,看不到事情的因緣關係。人與人之間的打罵、欺負必有因緣存在,你看不透只能幫倒忙。常人間的恩恩怨怨,是是非非,自有世間法去管,煉功人不要管。因為在你還沒有開悟之前,你眼前所看見的事情的真相不一定是你所看見的那樣。誰打了誰一拳,可能就是他們結「業」,你去管可能妨礙了他們結「業」。「業」是人體周圍的一種黑黑的東西,它是在另一個空間的物質存在,這個東西可以轉化成病和災。

Yếu công năng đích mục địa thị vi thậm ma? Tha phản ánh trước luyện công nhân đích tư tưởng cảnh giới hoà truy cầu, tư tưởng sở cầu bất thuần chính, bất lao kháo, bất khả năng đắc cao công năng. Giá lý hữu nhất cá nguyên nhân, tựu thị tại nhĩ hài một hữu khai ngộ chi tiền, nhĩ sở khán đáo đích sự vật hảo hoại, cẩn cẩn thị án chiếu thế gian Pháp đích thị phi tiêu chuẩn, nhĩ khán bất đáo sự tình đích chân tướng, khán bất đáo sự tình đích nhân duyên quan hệ. Nhân dữ nhân chi gian đích đả mạ, khi phụ tất hữu nhân duyên tồn tại, nhĩ khán bất thấu chỉ năng bang đảo mang. Thường nhân gian đích ân ân oán oán, thị thị phi phi, tự hữu thế gian Pháp khứ quản, luyện công nhân bất yếu quản. Nhân vi tại nhĩ hài một hữu khai ngộ chi tiền, nhĩ nhãn tiền sở khán kiến đích sự tình đích chân tướng bất nhất định thị nhĩ sở khán kiến đích na dạng. Thuỳ đả liễu thuỳ nhất quyền, khả năng tựu thị tha môn kết “nghiệp”, nhĩ khứ quản khả năng phương ngại liễu tha môn kết “nghiệp”. “Nghiệp” thị nhân thể chu vi đích nhất chủng hắc hắc đích đông tây, tha thị tại lánh nhất cá không gian đích vật chất tồn tại, giá cá đông tây khả dĩ chuyển hoá thành bệnh hoà tai.

Mục đích muốn công năng là vì sao? Nó phản ánh ra cảnh giới tư tưởng và truy cầu của người luyện công, tư tưởng có chỗ truy cầu không thuần chính, không vững vàng, thì không thể đắc công năng cao. Trong đó có một nguyên nhân, ấy là khi chư vị chưa khai ngộ, thì cái tốt-xấu ở các sự vật mà chư vị nhìn thấy, chẳng qua là chiểu theo tiêu chuẩn thị-phi của thế gian Pháp mà thôi, chư vị không nhìn thấy chân tướng của sự việc, không thấy quan hệ nhân duyên của các việc. Những việc đánh chửi hay nạt dối giữa người với người là ắt phải có nhân duyên tồn tại, chư vị nhìn không thấu thì chỉ có thể là càng giúp càng hỏng việc. Nơi người thường thì ân ân oán oán, thị thị phi phi, đã tự có thế gian Pháp quản, người luyện công không nên quản. Là vì chư vị trước khi khai ngộ, thì chân tướng của những sự việc mà chư vị thấy trước mắt không nhất định giống như điều chư vị thấy đâu. Người này đánh người kia một đấm, có thể là họ đang kết toán nợ “nghiệp”, chư vị quản vào thì có thể cản trở việc họ kết toán “nghiệp” ấy. “Nghiệp” là một loại đen đen ở quanh thân thể, nó là tồn tại vật chất ở một không gian khác, những thứ đó có thể chuyển hoá thành bệnh hoặc tai ương.

功能人人都有,問題是要通過不斷的修煉加以開發和加強。作為煉功人,如果只追求得到功能,是目光短淺,思想不純,不管他要功能幹甚麼,其間都包含著私心,必然妨礙煉功,其結果就是得不到功能。

Công năng nhân nhân đô hữu, vấn đề thị yếu thông quá bất đoạn đích tu luyện gia dĩ khai phát hoà gia cường. Tác vi luyện công nhân, như quả chỉ truy cầu đắc đáo công năng, thị mục quang đoản thiển, tư tưởng bất thuần, bất quản tha yếu công năng cán thậm ma, kỳ gian đô bao hàm trước tư tâm, tất nhiên phương ngại luyện công, kỳ kết quả tựu thị đắc bất đáo công năng.

Ai ai cũng có công năng, vấn đề là phải thông qua tu luyện không ngừng mới khai phát và làm cho mạnh lên. Làm người luyện công, nếu chỉ truy cầu đắc được công năng, thì cái nhìn quá nhỏ hẹp, tư tưởng không thuần, dù họ muốn công năng để làm gì, thì trong đó đều bao hàm ‘tư tâm’, tất nhiên sẽ cản trở luyện công, và kết quả sẽ không đắc được công năng.

(三)功力的把握

(Tam) Công lực đích bả ác

3. Nắm giữ công lực

有的煉功人煉功時間不長,就想給人治病,看看靈不靈。對於功力不高的人,你伸手一試,就把病人體內大量的黑氣、病氣、濁氣吸到自己身上來了。因為你沒有防禦病氣的能力,身上又沒有保護罩,與病人形成了一個場,功力不高就防備不了,自己會感到很難受。如果沒有人管你,時間長了,會搞的渾身是病。因此,功力不高的人,不能給別人看病。除非你已經出了功能,並具備了一定的功力,才能用氣功看病。有些人雖然出了功能,可以看病,但在層次很低時,實際是用積存的功力來看病,用自身的能量看病。因為功就是能量,是靈體,是很不容易積存起來的,把這個功打出去就是在消耗自己。隨著你往外發功,頭上功柱的高度就在縮短、消耗,這是很不值得的。所以,我不主張在功力不高時就去給人看病。無論你的手法有多高,也無非是在消耗自身的能量。

Hữu đích luyện công nhân luyện công thời gian bất trường, tựu tưởng cấp nhân trị bệnh, khán khán linh bất linh. Đối ư công lực bất cao đích nhân, nhĩ thân thủ nhất thí, tựu bả bệnh nhân thể nội đại lượng đích hắc khí, bệnh khí, trọc khí hấp đáo tự kỷ thân thượng lai liễu. Nhân vi nhĩ một hữu phòng ngự bệnh khí đích năng lực, thân thượng hựu một hữu bảo hộ tráo, dữ bệnh nhân hình thành liễu nhất cá trường, công lực bất cao tựu phòng bị bất liễu, tự kỷ hội cảm đáo ngận nan thụ. Như quả một hữu nhân quản nhĩ, thời gian trường liễu, hội cảo đích hỗn thân thị bệnh. Nhân thử, công lực bất cao đích nhân, bất năng cấp biệt nhân khán bệnh. Trừ phi nhĩ dĩ kinh xuất liễu công năng, tịnh cụ bị liễu nhất định đích công lực, tài năng dụng khí công khán bệnh. Hữu ta nhân tuy nhiên xuất liễu công năng, khả dĩ khán bệnh, đãn tại tầng thứ ngận đê thời, thực tế thị dụng tích tồn đích công lực lai khán bệnh, dụng tự thân đích năng lượng khán bệnh. Nhân vi công tựu thị năng lượng, thị linh thể, thị ngận bất dung dị tích tồn khởi lai đích, bả giá cá công đả xuất khứ tựu thị tại tiêu háo tự kỷ. Tuỳ trước nhĩ vãng ngoại phát công, đầu thượng công trụ đích cao độ tựu tại súc đoản, tiêu háo, giá thị ngận bất trị đắc đích. Sở dĩ, ngã bất chủ trương tại công lực bất cao thời tựu khứ cấp nhân khán bệnh. Vô luận nhĩ đích thủ pháp hữu đa cao, dã vô phi thị tại tiêu háo tự thân đích năng lượng.

Có một số người luyện công mà thời gian luyện công chưa lâu, đã muốn trị bệnh cho người, thử xem có linh nghiệm không. Đối với người công lực không cao, chư vị hễ duỗi tay ra, liền đưa một lượng lớn khí đen, khí bệnh, khí ô trọc từ trong thân thể người bệnh hút lên thân của mình. Vì chư vị chưa có năng lực phòng ngự khí bệnh, trên thân không có lớp chắn bảo hộ, giữa [bản thân] và bệnh nhân hình thành một trường, công lực không cao thì không phòng bị được, bản thân sẽ cảm thấy rất khó chịu. Nếu không có ai quản chư vị, thì qua thời gian lâu, sẽ tạo thành khắp thân là bệnh. Vì thế, người mà công lực không cao, là không thể coi bệnh cho người khác. Trừ phi chư vị đã xuất ra công năng, đã có được công lực nhất định nào đó rồi, thì mới có thể dùng khí công chữa bệnh. Một số người tuy đã xuất công năng rồi, có thể khám bệnh rồi, nhưng khi mà tầng thứ rất thấp, thì thực tế chính là dùng công lực tồn trữ để khám bệnh, dùng năng lượng của tự thân để khám bệnh. Bởi vì công chính là năng lượng, là linh thể, là không hề dễ dàng tích tồn được, mà lại đưa cái công ấy ra thì chính là tiêu hao bản thân mình. Cùng theo việc chư vị phát công ra ngoài, độ cao của công trụ trên đầu sẽ ngắn lại, đang tiêu hao, điều ấy rất là không đáng giá. Do đó, tôi không chủ trương rằng khi công lực chưa cao đã đi chữa bệnh cho người. Vô luận thủ pháp của chư vị cao đến mấy, vẫn là đang tiêu hao năng lượng tự thân.

功力到了一定成度,就會出現各種功能,如何使用這些功能,也需要非常謹慎。比如天目開了,不看也不行,總不用就容易關上。看也不能經常看,看的太多能量泄漏也多。那麼,是不是要大家永遠不用呢?當然不是。如果永遠不用還修煉幹甚麼?問題是在甚麼時候用。只有修煉到一定成度,具備了自我補償能力時,就可以用了。法輪功修煉到一定成度,發出去多少功,法輪可以自動演化補充,自動保持煉功人的功力水平,一時一刻都不會減少,這是法輪功的特點。只有到這時,才能使用功能。

Công lực đáo liễu nhất định thành độ, tựu hội xuất hiện các chủng công năng, như hà sử dụng giá ta công năng, dã nhu yếu phi thường cẩn thận. Tỷ như thiên mục khai liễu, bất khán dã bất hành, tổng bất dụng tựu dung dị quan thượng. Khán dã bất năng kinh thường khán, khán đích thái đa năng lượng tiết lậu dã đa. Na ma, thị bất thị yếu đại gia vĩnh viễn bất dụng ni? Đương nhiên bất thị. Như quả vĩnh viễn bất dụng hài tu luyện cán thậm ma? Vấn đề thị tại thậm ma thời hậu dụng. Chỉ hữu tu luyện đáo nhất định thành độ, cụ bị liễu tự ngã bổ thường năng lực thời, tựu khả dĩ dụng liễu. Pháp Luân Công tu luyện đáo nhất định thành độ, phát xuất khứ đa thiểu công, Pháp Luân khả dĩ tự động diễn hoá bổ sung, tự động bảo trì luyện công nhân đích công lực thuỷ bình, nhất thời nhất khắc đô bất hội giảm thiểu, giá thị Pháp Luân Công đích đặc điểm. Chỉ hữu đáo giá thời, tài năng sử dụng công năng.

Công lực đến một trình độ nhất định, sẽ xuất hiện các loại công năng, sử dụng công năng đó ra sao, cũng phải hết sức cẩn thận. Chẳng hạn thiên mục khai mở rồi, không nhìn cũng không được, [vì] luôn luôn không dùng sẽ dễ bị đóng lại. Mà nhìn thì cũng không thể thường xuyên nhìn, [vì] nhìn nhiều quá thì năng lượng tiết ra cũng sẽ nhiều. Như vậy, phải chăng muốn mọi người vĩnh viễn không dùng? Tất nhiên không phải thế. Nếu vĩnh viễn không dùng thì tu luyện để làm chi? Vấn đề là khi nào dùng. Chỉ có tu luyện tới một trình độ nhất định, khi đã có năng lực tự bản thân mình bồi bổ, thì có thể dùng. Tu luyện Pháp Luân Công khi đến một trình độ nhất định, phát xuất ra bao nhiêu công, thì Pháp Luân có thể tự động diễn hoá để bổ sung, tự động bảo trì mức độ công lực của người luyện công, từng thời từng khắc sẽ không bị ít đi, đây là đặc điểm của Pháp Luân Công. Chỉ tới lúc đó, mới có thể sử dụng công năng.

四、天目

Tứ, thiên mục

IV. Thiên mục

(一)開天目

(Nhất) Khai thiên mục

1. Khai thiên mục

天目的主要通道在前額中間至山根處。常人用肉眼看物就如同一部照像機的原理一樣,隨著距離的遠近和光線的強弱,通過調整玻璃體或瞳孔的大小,使圖象通過神經元在大腦後半部的松果體上成象。特異功能的透視就是通過天目直接使松果體向外看。一般人的天目不通,主通道的位置上縫隙很窄、很黑,裏面沒有靈氣,不發光。有些人是堵塞的,所以看不見。

Thiên mục đích chủ yếu thông đạo tại tiền ngạch trung gian chí sơn căn xứ. Thường nhân dụng nhục nhãn khán vật tựu như đồng nhất bộ chiếu tượng cơ đích nguyên lý nhất dạng, tuỳ trước cự ly đích viễn cận hoà quang tuyến đích cường nhược, thông quá điều chỉnh pha ly thể hoặc đồng khổng đích đại tiểu, sử đồ tượng thông quá thần kinh nguyên tại đại não hậu bán bộ đích tùng quả thể thượng thành tượng. Đặc dị công năng đích thấu thị tựu thị thông quá thiên mục trực tiếp sử tùng quả thể hướng ngoại khán. Nhất ban nhân đích thiên mục bất thông, chủ thông đạo đích vị trí thượng phùng khích ngận trách, ngận hắc, lý diện một hữu linh khí, bất phát quang. Hữu ta nhân thị đổ tắc đích, sở dĩ khán bất kiến.

Đường thông chủ yếu của thiên mục là ở quãng giữa trước trán và sơn căn. Người thường dùng cặp mắt thịt nhìn các vật là đồng dạng như nguyên lý của máy ảnh, tuỳ theo cự ly xa gần và ánh sáng mạnh yếu, mà thông qua điều chỉnh thuỷ tinh thể hoặc là con ngươi lớn nhỏ, khiến cho hình tượng thông qua dây thần kinh mà truyền tạo hình ảnh lên thể tùng quả ở phía nửa sau bộ não. Công năng đặc dị ‘thấu thị’ chính là thông qua thiên mục mà trực tiếp để cho thể tùng quả nhìn ra ngoài. Một người bình thường thì thiên mục không thông, ở vị trí đường thông chính được tách mở ra rất hẹp, rất tối, bên trong không có linh khí, không phát quang. Một số người bị tắc nghẽn, do đó nhìn không thấy.

我們開天目,一是通過外力或自己修煉打開通道。每個人的通道形狀不一樣,有橢圓形的、圓形的、菱形的、三角形的,煉的越好可以修的越圓。二是由師父給你一隻眼睛,如果自己修煉就得自己修。三是在天目部位要有精華之氣。

Ngã môn khai thiên mục, nhất thị thông quá ngoại lực hoặc tự kỷ tu luyện đả khai thông đạo. Mỗi cá nhân đích thông đạo hình trạng bất nhất dạng, hữu thoả viên hình đích, viên hình đích, lăng hình đích, tam giác hình đích, luyện đích việt hảo khả dĩ tu đích việt viên. Nhị thị do sư phụ cấp nhĩ nhất chích nhãn tình, như quả tự kỷ tu luyện tựu đắc tự kỷ tu. Tam thị tại thiên mục bộ vị yếu hữu tinh hoa chi khí.

Chúng ta khai mở thiên mục, thứ nhất là thông qua ngoại lực hoặc tự mình tu luyện mà đánh mở ra một đường thông. Đường thông của mỗi cá nhân có hình dạng khác nhau, có hình bầu dục, hình tròn, hình quả trám, hình tam giác, luyện được càng tốt thì có thể tu được càng tròn. Thứ hai là do sư phụ cho chư vị một con mắt, nếu như là bản thân tự tu thì cần phải tự mình tu [thành con mắt đó]. Thứ ba là ở bộ vị thiên mục cần có ‘khí tinh hoa’.

通常我們看東西是通過兩隻眼睛在看,恰恰就是這兩隻眼睛隔住了我們通向另外空間的通道,它起著屏障作用,我們只能看到我們這個物質空間的東西。開天目就是避開這兩隻眼睛在看。到了很高層次後,也可以修出真眼來,就可以用天目的真眼來看或者用山根部位真眼來看。按佛家講:每個汗毛孔都是眼睛,全身都是眼睛。按道家講:每個穴位都是眼睛。但主通道在天目,必須它先開。在傳授班上,我給每個人都下了開天目的東西。由於每個人的身體素質不同,出現的效果也不一樣。有的人看到一個黑洞像深井一樣,這就是天目通道是黑的。有的人看到的是白色通道,如果能看到前面有東西就是要開了。有的人看到有東西在旋轉,這就是師父下的開天目的東西,鑽通天目後就可以看了。有的人天目能看到一隻大眼睛,以為是佛眼,而實際上是他自己的眼睛,這往往是先天根基比較好的人。

Thông thường ngã môn khán đông tây thị thông quá lưỡng chích nhãn tình tại khán, kháp kháp tựu thị giá lưỡng chích nhãn tình cách trụ liễu ngã môn thông hướng lánh ngoại không gian đích thông đạo, tha khởi trước bình chướng tác dụng, ngã môn chỉ năng khán đáo ngã môn giá cá vật chất không gian đích đông tây. Khai thiên mục tựu thị tỵ khai giá lưỡng chích nhãn tình tại khán. Đáo liễu ngận cao tầng thứ hậu, dã khả dĩ tu xuất chân nhãn lai, tựu khả dĩ dụng thiên mục đích chân nhãn lai khán hoặc giả dụng sơn căn bộ vị chân nhãn lai khán. Án Phật gia giảng: mỗi cá hãn mao khổng đô thị nhãn tình, toàn thân đô thị nhãn tình. Án Đạo gia giảng: mỗi cá huyệt vị đô thị nhãn tình. Đãn chủ thông đạo tại thiên mục, tất tu tha tiên khai. Tại truyền thụ ban thượng, ngã cấp mỗi cá nhân đô hạ liễu khai thiên mục đích đông tây. Do ư mỗi cá nhân đích thân thể tố chất bất đồng, xuất hiện đích hiệu quả dã bất nhất dạng. Hữu đích nhân khán đáo nhất cá hắc động tượng thâm tỉnh nhất dạng, giá tựu thị thiên mục thông đạo thị hắc đích. Hữu đích nhân khán đáo đích thị bạch sắc thông đạo, như quả năng khán đáo tiền diện hữu đông tây tựu thị yếu khai liễu. Hữu đích nhân khán đáo hữu đông tây tại toàn chuyển, giá tựu thị Sư phụ hạ đích khai thiên mục đích đông tây, toàn thông thiên mục hậu tựu khả dĩ khán liễu. Hữu đích nhân thiên mục năng khán đáo nhất chích đại nhãn tình, dĩ vi thị Phật nhãn, nhi thực tế thượng thị tha tự kỷ đích nhãn tình, giá vãng vãng thị tiên thiên căn cơ tỷ giảo hảo đích nhân.

Thông thường chúng ta nhìn các thứ là thông qua cặp mắt này để nhìn, chính là cặp mắt này đã cách trở chúng ta thông hướng sang đường thông [nhìn] không gian khác, nó có tác dụng che chắn, và chúng ta chỉ có thể thấy những gì ở không gian vật chất này của chúng ta. Khai thiên mục chính là tránh khỏi cặp mắt này để nhìn. Sau khi tới tầng thứ rất cao, cũng có thể tu xuất ‘chân nhãn’, chính là có thể dùng chân nhãn của thiên mục để nhìn hoặc dùng chân nhãn vị trí sơn căn để nhìn. Theo Phật gia giảng: mỗi lỗ chân lông đều là con mắt, toàn thân đều là con mắt. Chiểu theo Đạo gia giảng: mỗi huyệt vị đều là con mắt. Nhưng đường thông chính ở thiên mục, cần khai mở nó trước tiên. Trên lớp truyền thụ, tôi đều cài cho mỗi người những gì để khai thiên mục. Vì mỗi người tố chất thân thể khác nhau, nên hiệu quả xuất hiện cũng khác nhau. Có người nhìn thấy một hắc động tựa như một cái giếng sâu, vậy là đường thông của thiên mục là tối đen. Có người nhìn thấy thông đạo màu trắng, còn nếu nhìn thấy trước mặt có gì đó thì tức là sắp khai mở rồi. Có người nhìn thấy có gì đó đang xoay chuyển, đó chính là thứ mà Sư phụ đã cài vào để khai thiên mục, sau khi xoáy thông toàn bộ thiên mục thì có thể nhìn được rồi. Có người thiên mục có thể nhìn nhấy một con mắt lớn, bèn cho đó là ‘mắt Phật’, thực ra đó là con mắt của chính họ, đây thường là những người có căn cơ tiên thiên tương đối tốt.

據我們統計,每次辦班開天目的人都在半數以上。因為天目打開之後就涉及一個問題:心性不高的人他容易用它來做壞事。為了防止這個問題,我把你的天目直接打到慧眼通的層次上,也就是說打到高層次上去,讓你直接看到另外空間的景象,讓你看到在煉功中出現的東西,使你相信它,會增強你煉功的信心。剛剛開始煉功的人,心性還不能達到超常人的高度,一旦具備了超常人的東西,就容易去做一些不好的事情。舉個例子說個笑話,如果你走在大街上發現那個摸獎券的,可能那個一等獎都得叫你摸去,就講這個意思,是不允許這樣做的。另一個原因,我們這裏也是屬於大面積的開天目,假如都給開在低層次上,大家想一想,如果每個人都能透視人體,都能隔牆看物,我說那是人類社會嗎?嚴重的干擾了常人社會的狀態,所以是不允許的,也是不能夠這樣做的,而且對煉功人也沒有好處,助長煉功人的執著心。所以不給你打到低層次上,而直接給你打到高層次上去。

Cứ ngã môn thống kế, mỗi thứ biện ban khai thiên mục đích nhân đô tại bán số dĩ thượng. Nhân vi thiên mục đả khai chi hậu tựu thiệp cập nhất cá vấn đề: tâm tính bất cao đích nhân tha dung dị dụng tha lai tố hoại sự. Vi liễu phòng chỉ giá cá vấn đề, ngã bả nhĩ đích thiên mục trực tiếp đả đáo huệ nhãn thông đích tầng thứ thượng, dã tựu thị thuyết đả đáo cao tầng thứ thượng khứ, nhượng nhĩ trực tiếp khán đáo lánh ngoại không gian đích cảnh tượng, nhượng nhĩ khán đáo tại luyện công trung xuất hiện đích đông tây, sử nhĩ tương tín tha, hội tăng cường nhĩ luyện công đích tín tâm. Cương cương khai thuỷ luyện công đích nhân, tâm tính hài bất năng đạt đáo siêu thường nhân đích cao độ, nhất đán cụ bị liễu siêu thường nhân đích đông tây, tựu dung dị khứ tố nhất ta bất hảo đích sự tình. Cử cá lệ tử thuyết cá tiếu thoại, như quả nhĩ tẩu tại đại nhai thượng phát hiện na cá mô tưởng khoán đích, khả năng na cá nhất đẳng tưởng đô đắc khiếu nhĩ mô khứ, tựu giảng giá cá ý tư, thị bất duẫn hứa giá dạng tố đích. Lánh nhất cá nguyên nhân, ngã môn giá lý dã thị thuộc ư đại diện tích đích khai thiên mục, giả như đô cấp khai tại đê tầng thứ thượng, đại gia tưởng nhất tưởng, như quả mỗi cá nhân đô năng thấu thị nhân thể, đô năng cách tường khán vật, ngã thuyết na thị nhân loại xã hội ma? Nghiêm trọng đích can nhiễu liễu thường nhân xã hội đích trạng thái, sở dĩ thị bất duẫn hứa đích, dã thị bất năng cú giá dạng tố đích, nhi thả đối luyện công nhân dã một hữu hảo xứ, trợ trưởng luyện công nhân đích chấp trước tâm. Sở dĩ bất cấp nhĩ đả đáo đê tầng thứ thượng, nhi trực tiếp cấp nhĩ đả đáo cao tầng thứ thượng khứ.

Theo chúng tôi thống kê, mỗi lần mở lớp thì số người khai mở thiên mục đều hơn một nửa. Vì thiên mục sau khi khai mở liền động chạm một vấn đề: người tâm tính không cao dễ dùng nó để làm điều xấu. Để phòng ngừa vấn đề đó, tôi trực tiếp đánh khai thiên mục của chư vị tới tầng thứ ‘huệ nhãn thông’, nghĩa là tới tầng thứ cao, để chư vị trực tiếp nhìn thấy cảnh tượng không gian khác, để chư vị nhìn thấy những gì xuất hiện trong luyện công, để chư vị tin tưởng, sẽ tăng cường tín tâm vào luyện công cho chư vị. Người vừa mới bắt đầu luyện công, tâm tính vẫn chưa thể đạt tới độ cao vượt khỏi người thường, một khi có được những thứ siêu việt người thường này, sẽ dễ đi làm một số việc bất hảo. Ví dụ nói đùa thế này, nếu chư vị đi ngoài đường phát hiện ra đang bán vé số, có thể chư vị sẽ cầm ngay vé giải nhất, là nói ý tứ như thế, ấy là không cho phép làm vậy. Một nguyên nhân khác, chúng ta ở đây cũng thuộc về khai thiên mục cho diện rộng, nếu giả sử đều khai mở ở tầng thứ thấp, mọi người thử nghĩ xem, nếu mỗi người đều có thể ‘thấu thị nhân thể’, đều có thể ‘cách tường khán vật’, tôi thử hỏi còn là xã hội nhân loại chăng? Can nhiễu nghiêm trọng trạng thái xã hội người thường, do đó không được phép, cũng là không thể làm như thế được, ngoài ra đối với người luyện công cũng không có chỗ gì tốt, làm tăng trưởng tâm chấp trước của người luyện công. Do đó không đả khai cho chư vị ở tầng thứ thấp, mà trực tiếp đả khai cho chư vị tới tầng thứ cao.

(二)天目的層次

(Nhị) Thiên mục đích tầng thứ

2. Tầng thứ của thiên mục

天目具有多種層次。其層次不同,所看到的空間也不相同。按佛教所說有「五通」,即肉眼通、天眼通、慧眼通、法眼通、佛眼通。每一層次還有上、中、下之分。在天眼通以下的層次,只能看到我們這個物質世界。在慧眼通以上的層次,才可以看到其它空間。有些人具有透視功能,而且看的很準確,比「CT」掃描還清楚。但他看到的依然是我們這個物質世界,還沒有超出我們存在的空間,還不算天目的高層次。

Thiên mục cụ hữu đa chủng tầng thứ. Kỳ tầng thứ bất đồng, sở khán đáo đích không gian dã bất tương đồng. Án Phật giáo sở thuyết hữu “ngũ thông”, tức nhục nhãn thông, thiên nhãn thông, huệ nhãn thông, Pháp nhãn thông, Phật nhãn thông. Mỗi nhất tầng thứ hài hữu thượng, trung, hạ chi phân. Tại thiên nhãn thông dĩ hạ đích tầng thứ, chỉ năng khán đáo ngã môn giá cá vật chất thế giới. Tại huệ nhãn thông dĩ thượng đích tầng thứ, tài khả dĩ khán đáo kỳ tha không gian. Hữu ta nhân cụ hữu thấu thị công năng, nhi thả khán đích ngận chuẩn xác, tỷ “CT” tảo miêu hài thanh sở. Đãn tha khán đáo đích y nhiên thị ngã môn giá cá vật chất thế giới, hài một hữu siêu xuất ngã môn tồn tại đích không gian, hài bất toán thiên mục đích cao tầng thứ.

Thiên mục có nhiều loại tầng thứ. Tầng thứ khác nhau, không gian nhìn được cũng khác nhau. Theo “ngũ thông” mà Phật giáo giảng, tức là nhục nhãn thông, thiên nhãn thông, huệ nhãn thông, Pháp nhãn thông, và Phật nhãn thông. Mỗi tầng thứ còn có phân ra thượng, trung, hạ. Ở tầng thứ thiên nhãn thông trở xuống, chỉ có thể nhìn thấy thế giới vật chất này của chúng ta. Tại tầng thứ huệ nhãn thông trở lên, mới có thể nhìn thấy các không gian khác. Một số người có công năng ‘thấu thị’, hơn nữa nhìn rất chuẩn xác, còn rõ ràng hơn cả quét ảnh cắt lớp “CT”. Nhưng điều họ thấy vẫn là thế giới vật chất chúng ta này thôi, vẫn không vượt khỏi không gian mà chúng ta đang tồn tại, vẫn không tính là thiên mục có tầng thứ cao.

一個人天目的層次有多高是由這個人的精華之氣的多少和主通道的寬窄、亮度以及通道的堵塞成度決定的。天目開的透不透,內部精華之氣是關鍵因素。對於六歲以下的小孩,開天目是特別容易的,我都不用動手,我一說他就打開了。因為小孩先天受物質世界的不良影響很小,自己也沒做甚麼壞事,那種先天的精華之氣保存的非常好。六歲以上的小孩,天目逐漸難開,是因為隨著年齡的增長,受到的外界影響增加。特別是不良的後天教育,放縱變壞都可以使他的精華之氣消散,到一定成度就可能散盡了。對於精華之氣散盡的人,是可以通過後天煉功逐漸彌補的,但要花很長時間,要付出很多的辛苦。所以說,精華之氣是極其珍貴的。

Nhất cá nhân thiên mục đích tầng thứ hữu đa cao thị do giá cá nhân đích tinh hoa chi khí đích đa thiểu hoà chủ thông đạo đích khoan trách, lượng độ dĩ cập thông đạo đích đổ tắc thành độ quyết định đích. Thiên mục khai đích thấu bất thấu, nội bộ tinh hoa chi khí thị quan kiện nhân tố. Đối ư lục tuế dĩ hạ đích tiểu hài, khai thiên mục thị đặc biệt dung dị đích, ngã đô bất dụng động thủ, ngã nhất thuyết tha tựu đả khai liễu. Nhân vi tiểu hài tiên thiên thụ vật chất thế giới đích bất lương ảnh hưởng ngận tiểu, tự kỷ dã một tố thậm ma hoại sự, na chủng tiên thiên đích tinh hoa chi khí bảo tồn đích phi thường hảo. Lục tuế dĩ thượng đích tiểu hài, thiên mục trục tiệm nan khai, thị nhân vi tuỳ trước niên linh đích tăng trưởng, thụ đáo đích ngoại giới ảnh hưởng tăng gia. Đặc biệt thị bất lương đích hậu thiên giáo dục, phóng túng biến hoại đô khả dĩ sử tha đích tinh hoa chi khí tiêu tán, đáo nhất định thành độ tựu khả năng tán tận liễu. Đối ư tinh hoa chi khí tán tận đích nhân, thị khả dĩ thông quá hậu thiên luyện công trục tiệm di bổ đích, đãn yếu hoa ngận trường thời gian, yếu phó xuất ngận đa đích tân khổ. Sở dĩ thuyết, tinh hoa chi khí thị cực kỳ trân quý đích.

Một người có tầng thứ thiên mục cao ngần nào là quyết định bởi người đó có khí tinh hoa nhiều hay ít và đường thông chính rộng hay hẹp, độ sáng cũng như mức độ tắc nghẽn của đường thông. Thiên mục khai mở có thấu hay không, thì khí tinh hoa ở trong đó là nhân tố then chốt. Đối với em bé sáu tuổi trở xuống, khai thiên mục hết sức dễ dàng, tôi chẳng cần dùng thủ pháp, tôi nói một cái thì bé đã đả khai rồi. Là vì tiên thiên của trẻ tiếp thụ rất ít ảnh hưởng không lành mạnh của thế giới vật chất này, bản thân cũng chưa làm chuyện gì xấu, loại khí tinh hoa tiên thiên kia được bảo tồn tốt lắm. Trẻ nhỏ sáu tuổi trở lên, thì thiên mục dần dần khó khai mở hơn, bởi vì thuận theo tuổi tăng lên, tiếp thụ ảnh hưởng từ bên ngoài cũng gia tăng. Nhất là giáo dục không lành mạnh hậu thiên, phóng túng trở thành xấu có thể khiến khí tinh hoa của họ tiêu tán, đến một mức nhất định có thể tản hết. Đối với người mà khí tinh hoa đã tản hết, là có thể thông qua tu luyện hậu thiên mà bù đắp dần dần, nhưng phải mất thời gian rất lâu, phải phó xuất khổ cực rất nhiều. Vậy nên nói, khí tinh hoa là cực kỳ trân quý.

我不主張給人的天目開在天眼通的層次上,因為在煉功人功力不大的時候,煉功中積攢的能量還不如透視時付出的能量多。靈氣散失多了,天目可能會再度關閉,一旦關閉後再開就不容易了。所以,我一般為人開天目是開在慧眼通的層次上。不管看的清楚與否,可以使修煉者看到另外空間的東西。受先天條件的影響,有人看的很清楚;有人看到的東西忽隱忽現;有人看不清楚,但最低可以使你看到光。這樣,對於煉功者向高層次發展是有好處的,看不清楚可以通過煉功後天彌補。

Ngã bất chủ trương cấp nhân đích thiên mục khai tại thiên nhãn thông đích tầng thứ thượng, nhân vi tại luyện công nhân công lực bất đại đích thời hậu, luyện công trung tích toàn đích năng lượng hài bất như thấu thị thời phó xuất đích năng lượng đa. Linh khí tản thất đa liễu, thiên mục khả năng hội tái độ quan bế, nhất đán quan bế hậu tái khai tựu bất dung dị liễu. Sở dĩ, ngã nhất ban vi nhân khai thiên mục thị khai tại huệ nhãn thông đích tầng thứ thượng. Bất quản khán đích thanh sở dữ phủ, khả dĩ sử tu luyện giả khán đáo lánh ngoại không gian đích đông tây. Thụ tiên thiên điều kiện đích ảnh hưởng, hữu nhân khán đích ngận thanh sở; hữu nhân khán đáo đích đông tây hốt ẩn hốt hiện; hữu nhân khán bất thanh sở, đãn tối đê khả dĩ sử nhĩ khán đáo quang. Giá dạng, đối ư luyện công giả hướng cao tầng thứ phát triển thị hữu hảo xứ đích, khán bất thanh sở khả dĩ thông quá luyện công hậu thiên di bổ.

Tôi không chủ trương khai thiên mục cho người ở tầng thứ thiên nhãn thông, vì người luyện công khi mà công lực không lớn, thì trong luyện công năng lượng tích tụ không nhiều kịp với năng lượng phải phó xuất khi thấu thị. Linh khí tản mất nhiều rồi, thiên mục có thể sẽ bị đóng trở lại, một khi đóng lại rồi thì khai mở lại sẽ không hề dễ dàng. Vì thế, thường thường tôi khai thiên mục cho người là khai mở ở tầng thứ huệ nhãn thông. Dù chư vị nhìn được rõ ràng hay không, đều có thể khiến người tu luyện nhìn tới gì đó ở không gian khác. Chịu ảnh hưởng của điều kiện tiên thiên, có người nhìn được rất rõ ràng; có người mà điều nhìn thấy chợt ẩn chợt hiện; có người nhìn chẳng rõ ràng, nhưng thấp nhất là có thể khiến chư vị nhìn thấy ánh sáng. Như vậy thì đối với người luyện công phát triển hướng tới tầng thứ cao là có chỗ tốt, nhìn không rõ ràng thì có thể thông qua luyện công hậu thiên mà bù đắp.

精華之氣不足的人,天目看的景象是黑白的;精華之氣較多的人,天目看的景象是彩色的,所看到的景象也更清晰。精華之氣越多,清晰度越好。但是,每個人都不一樣,有的人天目生來就是開的,有的人則堵塞的比較嚴實。天目開時的景象,有點像花朵開放一樣,一層一層的開。打坐時,開始發現天目有一團光,開始光不太亮,以後又會變紅。有的人天目封閉的緊,開時反應可能很劇烈。會感到主通道和山根處肌肉發緊,好像那裏的肉聚在一起往裏鑽,太陽穴和前額發漲、發痛,這都是開天目的反應。天目容易開的人,偶然間可能看到某些東西。在傳授班上有人無意中看到了我的法身,當他有意看時又沒有了,其實是用了眼睛看了。當閉目時看到甚麼,就始終保持那個狀態,漸漸就可以看的清楚些。若想仔細看,其實就是動了眼睛了,走了視神經了,就看不到了。

Tinh hoa chi khí bất túc đích nhân, thiên mục khán đích cảnh tượng thị hắc bạch đích; tinh hoa chi khí giảo đa đích nhân, thiên mục khán đích cảnh tượng thị thải sắc đích, sở khán đáo đích cảnh tượng dã cánh thanh tích. Tinh hoa chi khí việt đa, thanh tích độ việt hảo. Đãn thị, mỗi cá nhân đô bất nhất dạng, hữu đích nhân thiên mục sinh lai tựu thị khai đích, hữu đích nhân tắc đổ tắc đích tỷ giảo nghiêm thực. Thiên mục khai thời đích cảnh tượng, hữu điểm tượng hoa đoá khai phóng nhất dạng, nhất tầng nhất tầng đích khai. Đả toạ thời, khai thuỷ phát hiện thiên mục hữu nhất đoàn quang, khai thuỷ quang bất thái lượng, dĩ hậu hựu hội biến hồng. Hữu đích nhân thiên mục phong bế đích khẩn, khai thời phản ưng khả năng ngận kịch liệt. Hội cảm đáo chủ thông đạo hoà sơn căn xứ cơ nhục phát khẩn, hảo tượng na lý đích nhục tụ tại nhất khởi vãng lý toàn, thái dương huyệt hoà tiền ngạch phát trướng, phát thống, giá đô thị khai thiên mục đích phản ưng. Thiên mục dung dị khai đích nhân, ngẫu nhiên gian khả năng khán đáo mỗ ta đông tây. Tại truyền thụ ban thượng hữu nhân vô ý trung khán đáo liễu ngã đích Pháp thân, đương tha hữu ý khán thời hựu một hữu liễu, kỳ thực thị dụng liễu nhãn tình khán liễu. Đương bế mục thời khán đáo thậm ma, tựu thuỷ chung bảo trì na cá trạng thái, tiệm tiệm tựu khả dĩ khán đích thanh sở ta. Nhược tưởng tử tế khán, kỳ thực tựu thị động liễu nhãn tình liễu, tẩu liễu thị thần kinh liễu, tựu khán bất đáo liễu.

Người có khí tinh hoa không đủ, cảnh tượng thiên mục nhìn thấy là đen-trắng; người có khí tinh hoa tương đối nhiều, cảnh tượng thiên mục nhìn thấy có màu, cảnh tượng nhìn thấy cũng rõ ràng hơn. Khí tinh hoa càng nhiều, độ rõ ràng càng cao. Tuy nhiên, mỗi người một khác, có người khi sinh ra thiên mục đã mở rồi, có người bị đóng tắc khá là chặt. Cảnh tượng khi thiên mục khai mở, có chút giống như hoa nở, nở ra từng tầng từng tầng. Khi ngồi đả toạ, bắt đầu phát hiện thiên mục có một đoàn ánh sáng, ban đầu ánh sáng không sáng lắm, sau đó đỏ lên. Có người thiên mục bế tắc khá chặt, khi khai mở thì có thể là phản ứng rất kịch liệt. Sẽ cảm thấy đường thông chính và chỗ sơn căn thịt căng lên, giống hệt như thịt chỗ đó tụ lại xoáy vào trong, huyệt thái dương và trước trán phát trướng lên và đau, đó đều là phản ứng khai thiên mục. Người mà thiên mục dễ khai mở, ngẫu nhiên có thể thấy gì đó. Tại lớp truyền thụ có người trong lúc vô ý nhìn thấy Pháp thân của tôi, khi họ cố ý nhìn thì lại không thấy nữa, thực ra là vì dùng sang mắt [thịt] để nhìn rồi. Khi nhắm mắt và thấy gì đó, bèn thuỷ chung bảo trì trạng thái đó, dần dần có thể thấy được rõ hơn. Khi định nhìn chi tiết hơn, kỳ thực chính là động sang con mắt [thịt] này rồi, chạy sang dây thần kinh thị giác rồi, thì không nhìn thấy nữa.

天目層次不同所看到的空間也不同,有的科研部門不懂得這個道理,使的有些氣功試驗達不到預期的效果,甚至會出現相反的結果。比如,有個單位設計了一種測試特異功能的方法,讓氣功師看一個密封的盒子裏有甚麼東西。由於氣功師的天目層次不同,所回答的結果也各不相同,為此,測試人員認為天目是假的,是騙人的。這樣測試往往是天目層次低的人透視的效果好,因為他的天目只開在天眼通的層次上,只適宜觀察物質空間的事物,所以不懂天目的人認為他的功能最高。任何物體,不論它是有機物還是無機物,在不同空間將顯示不同的樣子。比如一個杯子,當它做出來時,就同時有一個靈體存在於另一個空間了,而且這個靈體存在之前還可能是別的東西。天目層次最低的看見是杯子;高一層的看的是另外空間的那個靈體;再高一些看的是那個靈體之前的物質形式。

Thiên mục tầng thứ bất đồng sở khán đáo đích không gian dã bất đồng, hữu đích khoa nghiên bộ môn bất đổng đắc giá cá đạo lý, sử đích hữu ta khí công thí nghiệm đạt bất đáo dự kỳ đích hiệu quả, thậm chí hội xuất hiện tương phản đích kết quả. Tỷ như, hữu cá đơn vị thiết kế liễu nhất chủng trắc thí đặc dị công năng đích phương pháp, nhượng khí công sư khán nhất cá mật phong đích hạp tử lý hữu thậm ma đông tây. Do ư khí công sư đích thiên mục tầng thứ bất đồng, sở hồi đáp đích kết quả dã các bất tương đồng, vi thử, trắc thí nhân viên nhận vi thiên mục thị giả đích, thị biển nhân đích. Giá dạng trắc thí vãng vãng thị thiên mục tầng thứ đê đích nhân thấu thị đích hiệu quả hảo, nhân vi tha đích thiên mục chỉ khai tại thiên nhãn thông đích tầng thứ thượng, chỉ thích nghi quan sát vật chất không gian đích sự vật, sở dĩ bất đổng thiên mục đích nhân nhận vi tha đích công năng tối cao. Nhậm hà vật thể, bất luận tha thị hữu cơ vật hài thị vô cơ vật, tại bất đồng không gian tương hiển thị bất đồng đích dạng tử. Tỷ như nhất cá bôi tử, đương tha tố xuất lai thời, tựu đồng thời hữu nhất cá linh thể tồn tại ư lánh nhất cá không gian liễu, nhi thả giá cá linh thể tồn tại chi tiền hài khả năng thị biệt đích đông tây. Thiên mục tầng thứ tối đê đích khán kiến thị bôi tử; cao nhất tầng đích khán đích thị lánh ngoại không gian đích na cá linh thể; tái cao nhất ta khán đích thị na cá linh thể chi tiền đích vật chất hình thức.

Tầng thứ thiên mục khác nhau thì không gian nhìn thấy cũng khác nhau, có những khoa nghiên cứu [vì] không hiểu đạo lý này, khiến những khí công sư thí nghiệm không đạt hiệu quả dự kiến, thậm chí xuất hiện những kết quả tương phản. Ví như, có một đơn vị định kế hoạch ra một phương pháp trắc nghiệm công năng đặc dị, để khí công sư nhìn xem trong một cái hộp kín có gì. Vì tầng thứ thiên mục của các khí công sư là khác nhau, nên kết quả trả lời cũng không tương đồng, vì thế, nhân viên trắc nghiệm bèn cho rằng thiên mục là giả, là gạt người. Loại trắc nghiệm này thì người có thiên mục tầng thứ thấp ‘thấu thị’ là hiệu quả tốt, vì thiên mục của họ chỉ khai mở ở tầng thứ thiên nhãn thông, chỉ thích nghi cho quan sát sự vật ở không gian vật chất này, do đó người mà không hiểu thiên mục lại tưởng rằng công năng của họ là cao nhất. Bất kể vật thể nào, vô luận nó là vật hữu cơ hay vật vô cơ, thì ở các không gian khác nhau đều hiển thị các dạng khác nhau. Ví dụ một cái cốc, khi nó được sản xuất ra, thì đồng thời có một linh thể tồn tại ở một không gian khác, hơn nữa linh thể ấy trước khi tồn tại [trong cái cốc] có thể đã từng là thứ khác. Tầng thứ thiên mục thấp nhất thì nhìn thấy cái cốc; ở một tầng cao hơn thì nhìn thấy linh thể kia ở không gian khác, ở một tầng cao hơn nữa thì thấy hình thức vật chất từ trước đó của linh thể ấy.

(三)遙視

(Tam) Dao thị

3. Dao thị

天目開了之後,有人會出現遙視,能夠看到遠隔千里之外的東西。每個人都有其自己佔據的空間,在這個空間中他像個宇宙大小,在他特定空間,他額前有面鏡子,在我們這個空間看不到。這面鏡子每個人都有,只是不煉功的人這面鏡子是扣著的;煉功的人這面鏡子逐漸翻過來。翻過來後就能照射到他所要看的東西。在他特定空間,他是相當大的,其身軀很大,這面鏡子也就很大,想看甚麼鏡子就能照到。但照到了他還看不見,圖象還應停留在鏡子上一瞬間。鏡子會翻轉,把照到的物體讓你看一眼又翻過去,很快的再翻過去,不停的翻轉。電影膠片是每秒鐘二十四個格就能看到連續動作。鏡子的翻轉速度比這個還快,所以看起來是連貫的,看的很清楚,這就是遙視。遙視的道理就這麼簡單。這都是密中之密,我幾句話就把它說出來了。

Thiên mục khai liễu chi hậu, hữu nhân hội xuất hiện dao thị, năng cú khán đáo viễn cách thiên lý chi ngoại đích đông tây. Mỗi cá nhân đô hữu kỳ tự kỷ chiếm cứ đích không gian, tại giá cá không gian trung tha tượng cá vũ trụ đại tiểu, tại tha đặc định không gian, tha ngạch tiền hữu diện kính tử, tại ngã môn giá cá không gian khán bất đáo. Giá diện kính tử mỗi cá nhân đô hữu, chỉ thị bất luyện công đích nhân giá diện kính tử thị khấu trước đích; luyện công đích nhân giá diện kính tử trục tiệm phiên quá lai. Phiên quá lai hậu tựu năng chiếu xạ đáo tha sở yếu khán đích đông tây. Tại tha đặc định không gian, tha thị tương đương đại đích, kỳ thân khu ngận đại, giá diện kính tử dã tựu ngận đại, tưởng khán thậm ma kính tử tựu năng chiếu đáo. Đãn chiếu đáo liễu tha hài khán bất kiến, đồ tượng hài ưng đình lưu tại kính tử thượng nhất thuấn gian. Kính tử hội phiên chuyển, bả chiếu đáo đích vật thể nhượng nhĩ khán nhất nhãn hựu phiên quá khứ, ngận khoái đích tái phiên quá khứ, bất đình đích phiên chuyển. Điện ảnh giao phiến thị mỗi miễu chung nhị thập tứ cá cách tựu năng khán đáo liên tục động tác. Kính tử đích phiên chuyển tốc độ tỷ giá cá hài khoái, sở dĩ khán khởi lai thị liên quán đích, khán đích ngận thanh sở, giá tựu thị dao thị. Dao thị đích đạo lý tựu giá ma giản đơn. Giá đô thị mật trung chi mật, ngã kỷ cú thoại tựu bả tha thuyết xuất lai liễu.

Sau khi khai thiên mục, có người xuất hiện ‘dao thị’, có thể nhìn thấy những thứ cách xa nghìn dặm. Mỗi người đều có một không gian do riêng mình chiếm cứ, trong không gian ấy họ lớn tựa như vũ trụ vậy, trong không gian đặc định của họ, ở trước trán họ có một chiếc gương, mà ở không gian chúng ta đây thì không nhìn thấy. Ai cũng có chiếc gương đó, chỉ là người không luyện công thì mặt gương này bị úp lại; người luyện công thì mặt gương này dần dần lật qua. Sau khi lật thì có thể chiếu xạ những gì mà họ muốn nhìn. Trong không gian đặc định của họ, thì họ khá to lớn, thân thể họ rất là lớn, và mặt gương ấy cũng rất to lớn, muốn nhìn gì thì mặt kính đó đều có thể chiếu tới. Nhưng chiếu tới rồi họ vẫn chưa nhìn thấy được, hình tượng vẫn là dừng ở trên mặt kính ở trong tích tắc đó. Khi mặt kính chuyển lật, đưa những vật thể chiếu xạ ấy cho chư vị nhìn một cái rồi lại lật qua, rất nhanh chóng liền lật qua, không ngừng lật qua lật lại. Phim điện ảnh mỗi giây 24 hình thì nhìn là động tác liên tục. Tốc độ lật của gương còn nhanh hơn thế, do đó nhìn thì thấy là liên tục, nhìn được rất rõ ràng, đây chính là dao thị. Đạo lý của dao thị chính là đơn giản vậy. Đó vốn là bí mật trong bí mật, tôi qua mấy lời là nói điều ấy ra rồi.

(四)空間

(Tứ) Không gian

4. Không gian

空間,我們看它是很複雜的。我們人類只知道現在人類存在的空間,其它空間還無法探測出來。對另外空間,我們氣功師已看到幾十層次空間,從理論上也能解釋出來,但在科學上還無法證實。有些東西儘管你不承認它存在,而它實實在在的反映到我們空間來了。比如說,世界上有個地方叫百慕大群島,人稱魔鬼三角,有的船到那兒就沒了;有的飛機到那兒就沒了,過多少年之後又出現了。誰也解釋不了這個原因,誰也沒有跑出現有人類思維的理論。實際上它就是通到另一空間的通道。它不像我們這扇門似的正規的有個門,它那個陰差陽錯的就是那個狀態,船要趕上這個陰差陽錯門錯開了,它就容易進去。人感受不到這個空間差,瞬間就進去了,它和我們的時空差,不能用里程來表示,十萬八千里那麼遠,在這兒就那麼一點,就是同時同地存在。船進去晃盪那麼一會兒,陰差陽錯又出來了,可是世上已過幾十年了,因為兩個空間的時間不一樣。每個空間裏還有單元世界,就像我們畫原子結構圖似的,一個球中間一根連線,七叉八叉都是球,都有連線,是很複雜的。

Không gian, ngã môn khán tha thị ngận phức tạp đích. Ngã môn nhân loại chỉ tri đạo hiện tại nhân loại tồn tại đích không gian, kỳ tha không gian hài vô pháp thám trắc xuất lai. Đối lánh ngoại không gian, ngã môn khí công sư dĩ khán đáo kỷ thập tầng thứ không gian, tùng lý luận thượng dã năng giải thích xuất lai, đãn tại khoa học thượng hài vô pháp chứng thực. Hữu ta đông tây tận quản nhĩ bất thừa nhận tha tồn tại, nhi tha thực thực tại tại đích phản ánh đáo ngã môn không gian lai liễu. Tỷ như thuyết, thế giới thượng hữu cá địa phương khiếu Bách Mộ Đại quần đảo, nhân xưng ma quỷ tam giác, hữu đích thuyền đáo na nhi tựu một liễu; hữu đích phi cơ đáo na nhi tựu một liễu, quá đa thiểu niên chi hậu hựu xuất hiện liễu. Thuỳ dã giải thích bất liễu giá cá nguyên nhân, thuỳ dã một hữu bào xuất hiện hữu nhân loại tư duy đích lý luận. Thực tế thượng tha tựu thị thông đáo lánh nhất không gian đích thông đạo. Tha bất tượng ngã môn giá phiến môn tự đích chính quy đích hữu cá môn, tha na cá âm sai dương thác đích tựu thị na cá trạng thái, thuyền yếu cản thượng giá cá âm sai dương thác môn thác khai liễu, tha tựu dung dị tiến khứ. Nhân cảm thụ bất đáo giá cá không gian sai, thuấn gian tựu tiến khứ liễu, tha hoà ngã môn đích thời không sai, bất năng dụng lý trình lai biểu thị, thập vạn bát thiên lý na ma viễn, tại giá nhi tựu na ma nhất điểm, tựu thị đồng thời đồng địa tồn tại. Thuyền tiến khứ hoảng đãng na ma nhất hội nhi, âm sai dương thác hựu xuất lai liễu, khả thị thế thượng dĩ quá kỷ thập niên liễu, nhân vi lưỡng cá không gian đích thời gian bất nhất dạng. Mỗi cá không gian lý hài hữu đơn nguyên thế giới, tựu tượng ngã môn hoạ nguyên tử kết cấu đồ tự đích, nhất cá cầu trung gian nhất căn liên tuyến, thất xoa bát xoa đô thị cầu, đô hữu liên tuyến, thị ngận phức tạp đích.

Không gian, chúng ta nhìn nó rất phức tạp. Nhân loại chúng ta chỉ biết về không gian mà nhân loại hiện đang tồn tại, các không gian khác là vẫn không cách nào thăm dò ra được. Đối với không gian khác, khí công sư chúng tôi đã nhìn được mấy chục tầng thứ không gian, từ lý luận cũng có thể giải thích được, nhưng về khoa học thì không cách nào chứng thực. Có những điều dù chư vị không thừa nhận sự tồn tại của chúng, nhưng chúng đã phản ánh một cách hết sức thực tại đến không gian chúng ta rồi. Chẳng hạn, trên thế giới có nơi gọi là quần đảo Bermuda, người ta gọi đó là tam giác ma quỷ, một số tàu thuyền đến đó liền biến mất; có những phi cơ đến đó cũng biến mất, trải qua bao nhiêu năm lại xuất hiện. Không ai giải thích được nguyên nhân, không ai vượt ra khỏi lý luận của tư duy mà nhân loại đang có. Trên thực tế nó chính là lối thông sang một không gian khác. Nó không giống như chiếc cửa của chúng ta có cửa một cách chính quy đâu, nó trong tình huống bất thường là ở trạng thái đó, tàu thuyền tiến vào thì cửa đó tình cờ mở ra, dễ bị lọt vào đó. Người ta cảm giác không ra sự sai khác về không gian này, nháy mắt liền tiến vào đó, sự khác biệt của nó với thời-không chúng ta, là không thể dùng cách đo lường bình thường để biểu thị, xa cách mười vạn tám nghìn dặm, thì ở đây chỉ là một điểm, chính là tồn tại một cách đồng thời và ở cùng một chỗ. Tàu thuyền lọt vào đó loanh quanh một hồi, bất chợt lại đi ra, nhưng ở thế gian này có thể đã trôi qua mấy chục năm rồi, vì hai không gian là có thời gian khác nhau. Trong mỗi không gian còn có thế giới đơn nguyên, chính là như hình kết cấu nguyên tử mà chúng ta vẽ, giữa các quả cầu có mối liên kết, giao thoa cả bảy tám hình cầu, đều có liên kết, chính là rất phức tạp.[1]

[1] Trong đoạn văn này, lối nói của người Hoa, mười vạn tám nghìn dặm là nói về khoảng cách xa xôi lắm, chứ không nhất nhất là con số 108.000 dặm. Tương tự, giao thoa bảy tám cái là nói giao thoa qua lại nhiều, phức tạp, rắc rối, chứ không nhất định là con số 7, số 8. Tất cả các ghi chú trong sách đều do người dịch soạn, chỉ để tham khảo.

在第二次世界大戰前四年,英國空軍有個飛行員去執行任務,中途遇到暴風驟雨,憑他的經驗找到一個廢棄機場。當機場一出現在眼前時,突然是另一番景象,一下子滿天萬里無雲,就像從另外世界鑽出來一樣。機場上的飛機已塗上黃色,地面上有忙忙碌碌的人,他覺的很奇怪!降落後沒人理他,指揮塔也不與他聯繫。他看天也晴了,乾脆走吧,他又起飛了。在飛離機場相當於他剛才看到機場這麼一個距離,一頭又扎進暴風雨中去了。最後總算飛返回去了。他彙報情況,飛行記錄都寫出來了,上司不信。四年後,第二次世界大戰爆發。把他調防到那個廢棄機場。他一下子想起四年前的景象與這一模一樣。我們氣功師都知道是怎麼一回事,他就是超前跑到四年後把事先做了一番,他就是超前跑到那邊去先演了一場,第一場還沒開始他先演了一場,回頭順著順序再演。

Tại Đệ nhị thứ Thế giới Đại chiến tiền tứ niên, Anh quốc Không quân hữu cá phi hành viên khứ chấp hành nhiệm vụ, trung đồ ngộ đáo bão phong sậu vũ, bằng tha đích kinh nghiệm trảo đáo nhất cá phế khí cơ trường. Đương cơ trường nhất xuất hiện tại nhãn tiền thời, đột nhiên thị lánh nhất phiên cảnh tượng, nhất hạ tử mãn thiên vạn lý vô vân, tựu tượng tùng lánh ngoại thế giới toàn xuất lai nhất dạng. Cơ trường thượng đích phi cơ dĩ đồ thượng hoàng sắc, địa diện thượng hữu mang mang lục lục đích nhân, tha giác đích ngận kỳ quái! Giáng lạc hậu một nhân lý tha, chỉ huy tháp dã bất dữ tha liên hệ. Tha khán thiên dã tình liễu, kiền thuý tẩu ba, tha hựu khởi phi liễu. Tại phi ly cơ trường tương đương ư tha cương tài khán đáo cơ trường giá ma nhất cá cự ly, nhất đầu hựu trát tiến bão phong vũ trung khứ liễu. Tối hậu tổng toán phi phản hồi khứ liễu. Tha hối báo tình huống, phi hành ký lục đô tả xuất lai liễu, thượng ty bất tín. Tứ niên hậu, Đệ nhị thứ Thế giới Đại chiến bộc phát. Bả tha điều phòng đáo na cá phế khí cơ trường. Tha nhất hạ tử tưởng khởi tứ niên tiền đích cảnh tượng dữ giá nhất mô nhất dạng. Ngã môn khí công sư đô tri đạo thị chẩm ma nhất hồi sự, tha tựu thị siêu tiền bào đáo tứ niên hậu bả sự tiên tố liễu nhất phiên, tha tựu thị siêu tiền bào đáo na biên khứ tiên diễn liễu nhất trường, đệ nhất trường hài một khai thuỷ tha tiên diễn liễu nhất trường, hồi đầu thuận trước thuận tự tái diễn.

Bốn năm trước khi Đại chiến Thế giới lần thứ hai, Không quân Anh quốc có một phi công đi chấp hành nhiệm vụ, trên đường đụng phải cơn bão lớn, dựa vào kinh nghiệm của mình anh này bèn tìm một phi trường bỏ hoang. Khi phi trường này xuất hiện ở trước mắt, đột nhiên là một cảnh tượng khác, đột nhiên bầu trời trong sáng không còn mây nữa, tựa như lọt vào một thế giới khác. Các phi cơ ở trên phi trường có hình vẽ màu vàng, trên mặt đất có người bận rộn qua lại, anh này cảm thấy quá kỳ lạ! Hạ cánh xuống thì không ai để ý đến anh cả, tháp chỉ huy cũng không liên lạc với anh. Anh thấy trời đã tạnh rồi, bèn nhanh chóng rời đi, anh lại bay lên. Khi bay tới khoảng cách bằng với cự ly mà từ đó anh nhìn thấy phi trường ấy trước đó không lâu, thì lập tức lại tiến vào cơn bão. Rốt cuộc cũng quay trở về. Anh này báo cáo tình huống, cả nhật ký phi hành cũng chép ra, cấp trên không tin. Bốn năm sau, Đại chiến Thế giới lần thứ hai nổ ra. Điều động anh tới phi trường bỏ hoang kia. Anh liền nhớ lại cảnh tượng bốn năm về trước là cũng giống như thế. Những khí công sư chúng tôi đều biết đó là chuyện gì, anh này chính là đã chạy trước tới đó làm một phen những việc của bốn năm sau, anh chính là đã chạy tới đó và diễn trước một màn, trường diễn thứ nhất chưa bắt đầu anh đã diễn trước rồi, sau quay lại rồi diễn lại đúng thứ tự vốn có.

五、氣功治病與醫院治病

Ngũ, Khí công trị bệnh dữ y viện trị bệnh

V. Trị bệnh bằng khí công và trị bệnh ở bệnh viện

從理論上講,氣功治病與醫院治病是完全不同的。西醫看病是用常人社會的手法,儘管有化驗,X光檢查等手段,都只能觀察到這個空間的病灶,看不到另外空間的信息,看不到致病的原因所在。如果他的病比較輕,藥物就可以把病原(西醫講的病毒,氣功講的業)消滅或趕跑了。在病很重的情況下,藥力就解決不了,若加大藥量人也受不了。因為有些病不都侷限在世間法之內,有的病相當大,超出世間法的範圍,因而醫院治不了。

Tùng lý luận thượng giảng, khí công trị bệnh dữ y viện trị bệnh thị hoàn toàn bất đồng đích. Tây Y khán bệnh thị dụng thường nhân xã hội đích thủ pháp, tận quản hữu hoá nghiệm, X-quang kiểm tra đẳng thủ đoạn, đô chỉ năng quan sát đáo giá cá không gian đích bệnh táo, khán bất đáo lánh ngoại không gian đích tín tức, khán bất đáo trí bệnh đích nguyên nhân sở tại. Như quả tha đích bệnh tỷ giảo khinh, dược vật tựu khả dĩ bả bệnh nguyên (Tây Y giảng đích bệnh độc, khí công giảng đích nghiệp) tiêu diệt hoặc cản bào liễu. Tại bệnh ngận trọng đích tình huống hạ, dược lực tựu giải quyết bất liễu, nhược gia đại dược lượng nhân dã thụ bất liễu. Nhân vi hữu ta bệnh bất đô cuộc hạn tại thế gian Pháp chi nội, hữu đích bệnh tương đương đại, siêu xuất thế gian Pháp đích phạm vi, nhân nhi y viện trị bất liễu.

Từ lý luận mà giảng, trị bệnh bằng khí công hoàn toàn khác với trị bệnh ở bệnh viện. Tây Y khám bệnh là dùng thủ pháp xã hội người thường, dù đó là hoá nghiệm, kiểm tra bằng X-quang hay thủ pháp gì, cũng đều chỉ có thể quan sát được nguồn bệnh ở không gian này, không nhìn thấy được các tín tức ở không gian khác, không thấy được nguyên nhân từ đó dẫn đến bệnh. Nếu bệnh của họ tương đối nhẹ, thuốc là có thể khiến nguyên nhân của bệnh (mà Tây Y giảng là do ‘bệnh độc’, khí công giảng là do ‘nghiệp’) bị tiêu diệt hoặc gạt đi. Trong tình huống bệnh rất nặng, sức thuốc không giải quyết nổi, nếu tăng lượng thuốc thì người ta chịu không được. Là vì một số bệnh không giới hạn bên trong thế gian Pháp, có những bệnh lớn lắm, vượt khỏi phạm vi thế gian Pháp, cho nên bệnh viện không trị nổi.

中醫是我國傳統的醫學,和人體修煉特異功能是分不開的。古代很注意人體修煉,儒家、道家、佛家,包括學儒的學生都講打坐。打坐是作為一種功夫,久而久之,雖然沒有煉功,但是可以出功和功能。中醫針灸對人體經絡為甚麼摸索的那樣清楚?穴位與穴位為甚麼不橫著連?不交叉著連?為甚麼是豎著連?怎麼描繪的那樣準確?現代特異功能者,用眼睛看到的和中醫描繪的一樣,原因就是古代的名醫一般都具有特異功能。我國歷史上李時珍、孫思邈、扁鵲、華佗,實際上都是特異功能氣功大師。中醫傳到現在,把功能部份丟掉了,只保留了手法。過去中醫是用眼睛(包括特異功能)看病,後來又總結出號脈的方法。如果用中醫看病的手法再加上特異功能方法,可以說再過很多年外國的西醫也趕不上中國的中醫。

Trung Y thị ngã quốc truyền thống đích y học, hoà nhân thể tu luyện đặc dị công năng thị phân bất khai đích. Cổ đại ngận chú ý nhân thể tu luyện, Nho gia, Đạo gia, Phật gia, bao quát học Nho đích học sinh đô giảng đả toạ. Đả toạ thị tác vi nhất chủng công phu, cửu nhi cửu chi, tuy nhiên một hữu luyện công, đãn thị khả dĩ xuất công hoà công năng. Trung Y châm cứu đối nhân thể kinh lạc vi thậm ma mô sách đích na dạng thanh sở? Huyệt vị dữ huyệt vị vi thậm ma bất hoành trước liên? Bất giao xoa trước liên? Vi thậm ma thị thụ trước liên? Chẩm ma miêu hội đích na dạng chuẩn xác? Hiện đại đặc dị công năng giả, dụng nhãn tình khán đáo đích hoà Trung Y miêu hội đích nhất dạng, nguyên nhân tựu thị cổ đại đích danh y nhất ban đô cụ hữu đặc dị công năng. Ngã quốc lịch sử thượng Lý Thời Trân, Tôn Tư Mạc, Biển Thước, Hoa Đà, thực tế thượng đô thị đặc dị công năng khí công đại sư. Trung Y truyền đáo hiện tại, bả công năng bộ phận đâu điệu liễu, chỉ bảo lưu liễu thủ pháp. Quá khứ Trung Y thị dụng nhãn tình (bao quát đặc dị công năng) khán bệnh, hậu lai hựu tổng kết xuất hiệu mạch đích phương pháp. Như quả dụng Trung Y khán bệnh đích thủ pháp tái gia thượng đặc dị công năng phương pháp, khả dĩ thuyết tái quá ngận đa niên ngoại quốc đích Tây Y dã cản bất thượng Trung Quốc đích Trung Y.

Trung Y là y học truyền thống của nước ta, không tách rời khỏi công năng đặc dị của tu luyện nhân thể. Thời cổ đại rất chú ý đến tu luyện thân thể người, Nho gia, Đạo gia, Phật gia, kể cả học sinh học Nho cũng giảng đả toạ. Ngồi đả toạ được xem là một loại công phu, dần dần qua thời gian, thì tuy không luyện công, nhưng cũng có thể xuất công và công năng. Châm cứu của Trung Y tại sao các đường kinh lạc được tìm ra rõ ràng rành mạch như thế? Tại sao giữa huyệt vị với nhau không nối theo hàng ngang? Tại sao không nối chồng chéo? Tại sao nối theo đường dọc? Tại sao vẽ miêu tả chuẩn xác đến như vậy? Người có công năng đặc dị thời hiện đại, dùng mắt nhìn sẽ thấy được giống như miêu tả trong Trung Y, nguyên nhân chính là các danh y cổ đại thường thường đều có công năng đặc dị. Lịch sử nước ta có Lý Thời Trân, Tôn Tư Mạc, Biển Thước, Hoa Đà, thực ra đều là những đại sư khí công có công năng đặc dị. Trung Y mà truyền tới hiện nay, đã rơi rớt phần công năng đó rồi, chỉ giữ lại các thủ pháp. Quá khứ Trung Y là dùng mắt (gồm cả công năng đặc dị) để khám bệnh, sau này mới tổng kết ra phương pháp bắt mạch. Nếu dùng thủ pháp khám bệnh của Trung Y rồi thêm trở lại vào đó phương pháp công năng đặc dị, thì có thể nói là trải qua rất nhiều năm nữa Tây Y của ngoại quốc cũng không theo kịp Trung Y của Trung Quốc.

氣功治病是從根本上去掉致病的原因。我認為病就是一種「業」,治病就是幫助消業。有的氣功師治病講排黑氣,排氣補氣,在極淺層次他把黑氣排掉了,可是產生黑氣的根本原因他不知道,這些黑氣又從新來了,病又復發了。實際上不是黑氣造成他有病,黑氣的存在只使他難受。而造成他有病的根本原因是在另外空間當中有一個靈體。好多氣功師不了解這種事。因為那個靈體很厲害,一般動不了,也不敢動它。法輪功看病就是針對那個靈體下手,把生病的根本東西拿掉,而且在有病部位下個罩,不使病再侵蝕進去。

Khí công trị bệnh thị tùng căn bản thượng khứ điệu trí bệnh đích nguyên nhân. Ngã nhận vi bệnh tựu thị nhất chủng “nghiệp”, trị bệnh tựu thị bang trợ tiêu nghiệp. Hữu đích khí công sư trị bệnh giảng bài hắc khí, bài khí bổ khí, tại cực thiển tầng thứ tha bả hắc khí bài điệu liễu, khả thị sản sinh hắc khí đích căn bản nguyên nhân tha bất tri đạo, giá ta hắc khí hựu tùng tân lai liễu, bệnh hựu phục phát liễu. Thực tế thượng bất thị hắc khí tạo thành tha hữu bệnh, hắc khí đích tồn tại chỉ sử tha nan thụ. Nhi tạo thành tha hữu bệnh đích căn bản nguyên nhân thị tại lánh ngoại không gian đương trung hữu nhất cá linh thể. Hảo đa khí công sư bất liễu giải giá chủng sự. Nhân vi na cá linh thể ngận lệ hại, nhất ban động bất liễu, dã bất cảm động tha. Pháp Luân Công khán bệnh tựu thị châm đối na cá linh thể hạ thủ, bả sinh bệnh đích căn bản đông tây nã điệu, nhi thả tại hữu bệnh bộ vị hạ cá tráo, bất sử bệnh tái xâm thực tiến khứ.

Trị bệnh bằng khí công là trừ rớt nguyên nhân của bệnh từ gốc rễ. Tôi nhìn nhận rằng bệnh chính là một loại “nghiệp”, trị bệnh chính là giúp đỡ tiêu nghiệp. Có những khí công sư trị bệnh bèn giảng rằng bài trừ khí đen, bài khí bổ khí, ở tầng thứ nông nhất thì họ loại bỏ khí đen rồi, nhưng nguyên nhân căn bản mà sinh ra khí đen kia thì họ không biết, nên khí đen kia lại trở lại, bệnh lại tái phát. Trên thực tế không phải do khí đen khiến họ có bệnh, sự tồn tại của khí đen chỉ khiến họ khó chịu thôi. Chứ nguyên nhân căn bản tạo thành bệnh của họ là ở không gian khác có một linh thể. Khá nhiều khí công sư không hiểu rõ chuyện này. Vì linh thể kia rất lợi hại, thông thường không động tới nó được, cũng không dám động tới. Pháp Luân Công chữa bệnh chính là hạ thủ nhắm thẳng vào linh thể đó, trừ bỏ cái gốc sinh bệnh đó đi, hơn nữa đặt một cái lồng chắn ở đó, không cho bệnh kia chui vào xâm thực lại nữa.

氣功能看病,但不能干擾常人社會狀態。如大面積應用就會干擾常人社會狀態,這是不允許的,效果也不好。大家知道,凡是開設氣功門診的、氣功醫院的、氣功康復中心的,當他沒開設之前治療效果可能不錯,一旦開業看病,其效果就一落千丈,就是不允許用超出常人的法代替常人社會的職能。這樣做了就必然和常人社會的法一樣低。

Khí công năng khán bệnh, đãn bất năng can nhiễu thường nhân xã hội trạng thái. Như đại diện tích ứng dụng tựu hội can nhiễu thường nhân xã hội trạng thái, giá thị bất duẫn hứa đích, hiệu quả dã bất hảo. Đại gia tri đạo, phàm thị khai thiết khí công môn chẩn đích, khí công y viện đích, khí công khang phục trung tâm đích, đương tha một khai thiết chi tiền trị liệu hiệu quả khả năng bất thác, nhất đán khai nghiệp khán bệnh, kỳ hiệu quả tựu nhất lạc thiên trượng, tựu thị bất duẫn hứa dụng siêu xuất thường nhân đích Pháp đại thế thường nhân xã hội đích chức năng. Giá dạng tố liễu tựu tất nhiên hoà thường nhân xã hội đích Pháp nhất dạng đê.

Khí công có thể chữa bệnh, nhưng không thể can nhiễu trạng thái xã hội người thường. Nếu ứng dụng trên diện rộng thì chính là can nhiễu trạng thái xã hội người thường, điều đó không được phép, hiệu quả cũng sẽ không tốt. Mọi người biết, phàm là mở phòng khám khí công, bệnh viện khí công, trung tâm khôi phục sức khoẻ khí công, thì khi họ chưa bắt đầu trị liệu thì hiệu quả có thể là khá lắm, nhưng hễ bắt đầu chữa bệnh, thì hiệu quả kia sẽ lập tức rơi xuống rất nhiều, chính là [vì] không cho phép dùng Pháp mà siêu việt người thường để thay cho chức năng xã hội người thường. Làm thế thì ắt phải cũng thấp xuống giống như Pháp của xã hội người thường.

特異功能透視人體,可以像切片一樣的看,一層一層的看,能看到軟組織及身體的任何部位。現在的「CT」掃描雖然可以看的很清楚,但是,它畢竟是用機器,很費時,用很多片子,很慢、很費錢。不如人的特異功能來的方便、準確。氣功師把眼睛一閉一掃,就能清清楚楚的直接看到病人的任何部位。這不是高科技嗎?這是比現代高科技還要高的高科技。然而,這種水平在中國古代就有了,是古代就有的高科技。華佗看出曹操腦子裏長著瘤子,要給他動手術。曹操接受不了,以為是害他,他把華佗抓起來了,結果曹操還是由於腦瘤而死。歷史上很多大中醫都有特異功能,只是,在現代社會中由於人們過於追求現實的東西,而把古老的傳統給遺忘了。

Đặc dị công năng thấu thị nhân thể, khả dĩ tượng thiết phiến nhất dạng đích khán, nhất tầng nhất tầng đích khán, năng khán đáo nhuyễn tổ chức cập thân thể đích nhậm hà bộ vị. Hiện tại đích “CT” tảo miêu tuy nhiên khả dĩ khán đích ngận thanh sở, đãn thị, tha tất cánh thị dụng cơ khí, ngận phí thời, dụng ngận đa phiến tử, ngận mạn, ngận phí tiền. Bất như nhân đích đặc dị công năng lai đích phương tiện, chuẩn xác. Khí công sư bả nhãn tình nhất bế nhất tảo, tựu năng thanh thanh sở sở đích trực tiếp khán đáo bệnh nhân đích nhậm hà bộ vị. Giá bất thị cao khoa kỹ ma? Giá thị tỷ hiện đại cao khoa kỹ hài yếu cao đích cao khoa kỹ. Nhiên nhi, giá chủng thuỷ bình tại Trung Quốc cổ đại tựu hữu liễu, thị cổ đại tựu hữu đích cao khoa kỹ. Hoa Đà khán xuất Tào Tháo não tử lý trưởng trước lựu tử, yếu cấp tha động thủ thuật. Tào Tháo tiếp thụ bất liễu, dĩ vi thị hại tha, tha bả Hoa Đà trảo khởi lai liễu, kết quả Tào Tháo hài thị do ư não lựu nhi tử. Lịch sử thượng ngận đa đại trung y đô hữu đặc dị công năng, chỉ thị, tại hiện đại xã hội trung do ư nhân môn quá ư truy cầu hiện thực đích đông tây, nhi bả cổ lão đích truyền thống cấp di vong liễu.

Công năng đặc dị ‘thấu thị nhân thể’ có thể nhìn được kiểu như cắt lớp, nhìn theo từng tầng từng tầng, có thể thấy được bất kể bộ phận nào của cơ quan mềm cũng như thân thể. Quét ảnh CT hiện nay tuy có thể nhìn được rất rõ ràng, nhưng nó dù sao cũng là dùng cơ khí, rất tốn thời gian, tốn rất nhiều ảnh chụp, rất chậm, rất tốn tiền. Không thuận tiện và chuẩn xác như công năng đặc dị. Khí công sư nhắm mắt nhìn một cái, là có thể trực tiếp nhìn rõ ràng bất kể bộ phận nào của người bệnh. Đó chẳng phải khoa học kỹ thuật cao sao? Nó là khoa học kỹ thuật cao còn cao hơn khoa học kỹ thuật cao hiện nay. Vậy mà chuẩn mực ấy ngay ở Trung Quốc cổ đại đã là như thế rồi, là từ cổ đại đã có loại khoa học kỹ thuật cao ấy rồi. Hoa Đà nhìn thấy trong đầu Tào Tháo nảy sinh khối u, muốn mổ cho ông ta. Tào Tháo không tiếp thu, tưởng rằng muốn làm hại ông ấy, ông ta bèn bắt Hoa Đà giam vào ngục, kết quả Tào Tháo vẫn là chết vì khối u trong não. Trong lịch sử rất nhiều đại y học gia Trung Y đều có công năng đặc dị, chỉ là, ở xã hội hiện đại vì người ta quá truy cầu những thứ ‘hiện thực’, đã quên những truyền thống cổ xưa rồi.

我們的高層次氣功修煉,就是要從新認識傳統的東西,在實踐中把它繼承發揚下去,從新用於造福人類社會。

Ngã môn đích cao tầng thứ khí công tu luyện, tựu thị yếu tùng tân nhận thức truyền thống đích đông tây, tại thực tiễn trung bả tha kế thừa phát dương hạ khứ, tùng tân dụng ư tạo phúc nhân loại xã hội.

Tu luyện khí công tầng thứ cao của chúng ta, chính là nhận thức lại một lần mới những điều truyền thống, tiếp tục kế thừa và truyền rộng những điều ấy ra thực tiễn, một lần nữa dùng nó để tạo phúc cho xã hội nhân loại.

六、佛家氣功與佛教

Lục, Phật gia khí công dữ Phật giáo

VI. Khí công Phật gia và Phật giáo

我們一談到佛家氣功,好多人就聯想到一個問題:佛家是修佛的,就想到佛教中的事情。我這裏鄭重的說清楚,法輪功是佛家氣功,是正傳大法,與佛教沒有關係。佛家氣功是佛家氣功,佛教是佛教,雖然修煉的目地是一樣的,但走的不是一條路,不是一個法門,要求也不一樣。我這裏提到一個「佛」字,我在高層次上講功以後還會提到,它本身沒有甚麼迷信色彩。有的人一聽到「佛」簡直不得了,說你在宣傳迷信,不是這樣的。「佛」本是梵文,從印度傳過來的,叫作「佛陀」(Buddha)音譯兩個字,人們把「陀」省略了,就叫「佛」,翻譯成中國話就是「覺者」,覺悟了的人(見《辭海》)。

Ngã môn nhất đàm đáo Phật gia khí công, hảo đa nhân tựu liên tưởng đáo nhất cá vấn đề: Phật gia thị tu Phật đích, tựu tưởng đáo Phật giáo trung đích sự tình. Ngã giá lý trịnh trọng đích thuyết thanh sở, Pháp Luân Công thị Phật gia khí công, thị chính truyền Đại Pháp, dữ Phật giáo một hữu quan hệ. Phật gia khí công thị Phật gia khí công, Phật giáo thị Phật giáo, tuy nhiên tu luyện đích mục địa thị nhất dạng đích, đãn tẩu đích bất thị nhất điều lộ, bất thị nhất cá Pháp môn, yêu cầu dã bất nhất dạng. Ngã giá lý đề đáo nhất cá “Phật” tự, ngã tại cao tầng thứ thượng giảng công dĩ hậu hài hội đề đáo, tha bản thân một hữu thậm ma mê tín sắc thái. Hữu đích nhân nhất thính đáo “Phật” giản trực bất đắc liễu, thuyết nhĩ tại tuyên truyền mê tín, bất thị giá dạng đích. “Phật” bản thị Phạn Văn, tùng Ấn Độ truyền quá lai đích, khiếu tác “Phật Đà” (Buddha) âm dịch lưỡng cá tự, nhân môn bả “Đà” tỉnh lược liễu, tựu khiếu “Phật”, phiên dịch thành Trung Quốc thoại tựu thị “Giác Giả”, giác ngộ liễu đích nhân (kiến «Từ Hải»).

Một khi chúng tôi đề cập đến khí công Phật gia, khá nhiều người bèn liên tưởng tới một vấn đề: Phật gia là tu Phật, vậy bèn nghĩ tới những việc trong Phật giáo. Tại đây tôi trịnh trọng nói rõ ràng rằng, Pháp Luân Công là khí công Phật gia, là Đại Pháp chính truyền, nhưng không có quan hệ gì tới Phật giáo. Khí công Phật gia là khí công Phật gia, [mà] Phật giáo là Phật giáo, tuy rằng mục đích tu luyện là như nhau, nhưng đường lối khác nhau, Pháp môn khác nhau, yêu cầu cũng khác nhau. Ở đây tôi đề cập một chữ “Phật”, và sau này giảng công ở cao tầng tôi cũng sẽ đề cập nữa, bản thân chữ đó không có sắc thái ‘mê tín’ gì. Có những người hễ nghe tới “Phật” thì liền khó tiếp thu, nói rằng ‘các vị tuyên truyền mê tín’; không phải thế đâu. Bản thân chữ “Phật” là tiếng Phạn, được truyền từ Ấn Độ sang, phiên âm thành hai chữ đọc là “Phật Đà” (Buddha), [sau này] người ta lược đi chữ “Đà”, và đọc là “Phật”, dịch sang tiếng Trung Quốc thì nghĩa là “Giác Giả”, là người đã giác ngộ (xem [từ điển] «Từ Hải»).

(一)佛家氣功

(Nhất) Phật gia khí công

1. Khí công Phật gia

目前傳出的佛家氣功有兩種。一種是從佛教中分離出來的,它在幾千年發展中出現了許多高僧,他們在修煉過程中,修到很高層次時,就有上師傳授他們一些東西,得到了更高層次的真傳。這些東西以往在佛教中都是單傳,當高僧快到百年時才傳給一個弟子,按照佛教理論去修,在整體上提高。這種氣功,看起來與佛教是緊密相連的。後來僧人被趕出寺廟,如「文化大革命」時期,這些功法就流落到民間,也就在民間大量發展了。

Mục tiền truyền xuất đích Phật gia khí công hữu lưỡng chủng. Nhất chủng thị tùng Phật giáo trung phân ly xuất lai đích, tha tại kỷ thiên niên phát triển trung xuất hiện liễu hứa đa cao tăng, tha môn tại tu luyện quá trình trung, tu đáo ngận cao tầng thứ thời, tựu hữu thượng sư truyền thụ tha môn nhất ta đông tây, đắc đáo liễu cánh cao tầng thứ đích chân truyền. Giá ta đông tây dĩ vãng tại Phật giáo trung đô thị đơn truyền, đương cao tăng khoái đáo bách niên thời tài truyền cấp nhất cá đệ tử, án chiếu Phật giáo lý luận khứ tu, tại chỉnh thể thượng đề cao. Giá chủng khí công, khán khởi lai dữ Phật giáo thị khẩn mật tương liên đích. Hậu lai tăng nhân bị cản xuất tự miếu, như “văn hoá đại cách mệnh” thời kỳ, giá ta công pháp tựu lưu lạc đáo dân gian, dã tựu tại dân gian đại lượng phát triển liễu.

Khí công Phật gia được truyền ra hiện nay là có hai loại. Một loại là thoát ly ra từ Phật giáo, qua mấy nghìn năm phát triển đã xuất hiện rất nhiều cao tăng, họ trong quá trình tu luyện, khi tu tới tầng thứ rất cao, bèn có thượng sư truyền cho họ một số điều, đắc được những điều chân truyền của tầng thứ cao hơn. Những điều ấy trong Phật giáo trước đây đều là đơn truyền. Khi vị cao tăng sắp trăm tuổi [lâm chung] thì mới truyền cho một đệ tử, [họ] chiểu theo lý luận của Phật giáo mà tu, đề cao một cách chỉnh thể. Loại khí công này, xem ra có liên hệ khăng khít với Phật giáo. Về sau những tăng nhân bị đẩy khỏi chùa, chẳng hạn như thời Cách mạng Văn hoá, và những công pháp đó lưu lạc nơi dân gian, cũng phát triển lượng lớn ở dân gian.

另一種也是佛家氣功,這種佛家氣功歷代都沒有進入佛教中去,一直在民間或在深山中靜修。這種功法都有獨到之處,它都要求選擇一個好徒弟,真正具備能往高層次修煉的大德之士。這樣的人多少年才能出世一個。這些功法不能公開,要求心性很高,長功也非常快,這種功法不在少數。道家也一樣,同是道家功,有崑崙派、峨嵋派、武當派等之分。每派之中還有不同法門,每門功法都相差甚遠,都不能混同起來煉。

Lánh nhất chủng dã thị Phật gia khí công, giá chủng Phật gia khí công lịch đại đô một hữu tiến nhập Phật giáo trung khứ, nhất trực tại dân gian hoặc tại thâm sơn trung tĩnh tu. Giá chủng công pháp đô hữu độc đáo chi xứ, tha đô yêu cầu tuyển trạch nhất cá hảo đồ đệ, chân chính cụ bị năng vãng cao tầng thứ tu luyện đích đại đức chi sỹ. Giá dạng đích nhân đa thiểu niên tài năng xuất thế nhất cá. Giá ta công pháp bất năng công khai, yêu cầu tâm tính ngận cao, trưởng công dã phi thường khoái, giá chủng công pháp bất tại thiểu sổ. Đạo gia dã nhất dạng, đồng thị Đạo gia công, hữu Côn Lôn phái, Nga My phái, Võ Đang phái đẳng chi phân. Mỗi phái chi trung hài hữu bất đồng pháp môn, mỗi môn công pháp đô tương sai thậm viễn, đô bất năng hỗn đồng khởi lai luyện.

Một loại khác cũng là khí công Phật gia, loại khí công Phật gia này trong lịch sử không hề nhập vào Phật giáo, vẫn luôn tĩnh tu nơi dân gian hoặc trong núi sâu. Loại công pháp này đều có những chỗ độc đáo, nó đều yêu cầu là lựa chọn một đồ đệ tốt, là kẻ sỹ đại đức mà thật sự đầy đủ khả năng luyện lên tầng thứ cao. Người như thế hằng bao nhiêu năm mới có thể xuất thế một vị. Những công pháp đó không thể công khai, yêu cầu về tâm tính rất cao, công tăng lên cũng rất nhanh, có không ít công pháp loại này. Đạo gia cũng thế, cùng là các công [pháp] Đạo gia, phân thành các phái Côn Lôn, phái Nga Mi, phái Võ Đang, v.v. Trong mỗi phái còn có các pháp môn khác nhau, và mỗi môn công pháp đều khác nhau rất là xa, đều không thể trộn lẫn với nhau cùng luyện.

(二)佛教

(Nhị) Phật giáo

2. Phật giáo

佛教是兩千多年前釋迦牟尼在印度原有修煉基礎之上自己證悟的一套修煉東西。概括的講就是「戒、定、慧」三個字。戒是為了定。佛教不講煉功,實際上是在煉功,他定下來往那兒一坐就是煉功。因為人一靜下來一收心,宇宙的能量就往他身上聚集,起到了煉功的作用。佛教的戒,就是要戒掉常人所有的慾望,捨棄常人所有執著的東西,從而達到清靜無為的狀態,就能定下來,在定中不斷提高層次,然後開悟開慧,認識宇宙,看到宇宙真相。

Phật giáo thị lưỡng thiên đa niên tiền Thích Ca Mâu Ni tại Ấn Độ nguyên hữu tu luyện cơ sở chi thượng tự kỷ chứng ngộ đích nhất sáo tu luyện đông tây. Khái quát đích giảng tựu thị “Giới, Định, Huệ” tam cá tự. Giới thị vi liễu Định. Phật giáo bất giảng luyện công, thực tế thượng thị tại luyện công, tha định hạ lai vãng na nhi nhất toạ tựu thị luyện công. Nhân vi nhân nhất tĩnh hạ lai nhất thâu tâm, vũ trụ đích năng lượng tựu vãng tha thân thượng tụ tập, khởi đáo liễu luyện công đích tác dụng. Phật giáo đích Giới, tựu thị yếu giới điệu thường nhân sở hữu đích dục vọng, xả khí thường nhân sở hữu chấp trước đích đông tây, tùng nhi đạt đáo thanh tĩnh vô vi đích trạng thái, tựu năng định hạ lai, tại định trung bất đoạn đề cao tầng thứ, nhiên hậu khai ngộ khai huệ, nhận thức vũ trụ, khán đáo vũ trụ chân tướng.

Phật giáo là một bộ những điều tu luyện do Thích Ca Mâu Ni quãng hơn hai nghìn năm trước tại Ấn Độ tự mình chứng ngộ trên cơ sở tu luyện mà ông vốn có. Nói khái quát chính là ba chữ “Giới-Định-Huệ”. ‘Giới’ là vì ‘Định’. Phật giáo không giảng luyện công, mà thực tế là đang luyện công, họ ngồi định xuống ở đó thì là luyện công. Vì người ta hễ tĩnh lại hễ thu tâm, thì năng lượng vũ trụ sẽ tụ tập trên thân của họ, có tác dụng luyện công. ‘Giới’ của Phật giáo, chính là giới cấm buông bỏ tất cả dục vọng của người thường, xả bỏ tất cả chấp trước người thường, từ đó đạt trạng thái ‘vô vi thanh tĩnh’, chính là có thể định lại được, từ trong định mà không ngừng đề cao tầng thứ, sau đó khai ngộ khai huệ, nhận thức vũ trụ, nhìn được tới chân tướng vũ trụ.

釋迦牟尼開始傳法時一天只做三件事:講法(主要傳的是羅漢法),弟子聽法;然後是捧著缽(碗)去化緣(要飯);再就是打坐實修。釋迦牟尼不在世後婆羅門教與佛教經過鬥爭之後,這兩種宗教合併為一種印度教,所以現在印度沒有佛教。在以後的發展演變過程中,出現了大乘佛教,流傳到中國內地就是現在的佛教。大乘佛教不是單信釋迦牟尼為祖尊,而是多佛信仰,信仰許多如來,阿彌陀佛和藥師佛等。戒律也多了,修煉目標也高了。當時釋迦牟尼在個別弟子中傳過菩薩法,後來把這些東西整理出來就發展成現在的大乘佛教,修菩薩界。現在東南亞一帶還保留著小乘佛教的傳統,運用神通做法事。在佛教演變過程中,一支傳入我國西藏稱藏密;另一支經新疆傳入漢地稱唐密(會昌年間滅佛後消失了);再一支就是在印度形成瑜伽功。

Thích Ca Mâu Ni khai thuỷ truyền Pháp thời nhất thiên chỉ tố tam kiện sự: Giảng Pháp (chủ yếu truyền đích thị La Hán Pháp), đệ tử thính Pháp; nhiên hậu thị phủng trước bát (oản) khứ hoá duyên (yếu phạn); tái tựu thị đả toạ thực tu. Thích Ca Mâu Ni bất tại thế hậu Bà La Môn giáo dữ Phật giáo kinh quá đấu tranh chi hậu, giá lưỡng chủng tông giáo hợp tính vi nhất chủng Ấn Độ giáo, sở dĩ hiện tại Ấn Độ một hữu Phật giáo. Tại dĩ hậu đích phát triển diễn biến quá trình trung, xuất hiện liễu Đại Thừa Phật giáo, lưu truyền đáo Trung Quốc nội địa tựu thị hiện tại đích Phật giáo. Đại Thừa Phật giáo bất thị đơn tín Thích Ca Mâu Ni vi tổ tôn, nhi thị đa Phật tín ngưỡng, tín ngưỡng hứa đa Như Lai, A Di Đà Phật hoà Dược Sư Phật đẳng. Giới luật dã đa liễu, tu luyện mục tiêu dã cao liễu. Đương thời Thích Ca Mâu Ni tại cá biệt đệ tử trung truyền quá Bồ Tát Pháp, hậu lai bả giá ta đông tây chỉnh lý xuất lai tựu phát triển thành hiện tại đích Đại Thừa Phật giáo, tu Bồ Tát giới. Hiện tại Đông Nam Á nhất đới hài bảo lưu trước Tiểu Thừa Phật giáo đích truyền thống, vận dụng thần thông tố Pháp sự. Tại Phật giáo diễn biến quá trình trung, nhất chi truyền nhập ngã quốc Tây Tạng xưng Tạng Mật; lánh nhất chi kinh Tân Cương truyền nhập Hán địa xưng Đường Mật (Hội Xương niên gian diệt Phật hậu tiêu thất liễu); tái nhất chi tựu thị tại Ấn Độ hình thành Du Già công.

Thích Ca Mâu Ni thời bắt đầu truyền Pháp mỗi ngày chỉ làm ba việc: giảng Pháp (điều được truyền chủ yếu là La Hán Pháp), và đệ tử nghe Pháp; sau đó là mang bình bát đi hoá duyên (khất thực); rồi sau đó đả toạ thực tu. Sau khi Thích Ca Mâu Ni không còn tại thế và sau khi trải qua đấu tranh giữa Bà La Môn giáo và Phật giáo, hai loại tôn giáo này hợp nhất thành một loại là Ấn Độ giáo, do đó ngày nay ở Ấn Độ không có Phật giáo. Trong quá trình diễn biến phát triển sau đó, đã xuất hiện Đại Thừa Phật giáo, lưu truyền vào nội địa Trung Quốc trở thành Phật giáo hiện nay [ở Trung Quốc]. Đại Thừa Phật giáo không chỉ tín [ngưỡng] Thích Ca Mâu Ni như là tổ tôn, mà còn tín ngưỡng nhiều vị Phật, tín ngưỡng rất nhiều vị Như Lai, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư, v.v. Giới luật cũng nhiều lên, mục tiêu tu luyện cũng cao hơn. Bồ Tát Pháp do Thích Ca Mâu Ni thời bấy giờ đã truyền trong [một số] đệ tử cá biệt, sau này những điều ấy được chỉnh lý rồi phát triển thành Đại Thừa Phật giáo ngày nay, tu Bồ Tát giới. Bây giờ ở vùng Đông Nam Á vẫn bảo lưu truyền thống Tiểu Thừa Phật giáo, vận dụng thần thông làm các Pháp sự. Trong quá trình diễn biến của Phật giáo, có một chi đã truyền nhập vào Tây Tạng nước ta gọi là ‘Tạng Mật’; một chi khác trải qua Tân Cương truyền nhập vào Hán địa và gọi là ‘Đường Mật’ (sau thời ‘diệt Phật’ trong những năm Hội Xương thì [Mật tông nhà Đường này] đã tiêu mất); một chi khác tại Ấn Độ mà hình thành Du Già công.

在佛教中不講煉功,也不煉氣功,這是為了維護佛教傳統的修煉方法,也是佛教能傳揚兩千多年而不衰敗的重要原因。就因為他不接受外來的東西,才容易保留其自身的傳統。佛教的修法也不完全相同。小乘佛教側重於度己、修自身;大乘佛教已發展到度己度人,普度眾生。

Tại Phật giáo trung bất giảng luyện công, dã bất luyện khí công, giá thị vi liễu duy hộ Phật giáo truyền thống đích tu luyện phương pháp, dã thị Phật giáo năng truyền dương lưỡng thiên đa niên nhi bất suy bại đích trọng yếu nguyên nhân. Tựu nhân vi tha bất tiếp thụ ngoại lai đích đông tây, tài dung dị bảo lưu kỳ tự thân đích truyền thống. Phật giáo đích tu pháp dã bất hoàn toàn tương đồng. Tiểu Thừa Phật giáo trắc trọng ư độ kỷ, tu tự thân; Đại Thừa Phật giáo dĩ phát triển đáo độ kỷ độ nhân, phổ độ chúng sinh.

Trong Phật giáo không giảng luyện công, cũng không luyện khí công, đó là để duy hộ phương pháp tu luyện truyền thống của Phật giáo, cũng là nguyên nhân trọng yếu để Phật giáo có thể truyền rộng suốt hơn hai nghìn năm mà không suy bại. Chính vì họ không tiếp thụ những thứ ngoại lai, nên mới dễ bảo lưu truyền thống của bản thân. Các pháp tu của Phật giáo cũng không hoàn toàn tương đồng. Tiểu Thừa Phật giáo nghiêng về tự độ, tu tự thân; Đại Thừa Phật giáo đã phát triển đến ‘độ kỷ độ nhân’, ‘phổ độ chúng sinh’.

七、正法與邪法

Thất, Chính Pháp dữ tà pháp

VII. Chính Pháp và tà pháp

(一)旁門左道

(Nhất) Bàng môn tả đạo

1. Bàng môn tả đạo

旁門左道亦稱奇門修法。在有宗教之前,各門氣功就已存在。宗教以外的功法有許多在民間流傳,多數沒有成為一套完整的修煉體系,沒有一套完整的理論,而奇門修法有系統完備的特殊強化修煉方法,也在民間承傳。這類功法通常被稱為旁門左道。為甚麼稱旁門左道呢?從字面上看,旁門就是別開一門,左道就是笨拙。人們認為佛、道兩家修煉方法都是正法,其它功法都是旁門左道,或是邪法。其實不是這樣。旁門左道歷代都是密修單傳,不能拿出來示人。一旦傳出,人們都不太理解。他們也自稱其功法是非佛非道。它的修煉方法有嚴格的心性要求,它是按宇宙特性在修煉,講行善,守心性。其中高人都有絕招兒,有些獨特的技能也很厲害。我遇到過三位奇門高人,傳授給我一些東西,在佛、道兩家中都找不到。這些東西在修煉的過程中都比較難,煉出的功也是很獨特的。相反,在現在所傳的一些所謂的佛道兩家功法中,有的缺乏嚴格的心性要求,因而修的不高,所以,對各家功法要辯證的看。

Bàng môn tả đạo diệc xưng Kỳ Môn tu pháp. Tại hữu tông giáo chi tiền, các môn khí công tựu dĩ tồn tại. Tông giáo dĩ ngoại đích công pháp hữu hứa đa tại dân gian lưu truyền, đa số một hữu thành vi nhất sáo hoàn chỉnh đích tu luyện thể hệ, một hữu nhất sáo hoàn chỉnh đích lý luận, nhi Kỳ Môn tu pháp hữu hệ thống hoàn bị đích đặc thù cường hoá tu luyện phương pháp, dã tại dân gian thừa truyền. Giá loại công pháp thông thường bị xưng vi bàng môn tả đạo. Vi thậm ma xưng bàng môn tả đạo ni? Tùng tự diện thượng khán, bàng môn tựu thị biệt khai nhất môn, tả đạo tựu thị bổn chuyết. Nhân môn nhận vi Phật, Đạo lưỡng gia tu luyện phương pháp đô thị chính Pháp, kỳ tha công pháp đô thị bàng môn tả đạo, hoặc thị tà pháp. Kỳ thực bất thị giá dạng. Bàng môn tả đạo lịch đại đô thị mật tu đơn truyền, bất năng nã xuất lai thị nhân. Nhất đán truyền xuất, nhân môn đô bất thái lý giải. Tha môn dã tự xưng kỳ công pháp thị phi Phật phi Đạo. Tha đích tu luyện phương pháp hữu nghiêm cách đích tâm tính yêu cầu, tha thị án vũ trụ đặc tính tại tu luyện, giảng hành Thiện, thủ tâm tính. Kỳ trung cao nhân đô hữu tuyệt chiêu nhi, hữu ta độc đặc đích kỹ năng dã ngận lệ hại. Ngã ngộ đáo quá tam vị kỳ môn cao nhân, truyền thụ cấp ngã nhất ta đông tây, tại Phật, Đạo lưỡng gia trung đô trảo bất đáo. Giá ta đông tây tại tu luyện đích quá trình trung đô tỷ giảo nan, luyện xuất đích công dã thị ngận độc đặc đích. Tương phản, tại hiện tại sở truyền đích nhất ta sở vị đích Phật Đạo lưỡng gia công pháp trung, hữu đích khuyết phạp nghiêm cách đích tâm tính yêu cầu, nhân nhi tu đích bất cao, sở dĩ, đối các gia công pháp yếu biện chứng đích khán.

‘Bàng môn tả đạo’ cũng [dùng để] gọi ‘Kỳ Môn tu pháp’. Trước khi có tôn giáo, các môn khí công đã tồn tại rồi. Có rất nhiều công pháp nằm ngoài tôn giáo vẫn truyền thừa ở dân gian, đa số không có thành một hệ thống tu luyện hoàn chỉnh, không có một bộ lý luận hoàn chỉnh, mà Kỳ Môn Tu Pháp có phương pháp tu luyện cường hoá đặc thù hoàn thiện có hệ thống, cũng truyền thừa ở dân gian. Loại công pháp này thường bị gọi là ‘bàng môn tả đạo’. Tại sao bị gọi là ‘bàng môn tả đạo’? Từ bề mặt chữ mà xét, ‘bàng môn’ là cửa bên cạnh, ‘tả đạo’ là vụng về dốt ngốc. Người ta nhìn nhận rằng phương pháp tu luyện của hai nhà Phật và Đạo là chính Pháp, còn các công pháp khác đều là bàng môn tả đạo, hoặc là tà pháp. Thực ra không phải như vậy. Bàng môn tả đạo qua các đời đều là đơn truyền mật tu, không thể mang ra cho người coi. Một khi truyền ra, người ta không lý giải được tốt lắm. Họ cũng tự xưng công pháp của mình không phải Phật cũng không phải Đạo. Phương pháp tu luyện của họ cũng yêu cầu tâm tính một cách nghiêm khắc, đó là chiểu theo đặc tính vũ trụ mà tu luyện, chú trọng hành Thiện, giữ tâm tính. Những cao nhân trong đó đều có tuyệt chiêu, một số kỹ năng độc đáo cũng rất lợi hại. Tôi từng gặp ba cao nhân bên Kỳ Môn, [họ] truyền thụ cho tôi một số điều, mà không thể tìm thấy trong Phật gia và Đạo gia, những điều ấy đều khá là khó trong quá trình tu luyện, công mà luyện ra được đều rất độc đáo đặc biệt. Trái lại, trong những gì gọi là công pháp của Phật gia và Đạo gia ngày nay đang truyền, có những cái thiếu yêu cầu nghiêm khắc về tâm tính, vì thế mà tu không được cao, cho nên, cần nhìn nhận một cách biện chứng đối với công pháp của các nhà.

(二)武術氣功

(Nhị) Võ thuật khí công

2. Khí công võ thuật

武術氣功是經過久遠歷史年代形成的,有一套完整的理論體系、修煉方法,形成了獨立的體系。但嚴格的說,它也只是內修功法最低層次所出現的功能的體現。武術修煉中所出現的功能,內修功中都出。武術氣功修煉也從練氣開始,比如砍石頭時,開始就要掄胳膊運氣,時間長了氣就發生質的變化,形成能量團,看上去像一種光存在,達到這種成度時,功就會起作用。因為功是高級物質,帶有靈性,它受大腦思維控制,存在於另外空間。擊打時不要運氣,想到時功就來了。隨著修煉,功會不斷加強,顆粒變細,能量變大,出現了「鐵砂掌」、「朱砂掌」的功夫。從影視和雜誌上看到,近年來出現了「金鐘罩」、「鐵布衫」的技能,這是武術與內修同修而形成的,是內外兼修出來的。要內修就要重德,要修心性。從理論上講,他的功夫達到一定成度,它使功從體內發出,發放到體外,因密度大,就形成了防護罩。武術氣功從理論上講和我們內修的最大區別在於武術是在猛烈的運動中煉,沒有入靜。不入靜氣走皮下,氣竄肌肉,不入丹田,所以不修命,也不能修命。

Võ thuật khí công thị kinh quá cửu viễn lịch sử niên đại hình thành đích, hữu nhất sáo hoàn chỉnh đích lý luận thể hệ, tu luyện phương pháp, hình thành liễu độc lập đích thể hệ. Đãn nghiêm cách đích thuyết, tha dã chỉ thị nội tu công pháp tối đê tầng thứ sở xuất hiện đích công năng đích thể hiện. Võ thuật tu luyện trung sở xuất hiện đích công năng, nội tu công trung đô xuất. Võ thuật khí công tu luyện dã tùng luyện khí khai thuỷ, tỷ như khảm thạch đầu thời, khai thuỷ tựu yếu luân ca bạc vận khí, thời gian trường liễu khí tựu phát sinh chất đích biến hoá, hình thành năng lượng đoàn, khán thượng khứ tượng nhất chủng quang tồn tại, đạt đáo giá chủng thành độ thời, công tựu hội khởi tác dụng. Nhân vi công thị cao cấp vật chất, đới hữu linh tính, tha thụ đại não tư duy khống chế, tồn tại ư lánh ngoại không gian. Kích đả thời bất yếu vận khí, tưởng đáo thời công tựu lai liễu. Tuỳ trước tu luyện, công hội bất đoạn gia cường, khoả lạp biến tế, năng lượng biến đại, xuất hiện liễu “thiết sa chưởng”, “chu sa chưởng” đích công phu. Tùng ảnh thị hoà tạp chí thượng khán đáo, cận niên lai xuất hiện liễu “kim chung tráo”, “thiết bố sam” đích kỹ năng, giá thị võ thuật dữ nội tu đồng tu nhi hình thành đích, thị nội ngoại kiêm tu xuất lai đích. Yếu nội tu tựu yếu trọng đức, yếu tu tâm tính. Tùng lý luận thượng giảng, tha đích công phu đạt đáo nhất định thành độ, tha sử công tùng thể nội phát xuất, phát phóng đáo thể ngoại, nhân mật độ đại, tựu hình thành liễu phòng hộ tráo. Võ thuật khí công tùng lý luận thượng giảng hoà ngã môn nội tu đích tối đại khu biệt tại ư võ thuật thị tại mãnh liệt đích vận động trung luyện, một hữu nhập tĩnh. Bất nhập tĩnh khí tẩu bì hạ, khí thoán cơ nhục, bất nhập đan điền, sở dĩ bất tu mệnh, dã bất năng tu mệnh.

Khí công võ thuật được hình thành qua những niên đại lịch sử lâu dài, có một bộ hệ thống lý luận và phương pháp tu luyện hoàn chỉnh, đã hình thành hệ thống độc lập. Nhưng nói một cách nghiêm khắc, nó chỉ là thể hiện công năng mà xuất hiện ở tầng thứ thấp nhất trong công pháp tu nội. Những công năng xuất hiện trong tu luyện võ thuật, đều xuất hiện trong công [pháp] tu nội. Tu luyện khí công võ thuật cũng là bắt đầu từ luyện khí, chẳng hạn như khi chặt tảng đá, thì bắt đầu là vung tay vận khí, qua thời gian lâu thì khí sẽ phát sinh biến hoá một cách thực chất, hình thành một khối năng lượng, nhìn thì thấy như tồn tại một loại ánh quang, khi đạt tới mức độ đó rồi, thì công sẽ khởi tác dụng. Bởi vì công là vật chất cao cấp, có mang theo linh tính, nó chịu khống chế của tư duy đại não, và tồn tại ở không gian khác. Khi đánh nhau không cần vận khí nữa, lúc nghĩ là công tới rồi. Thuận theo việc tu luyện, công sẽ không ngừng mạnh hơn, hạt lạp tử [của nó] sẽ nhỏ mịn hơn, năng lượng sẽ lớn hơn, xuất hiện công phu “thiết sa chưởng”, “chu sa chưởng”. Từ phim ảnh và tạp chí có thể thấy, mấy năm gần đây đã xuất hiện kỹ năng “kim chung tráo”, “thiết bố sam”, những cái này là đồng thời tu cả võ thuật và nội tu mà hình thành, là ‘nội ngoại kiêm tu’ mà xuất ra. Muốn tu nội thì phải [coi] trọng đức, phải tu tâm tính. Từ lý luận mà giảng công phu của họ đạt tới một mức độ nhất định, sẽ khiến công từ trong [thân] thể phát xuất ra, phát phóng ra ngoài [thân] thể, vì mật độ lớn, nên hình thành một cái tráo [vỏ bọc] phòng hộ. Khí công võ thuật từ lý luận mà giảng có khác biệt lớn nhất so với tu nội của chúng ta là ở chỗ võ thuật là luyện trong khi vận động mãnh liệt, không nhập tĩnh. Không nhập tĩnh thì khí chạy dưới da, khí thoát qua cơ bắp, không nhập đan điền, nên không tu mệnh, cũng không thể tu mệnh.

(三)返修與借功

(Tam) Phản tu dữ tá công

3. Phản tu và tá công

有的人沒有煉過氣功,突然一夜之間得了功,能量也不小,還能給人看病,人們也叫他氣功師,他也在教別人;有的乾脆沒有學過功法,或者學過幾個動作,自己改一改就教別人。這種人夠不上氣功師,他沒有甚麼可承傳給別人的。他教的東西確實不能往高層次上修煉,頂多是祛病健身。這種功是怎麼來的呢?首先講一下返修。所謂返修是指有些心性極高、非常好的人,往往上了年紀,五十歲往上,叫他從新修煉時間來不及,要碰到性命雙修的高師不容易。當他一想要煉功的時候,上師就在他心性的基礎上給他加了相當大的能量,從上往下反過來修,這就快多了。上師在空中演化,不斷的從體外給他加能量,特別是在他看病、組場的時候,上師給的能量像從管道裏給他輸送一樣,有的他自己還不知道哪來的。這就是返修。

Hữu đích nhân một hữu luyện quá khí công, đột nhiên nhất dạ chi gian đắc liễu công, năng lượng dã bất tiểu, hài năng cấp nhân khán bệnh, nhân môn dã khiếu tha khí công sư, tha dã tại giáo biệt nhân; hữu đích càn thuý một hữu học quá công pháp, hoặc giả học quá kỷ cá động tác, tự kỷ cải nhất cải tựu giáo biệt nhân. Giá chủng nhân cú bất thượng khí công sư, tha một hữu thậm ma khả thừa truyền cấp biệt nhân đích. Tha giáo đích đông tây xác thực bất năng vãng cao tầng thứ thượng tu luyện, đỉnh đa thị khứ bệnh kiện thân. Giá chủng công thị chẩm ma lai đích ni? Thủ tiên giảng nhất hạ phản tu. Sở vị phản tu thị chỉ hữu ta tâm tính cực cao, phi thường hảo đích nhân, vãng vãng thượng liễu niên kỷ, ngũ thập tuế vãng thượng, khiếu tha tùng tân tu luyện thời gian lai bất cập, yếu bính đáo tính mệnh song tu đích cao sư bất dung dị. Đương tha nhất tưởng yếu luyện công đích thời hậu, thượng sư tựu tại tha tâm tính đích cơ sở thượng cấp tha gia liễu tương đương đại đích năng lượng, tùng thượng vãng hạ phản quá lai tu, giá tựu khoái đa liễu. Thượng sư tại không trung diễn hoá, bất đoạn đích tùng thể ngoại cấp tha gia năng lượng, đặc biệt thị tại tha khán bệnh, tổ trường đích thời hậu, thượng sư cấp đích năng lượng tượng tùng quản đạo lý cấp tha thâu tống nhất dạng, hữu đích tha tự kỷ hài bất tri đạo nả lai đích. Giá tựu thị phản tu.

Có người chưa từng luyện khí công, nhưng đột nhiên qua một đêm liền có công, năng lượng cũng không nhỏ, còn có thể chữa bệnh cho người khác, người ta cũng gọi họ là ‘khí công sư’, họ cũng dạy cho người khác; có những người mặc dù chưa hề học công pháp, hoặc từng học vài động tác, tự họ chỉnh sửa đi một chút để dạy người khác. Loại người này không xứng làm khí công sư đâu, họ không có gì có thể truyền thừa cho người khác. Điều họ dạy ấy xác thực không thể tu luyện lên tầng thứ cao, nhiều nhất chỉ có thể trừ bệnh khoẻ thân. Loại công này đã tới như thế nào? Trước hết giảng một chút về ‘phản tu’. Cái gọi là ‘phản tu’ là để chỉ một số người hết sức tốt [bụng] có tâm tính cực cao, thông thường lớn tuổi, trên năm mươi tuổi, nếu bảo họ bắt đầu tu luyện từ mới đầu thì đã không đủ thời gian, mà muốn gặp được sư phụ cao [minh] tính mệnh song tu thì không dễ. Khi họ hễ muốn luyện công, thì thượng sư cấp thêm cho họ năng lượng rất lớn trên cơ sở tâm tính của họ, tu ngược từ trên xuống, thì sẽ nhanh hơn nhiều. Thượng sư diễn hoá ở không trung, không ngừng cấp thêm năng lượng từ ngoài [thân] thể cho họ, đặc biệt là khi họ khám chữa bệnh, khi hình thành một trường, thì năng lượng của thượng sư tựa như qua một đường ống mà truyền cho họ, có những người mà bản thân không biết được đó là từ đâu tới. Đây chính là ‘phản tu’.

還有一種是借功。借功在年齡上不限。人除了主意識外還有副意識,往往副意識比主意識層次高。有的人副意識層次很高,可以和覺者聯繫上,這種人想煉功時,副意識也想提高層次,馬上和大覺者聯繫借功。借給他功之後,也是一夜之間來了功,得功之後也能給人看病,解除病人的痛苦。他通常採用組場辦法,還可以單獨給人授能量,教給人一些手法。

Hài hữu nhất chủng thị tá công. Tá công tại niên linh thượng bất hạn. Nhân trừ liễu chủ ý thức ngoại hài hữu phó ý thức, vãng vãng phó ý thức tỷ chủ ý thức tầng thứ cao. Hữu đích nhân phó ý thức tầng thứ ngận cao, khả dĩ hoà Giác Giả liên hệ thượng, giá chủng nhân tưởng luyện công thời, phó ý thức dã tưởng đề cao tầng thứ, mã thượng hoà Đại Giác Giả liên hệ tá công. Tá cấp tha công chi hậu, dã thị nhất dạ chi gian lai liễu công, đắc công chi hậu dã năng cấp nhân khán bệnh, giải trừ bệnh nhân đích thống khổ. Tha thông thường thái dụng tổ trường biện pháp, hài khả dĩ đơn độc cấp nhân thụ năng lượng, giáo cấp nhân nhất ta thủ pháp.

Còn một loại nữa là ‘tá công’. ‘Tá công’ không có hạn chế về tuổi. Ngoài chủ ý thức ra thì người ta còn có phó ý thức, thông thường phó ý thức có tầng thứ cao hơn chủ ý thức. Có người phó ý thức có tầng thứ rất là cao, có thể liên hệ với các Giác Giả, loại người này khi mà muốn luyện công, thì phó ý thức cũng muốn đề cao tầng thứ, bèn lập tức liên hệ với Đại Giác Giả để mượn công. Sau khi họ mượn được công, thì cũng là sau một đêm liền có được công, sau khi đắc công cũng có thể khám chữa bệnh cho người khác, giải trừ thống khổ cho bệnh nhân. Thông thường họ chọn biện pháp hình thành một trường, hoặc cũng có thể cho một người đơn lẻ nhận năng lượng, dạy người ta một số thủ pháp.

往往有這樣的人,開始是很不錯的,有了功,名聲很大,名利雙收。名利在頭腦中的比例佔了很大一部份,超過了煉功,從此功就往下掉,功就越來越小,最後甚麼也沒有了。

Vãng vãng hữu giá dạng đích nhân, khai thuỷ thị ngận bất thác đích, hữu liễu công, danh thanh ngận đại, danh lợi song thu. Danh lợi tại đầu não trung đích tỷ lệ chiếm liễu ngận đại nhất bộ phận, siêu quá liễu luyện công, tùng thử công tựu vãng hạ điệu, công tựu việt lai việt tiểu, tối hậu thậm ma dã một hữu liễu.

Thường hay có người như thế này, ban đầu rất là tốt, rồi có được công, danh tiếng rất lớn, danh lợi đều được. Danh lợi chiếm một bộ phận tỷ lệ rất lớn trong đầu não, vượt cả [phần] luyện công, từ đó công hạ xuống, công càng ngày càng nhỏ, cuối cùng không còn chi nữa.

(四)宇宙語

(Tứ) Vũ trụ ngữ

4. Vũ trụ ngữ

有人突然之間能說出一種語言,這種語言說起來還比較流利,但它不是人類社會的語言。叫甚麼呢?叫宇宙語。所謂宇宙語,它只不過是不太高的那個生命體的一種語言。現在國內練氣功的人有不少出現了這種情況,甚至有的人會說好幾種不同的語言。當然,我們人類社會的語言也是很複雜的,有一千多種。宇宙語算不算功能呢?我說它不能算,它不是自身的一種功能,也不是外面來的給你的一種功能,而是由一種外來生命體操縱的。這個生命體來源層次高一些,最起碼要比我們人類高一些,是它在說話。說宇宙語的人只起個傳話筒的作用。多數人說的話他自己也不知道大概意思是甚麼,只有具備了「他心通」功能的人,他能夠感應到大概意思。因為它不是功能,好多人說了之後,沾沾自喜,還認為了不起,認為是功能。實際上天目層次高的人可以觀察到,在他的斜上方保證有一個生命體在那裏說話,利用說話人的嘴說出來。

Hữu nhân đột nhiên chi gian năng thuyết xuất nhất chủng ngữ ngôn, giá chủng ngữ ngôn thuyết khởi lai hài tỷ giảo lưu lợi, đãn tha bất thị nhân loại xã hội đích ngữ ngôn. Khiếu thậm ma ni? Khiếu vũ trụ ngữ. Sở vị vũ trụ ngữ, tha chỉ bất quá thị bất thái cao đích na cá sinh mệnh thể đích nhất chủng ngữ ngôn. Hiện tại quốc nội luyện khí công đích nhân hữu bất thiểu xuất hiện liễu giá chủng tình huống, thậm chí hữu đích nhân hội thuyết hảo kỷ chủng bất đồng đích ngữ ngôn. Đương nhiên, ngã môn nhân loại xã hội đích ngữ ngôn dã thị ngận phức tạp đích, hữu nhất thiên đa chủng. Vũ trụ ngữ toán bất toán công năng ni? Ngã thuyết tha bất năng toán, tha bất thị tự thân đích nhất chủng công năng, dã bất thị ngoại diện lai đích cấp nhĩ đích nhất chủng công năng, nhi thị do nhất chủng ngoại lai sinh mệnh thể thao túng đích. Giá cá sinh mệnh thể lai nguyên tầng thứ cao nhất ta, tối khởi mã yếu tỷ ngã môn nhân loại cao nhất ta, thị tha tại thuyết thoại. Thuyết vũ trụ ngữ đích nhân chỉ khởi cá truyền thoại đồng đích tác dụng. Đa số nhân thuyết đích thoại tha tự kỷ dã bất tri đạo đại khái ý tư thị thậm ma, chỉ hữu cụ bị liễu “tha tâm thông” công năng đích nhân, tha năng cú cảm ưng đáo đại khái ý tư. Nhân vi tha bất thị công năng, hảo đa nhân thuyết liễu chi hậu, triêm triêm tự hỷ, hài nhận vi liễu bất khởi, nhận vi thị công năng. Thực tế thượng thiên mục tầng thứ cao đích nhân khả dĩ quan sát đáo, tại tha đích tà thượng phương bảo chứng hữu nhất cá sinh mệnh thể tại na lý thuyết thoại, lợi dụng thuyết thoại nhân đích chuỷ thuyết xuất lai.

Có người đột nhiên có thể nói ra một loại ngôn ngữ, loại ngôn ngữ này được nói ra khá lưu loát, nhưng nó không phải ngôn ngữ ở xã hội nhân loại. Gọi đó là gì? Là ‘vũ trụ ngữ’. Cái gọi là ‘vũ trụ ngữ’ ấy, nó chẳng qua là loại ngôn ngữ của thể sinh mệnh không cao lắm. Hiện nay những người luyện khí công trong nước có không ít người xuất hiện tình huống loại này, thậm chí có người nói được hằng mấy loại ngôn ngữ khác nhau. Tất nhiên, những ngôn ngữ của nhân loại chúng ta cũng rất phức tạp, có hơn một nghìn loại. Vũ trụ ngữ có được tính là công năng hay không? Tôi nói rằng nó không thể được tính, nó không phải một loại công năng của tự thân, cũng không phải công năng từ bên ngoài cấp cho chư vị, mà là do một loại thể sinh mệnh ngoại lai thao túng. Thể sinh mệnh ấy nguyên đến từ tầng thứ hơi cao một chút, tối thiểu là phải cao hơn một chút so với nhân loại chúng ta, đó là chúng đang nói đó. Người mà nói vũ trụ ngữ, họ chỉ có tác dụng truyền lời thoại. Đa số người nói rằng tự bản thân họ cũng không biết ý tứ đại khái lời nói ra đó là gì, chỉ ai có công năng “tha tâm thông”, họ có thể cảm ứng được ý tứ đại khái. Vì đó không phải là công năng, [vậy mà] khá nhiều người sau khi nói, cảm thấy tự mãn lắm, còn tưởng rằng là giỏi lắm, tưởng đó là công năng. Trên thực tế người có thiên mục tầng thứ cao là đã có thể quan sát được, rằng chếch bên trên họ đảm bảo là có một thể sinh mệnh ở đó đang nói lời thoại, lợi dụng cái miệng của người đang nói kia để nói ra.

它教給他宇宙語,同時把功也傳給他一部份,但是,這個人從此就被控制在它的手裏,這就不是正法。你別看它在稍高層空間,它不是正法修煉的,所以它也不知道如何叫修煉者祛病健身,因而就採用這種方法,通過說話發放能量。因為這個能量是散射的,力量很小,它對一些小病可起一定的作用,大的就不行。佛教中講天上人沒有苦吃,沒有矛盾,不能修煉,得不到魔煉,不能提高層次,所以就想辦法幫助人祛病健身,從而自己得到一點提高。這就是宇宙語。宇宙語不是功能,也不是氣功。

Tha giáo cấp tha vũ trụ ngữ, đồng thời bả công dã truyền cấp tha nhất bộ phận, đãn thị, giá cá nhân tùng thử tựu bị khống chế tại tha đích thủ lý, giá tựu bất thị chính Pháp. Nhĩ biệt khán tha tại sảo cao tầng không gian, tha bất thị chính Pháp tu luyện đích, sở dĩ tha dã bất tri đạo như hà khiếu tu luyện giả khứ bệnh kiện thân, nhân nhi tựu thái dụng giá chủng phương pháp, thông quá thuyết thoại phát phóng năng lượng. Nhân vi giá cá năng lượng thị tản xạ đích, lực lượng ngận tiểu, tha đối nhất ta tiểu bệnh khả khởi nhất định đích tác dụng, đại đích tựu bất hành. Phật giáo trung giảng thiên thượng nhân một hữu khổ ngật, một hữu mâu thuẫn, bất năng tu luyện, đắc bất đáo ma luyện, bất năng đề cao tầng thứ, sở dĩ tựu tưởng biện pháp bang trợ nhân khứ bệnh kiện thân, tùng nhi tự kỷ đắc đáo nhất điểm đề cao. Giá tựu thị vũ trụ ngữ. Vũ trụ ngữ bất thị công năng, dã bất thị khí công.

Nó dạy cho họ vũ trụ ngữ, cũng đồng thời truyền công cho họ một phần, tuy nhiên, người kia từ đó trở đi là bị nó khống chế trong tay, đấy không phải chính Pháp. Chư vị chớ thấy nó ở tầng không gian cao cao một chút, nó không phải là tu luyện chính Pháp, nên nó cũng không biết làm thế nào khiến người tu luyện trừ bệnh khoẻ thân, là vì thế nên mới chọn loại phương pháp ấy, rằng thông qua lời nói mà phát ra năng lượng. Vì năng lượng ấy là tản xạ, lực lượng rất nhỏ, nó đối với một số bệnh nhẹ thì có thể khởi tác dụng nhất định, nhưng bệnh nặng thì chịu. Trong Phật giáo giảng người ở trên trời không có khổ mà chịu, không có mâu thuẫn, không thể tu luyện, không đạt được ma luyện, không thể đề cao tầng thứ, thế nên mới nghĩ tới biện pháp giúp người trừ bệnh khoẻ thân, từ đó bản thân đắc được một chút đề cao. Đó là vũ trụ ngữ. Vũ trụ ngữ không phải công năng, cũng không phải khí công.

(五)信息附體

(Ngũ) Tín tức phụ thể

5. Tín tức phụ thể

信息附體中危害較大的是低靈附體,這都是修練邪法招來的。它對人的傷害非常大,被附體的人後果是很可怕的。有的人練功沒練多少,一心就想給人看病、想發財,老琢磨著這些事。本來這個人很不錯,或者已有師父在管他。可是他一琢磨看病、發財的事可就壞了,他就招來了這個東西,它不在我們物質空間,但它確確實實是存在的。

Tín tức phụ thể trung nguy hại giảo đại đích thị đê linh phụ thể, giá đô thị tu luyện tà pháp chiêu lai đích. Tha đối nhân đích thương hại phi thường đại, bị phụ thể đích nhân hậu quả thị ngận khả phạ đích. Hữu đích nhân luyện công một luyện đa thiểu, nhất tâm tựu tưởng cấp nhân khán bệnh, tưởng phát tài, lão trác ma trước giá ta sự. Bản lai giá cá nhân ngận bất thác, hoặc giả dĩ hữu sư phụ tại quản tha. Khả thị tha nhất trác ma khán bệnh, phát tài đích sự khả tựu hoại liễu, tha tựu chiêu lai liễu giá cá đông tây, tha bất tại ngã môn vật chất không gian, đãn tha xác xác thực thực thị tồn tại đích.

Nguy hiểm rất lớn của tín tức phụ thể là bị phụ thể bởi linh [thể] [tầng] thấp, đó đều là tu luyện tà pháp mà chiêu dẫn tới. Nó làm hại người ta rất ghê gớm, người mà bị phụ thể thì hậu quả rất đáng sợ. Có những người luyện công luyện chưa được bao nhiêu, đã khởi tâm khám bệnh cho người khác, muốn phát tài, cứ giằng co mãi với những việc ấy. Vốn dĩ là người khá tốt, hoặc vốn đã có sư phụ quản họ. Nhưng họ hễ cứ vướng mãi vào việc khám chữa bệnh, những việc phát tài thì vậy là hỏng rồi, họ bèn chiêu dẫn những thứ đó tới, chúng không ở không gian vật chất chúng ta, nhưng chúng tồn tại một cách hết sức xác thực đó.

這個練功人突然覺的天目開了,有功了,其實是附體主宰他的大腦,它看到的圖象反映到他的大腦,覺的自己天目開了,其實根本沒有開。附體為甚麼要給他功呢?為甚麼要幫他呢?因為我們這個宇宙不允許動物修成,動物不講心性,提高不上去,不許它得正法。因此它就想附在人身上,要得人體精華。宇宙還有一個理,叫不失不得。它就滿足你名利要求,叫你發財,叫你出名。但它不會白幫你,它也要得,要得到你的精華。當它離開你的時候,你就甚麼也沒有了,變的很虛弱,或者成了植物人!這是心性不正招來的。一正壓百邪,你的心很正就招不來邪,也就是說,要堂堂正正的做煉功人,甚麼亂七八糟的都不要,就要正法修煉。

Giá cá luyện công nhân đột nhiên giác đích thiên mục khai liễu, hữu công liễu, kỳ thực thị phụ thể chủ tể tha đích đại não, tha khán đáo đích đồ tượng phản ánh đáo tha đích đại não, giác đích tự kỷ thiên mục khai liễu, kỳ thực căn bản một hữu khai. Phụ thể vi thậm ma yếu cấp tha công ni? Vi thậm ma yếu bang tha ni? Nhân vi ngã môn giá cá vũ trụ bất duẫn hứa động vật tu thành, động vật bất giảng tâm tính, đề cao bất thượng khứ, bất hứa tha đắc chính Pháp. Nhân thử tha tựu tưởng phụ tại nhân thân thượng, yếu đắc nhân thể tinh hoa. Vũ trụ hài hữu nhất cá Lý, khiếu bất thất bất đắc. Tha tựu mãn túc nhĩ danh lợi yêu cầu, khiếu nhĩ phát tài, khiếu nhĩ xuất danh. Đãn tha bất hội bạch bang nhĩ, tha dã yếu đắc, yếu đắc đáo nhĩ đích tinh hoa. Đương tha ly khai nhĩ đích thời hậu, nhĩ tựu thậm ma dã một hữu liễu, biến đích ngận hư nhược, hoặc giả thành liễu thực vật nhân! Giá thị tâm tính bất chính chiêu lai đích. Nhất chính áp bách tà, nhĩ đích tâm ngận chính tựu chiêu bất lai tà, dã tựu thị thuyết, yếu đường đường chính chính đích tố luyện công nhân, thậm ma loạn thất bát tao đích đô bất yếu, tựu yếu chính Pháp tu luyện.

Người luyện công kia đột nhiên cảm thấy đã khai mở thiên mục, đã có công, thực ra đó là phụ thể đã làm chủ đại não của họ rồi, hình ảnh mà nó nhìn thấy bèn phản ánh lên đại não của họ, [họ] cảm thấy thiên mục của mình đã mở, kỳ thực hoàn toàn chưa khai mở. Tại sao phụ thể muốn cấp công cho họ? Tại sao muốn giúp họ? Là vì vũ trụ này của chúng ta không cho phép động vật tu thành, động vật không giảng tâm tính, không đề cao lên được, không cho phép chúng đắc chính Pháp. Vì vậy chúng muốn phụ [bám vào] thân người, muốn đắc được tinh hoa của [thân] thể người. Vũ trụ còn có một cái Lý này, gọi là ‘bất thất bất đắc’. Chúng thoả mãn yêu cầu danh lợi cho chư vị, để chư vị phát tài, để chư vị nổi danh. Nhưng chúng sẽ không giúp không chư vị đâu, chúng cũng muốn đắc, muốn đắc được tinh hoa của chư vị. Tới khi chúng rời khỏi chư vị, chư vị sẽ không còn gì cả, trở thành rất yếu đuối, hoặc thành người thực vật! Đó là tâm tính bất chính đã chiêu dẫn tới. ‘Nhất chính áp bách tà’, tâm chư vị rất là ‘chính’ thì sẽ không chiêu dẫn ‘tà’, nghĩa là, hãy đường đường chính chính làm một người luyện công, đừng muốn bất kể những thứ loạn bậy nào cả, chính là muốn tu luyện chính Pháp.

(六)正功也能練出邪法

(Lục) Chính công dã năng luyện xuất tà pháp

6. Công pháp ngay chính cũng có thể luyện ra tà pháp

有些人雖然所學的功是正法,但由於不能嚴格的要求自己,不講心性,練功時想些不好的東西,這就不自覺的在練邪法了。比如練站樁功也好,練打坐也好,人在那兒練功,實際上思想在想錢呀,想名利呀,想誰對我不好了我出功能整整他呀;或者想這功能那功能呀等等,把一些不好的東西加進功裏去,實際上是在練邪法了。這是很危險的,就有可能招來一些不好的東西,比如低靈這些東西,也許他招來了他還不知道。因為他執著心太強,抱著有求之心學道是不行的,他心地不正,師父也沒辦法保護他。所以,煉功人一定嚴守心性,心正無所求,否則就可能出問題。

Hữu ta nhân tuy nhiên sở học đích công thị chính Pháp, đãn do ư bất năng nghiêm cách đích yêu cầu tự kỷ, bất giảng tâm tính, luyện công thời tưởng ta bất hảo đích đông tây, giá tựu bất tự giác đích tại luyện tà pháp liễu. Tỷ như luyện trạm trang công dã hảo, luyện đả toạ dã hảo, nhân tại na nhi luyện công, thực tế thượng tư tưởng tại tưởng tiền nha, tưởng danh lợi nha, tưởng thuỳ đối ngã bất hảo liễu ngã xuất công năng chỉnh chỉnh tha nha; hoặc giả tưởng giá công năng na công năng nha đẳng đẳng, bả nhất ta bất hảo đích đông tây gia tiến công lý khứ, thực tế thượng thị tại luyện tà pháp liễu. Giá thị ngận nguy hiểm đích, tựu hữu khả năng chiêu lai nhất ta bất hảo đích đông tây, tỷ như đê linh giá ta đông tây, dã hứa tha chiêu lai liễu tha hài bất tri đạo. Nhân vi tha chấp trước tâm thái cường, bão trước hữu cầu chi tâm học Đạo thị bất hành đích, tha tâm địa bất chính, sư phụ dã một biện pháp bảo hộ tha. Sở dĩ, luyện công nhân nhất định nghiêm thủ tâm tính, tâm chính vô sở cầu, phủ tắc tựu khả năng xuất vấn đề.

Có những người tuy rằng công mà họ học là chính Pháp, nhưng vì [họ] không thể nghiêm khắc yêu cầu bản thân mình, không [coi trọng] giảng tâm tính, khi luyện công lại suy nghĩ những thứ bất hảo, đó đã là luyện tà pháp một cách không tự biết. Chẳng hạn như luyện công đứng trạm trang hoặc là ngồi đả toạ, [đành rằng] người là ở đó luyện công, nhưng trên thực tế tư tưởng đang nghĩ đến nào là tiền, nghĩ tới nào là danh lợi, nghĩ tới nào là ‘ai đó đối xử bất hảo với ta thì đến khi ta xuất công năng sẽ chỉnh chỉnh họ’; hoặc nghĩ tới công năng này công năng kia, v.v. đưa những thứ bất hảo đó thêm vào trong công, trên thực tế chính đã đang luyện tà pháp rồi. Điều này rất nguy hiểm, chính là có khả năng chiêu dẫn những thứ bất hảo tới, chẳng hạn như những linh [thể] [tầng] thấp, có lẽ họ đã chiêu dẫn tới mà họ không hề biết. Là vì tâm chấp trước của họ quá mạnh mẽ, ôm giữ tâm hữu cầu mà học Đạo thì không được đâu, tâm địa của họ bất chính, thì sư phụ cũng không cách nào bảo hộ họ được. Do đó, người luyện công nhất định phải giữ gìn vững chắc tâm tính, tâm chính vô sở cầu, nếu không sẽ có thể xuất hiện vấn đề.


 

Chương II • Pháp Luân Công

第二章 • 法輪功

Đệ nhị chương: Pháp Luân Công

Chương II: Pháp Luân Công

法輪功源出於佛家法輪修煉大法,他是一種佛家氣功修煉的特殊方法,但有其不同於一般佛家修煉方法的獨到之處。本功法過去要求修煉者要有極高心性的大根器之人所學的特殊的強化修煉。為了使更多的煉功人得到提高,同時又滿足於廣大有志於修煉者的要求,特將本功法整理出一套適合普及的修煉方法傳出,即使這樣,他也已經大大超出一般功法所學的東西與層次了。

Pháp Luân Công nguyên xuất ư Phật gia Pháp Luân Tu Luyện Đại Pháp, Tha thị nhất chủng Phật gia khí công tu luyện đích đặc thù phương pháp, đãn hữu kỳ bất đồng ư nhất ban Phật gia tu luyện phương pháp đích độc đáo chi xứ. Bản công pháp quá khứ yêu cầu tu luyện giả yếu hữu cực cao tâm tính đích đại căn khí chi nhân sở học đích đặc thù đích cường hoá tu luyện. Vi liễu sử cánh đa đích luyện công nhân đắc đáo đề cao, đồng thời hựu mãn túc ư quảng đại hữu chí ư tu luyện giả đích yêu cầu, đặc tương bản công pháp chỉnh lý xuất nhất sáo thích hợp phổ cập đích tu luyện phương pháp truyền xuất, tức sử giá dạng, Tha dã dĩ kinh đại đại siêu xuất nhất ban công pháp sở học đích đông tây dữ tầng thứ liễu.

Pháp Luân Công nguyên xuất phát từ Pháp Luân Tu Luyện Đại Pháp của Phật gia, Nó là một loại phương pháp đặc thù của tu luyện khí công Phật gia, nhưng Nó có những chỗ độc đáo khác với phương pháp tu luyện thông thường của Phật gia. Trong quá khứ công pháp này yêu cầu người tu luyện phải tu luyện tăng cường một cách đặc thù vốn thuộc về cái học của người đại căn khí với tâm tính cực cao. Để nhiều người luyện công hơn nữa đắc được đề cao, đồng thời cũng thoả mãn yêu cầu của đông đảo những người có chí tu luyện, [tôi] đã đặc cách chỉnh lý bộ công pháp này để đưa ra một bộ phương pháp thích hợp cho việc tu luyện phổ cập, tuy như vậy, Nó cũng vẫn vượt hơn rất xa về học thuật và tầng thứ so với các công pháp thông thường.

一、法輪的作用

Nhất, Pháp Luân đích tác dụng

I. Tác dụng của Pháp Luân

法輪功的法輪具有同宇宙一樣的特性,他是宇宙的縮影。修煉法輪功者不但可以快速增長功能和功力,而且會在很短的時間裏煉出威力無比的法輪來。法輪形成以後,是以一種有靈性的生命體存在,平時在煉功者的小腹處自動旋轉不停,不斷的從宇宙中採集、演化能量,最後在煉功者本體中轉化為功,從而達到法煉人的效果,也就是說,雖然人沒有時時在煉功,而法輪在不斷的煉人。法輪內用度己,具有強身健體、開智開慧和保護煉功者不出偏差的作用,並且能保護修煉者免受心性差的人侵擾;法輪外用度人,可以給人治病除邪,改變一切不正常狀態。法輪在小腹處不停的旋轉,正(順時針)轉九圈,反(時針)轉九圈。正轉時從宇宙猛烈的吸取能量,能量非常大。隨著功力的增長旋轉的力量越來越大,是人為的捧氣灌頂所達不到的;反轉時發放能量,普度眾生,糾正不正確的狀態,在煉功者附近的人都要受益。在我們國家所有傳出的這些氣功當中,法輪功是唯獨頭一份能達到法煉人的功法。

Pháp Luân Công đích Pháp Luân cụ hữu đồng vũ trụ nhất dạng đích đặc tính, Tha thị vũ trụ đích súc ảnh. Tu luyện Pháp Luân Công giả bất đãn khả dĩ khoái tốc tăng trưởng công năng hoà công lực, nhi thả hội tại ngận đoản đích thời gian lý luyện xuất uy lực vô tỷ đích Pháp Luân lai. Pháp Luân hình thành dĩ hậu, thị dĩ nhất chủng hữu linh tính đích sinh mệnh thể tồn tại, bình thời tại luyện công giả đích tiểu phúc xứ tự động toàn chuyển bất đình, bất đoạn đích tùng vũ trụ trung thái tập, diễn hoá năng lượng, tối hậu tại luyện công giả bản thể trung chuyển hoá vi công, tùng nhi đạt đáo Pháp luyện nhân đích hiệu quả, dã tựu thị thuyết, tuy nhiên nhân một hữu thời thời tại luyện công, nhi Pháp Luân tại bất đoạn đích luyện nhân. Pháp Luân nội dụng độ kỷ, cụ hữu cường thân kiện thể, khai trí khai huệ hoà bảo hộ luyện công giả bất xuất thiên sai đích tác dụng, tịnh thả năng bảo hộ tu luyện giả miễn thụ tâm tính sai đích nhân xâm nhiễu; Pháp Luân ngoại dụng độ nhân, khả dĩ cấp nhân trị bệnh trừ tà, cải biến nhất thiết bất chính thường trạng thái. Pháp Luân tại tiểu phúc xứ bất đình đích toàn chuyển, chính (thuận thời châm) chuyển cửu khuyên, phản (thời châm) chuyển cửu khuyên. Chính chuyển thời tùng vũ trụ mãnh liệt đích hấp thủ năng lượng, năng lượng phi thường đại. Tuỳ trước công lực đích tăng trưởng toàn chuyển đích lực lượng việt lai việt đại, thị nhân vi đích phủng khí quán đỉnh sở đạt bất đáo đích; phản chuyển thời phát phóng năng lượng, phổ độ chúng sinh, củ chính bất chính xác đích trạng thái, tại luyện công giả phụ cận đích nhân đô yếu thụ ích. Tại ngã môn quốc gia sở hữu truyền xuất đích giá ta khí công đương trung, Pháp Luân Công thị duy độc đầu nhất phần năng đạt đáo Pháp luyện nhân đích công pháp.

Pháp Luân của Pháp Luân Công mang đầy đủ đồng dạng đặc tính với vũ trụ, Nó là ảnh thu nhỏ của vũ trụ. Người tu luyện Pháp Luân Công không chỉ có thể nhanh chóng tăng trưởng công năng và công lực, mà còn trong một thời gian ngắn sẽ luyện thành Pháp Luân có uy lực không gì sánh được. Pháp Luân sau khi hình thành, sẽ tồn tại như một thể sinh mệnh có linh tính, lúc bình thường tự động xoay chuyển không ngừng ở chỗ bụng dưới người tu luyện, không ngừng thu thập và diễn hoá năng lượng vũ trụ, cuối cùng ở trong bản thể người tu luyện chuyển hoá thành ‘công’, từ đó đạt được hiệu quả ‘Pháp luyện người’, nghĩa là, tuy người ta không phải lúc nào cũng luyện công, mà Pháp Luân đang không ngừng luyện người, Pháp Luân dùng bên trong để độ bản thân, có đầy đủ tác dụng khiến thân thể khoẻ mạnh, khai mở trí huệ và bảo hộ người luyện công khỏi bị thiên sai, ngoài ra cũng bảo hộ người tu luyện khỏi bị xâm nhiễu bởi những người tâm tính kém; Pháp Luân dùng bên ngoài để độ nhân, có thể giúp người trị bệnh trừ tà, cải biến hết thảy những trạng thái bất thường. Pháp Luân không ngừng xoay chuyển ở chỗ bụng dưới, xoay chuyển thuận (chiều kim đồng hồ) chín vòng, xoay ngược (chiều kim đồng hồ) chín vòng. Xoay thuận thì mạnh mẽ hấp thu năng lượng từ vũ trụ, năng lượng lớn phi thường. Thuận theo việc công lực tăng trưởng thì lực lượng xoay chuyển càng ngày càng lớn, dù cố ý bưng khí quán đỉnh cũng không đạt tới như thế; khi xoay ngược thì phát phóng năng lượng, phổ độ chúng sinh, chỉnh lại những trạng thái không ngay chính, người ở gần người luyện công đều được lợi ích. Ở nước ta trong tất cả môn khí công được truyền ra, thì duy nhất Pháp Luân Công là công pháp đạt được ‘Pháp luyện người’.

法輪是最珍貴的,是千金不換的東西。我的師父在傳給我法輪的時候對我說:這個法輪誰也不能傳的,千年修道的人都想得到他可他得不到。我們這個法門經過一個相當相當的久遠的年代才能傳給一個人,和那個幾十年傳一個還不一樣,所以法輪是極其珍貴的。現在,我們雖然把他拿出來演化的沒有原來那麼大的威力了,可是他也是極其珍貴的。修煉者得到他就等於修成一半了,剩下的只要你提高心性,將來就有一個相當高的層次在等著你。當然,沒有緣份的人,將來他自己煉煉就不行了,法輪也就不存在了。

Pháp Luân thị tối trân quý đích, thị thiên kim bất hoán đích đông tây. Ngã đích Sư phụ tại truyền cấp ngã Pháp Luân đích thời hậu đối ngã thuyết: Giá cá Pháp Luân thuỳ dã bất năng truyền đích, thiên niên tu Đạo đích nhân đô tưởng đắc đáo tha khả Tha đắc bất đáo. Ngã môn giá cá pháp môn kinh quá nhất cá tương đương tương đương đích cửu viễn đích niên đại tài năng truyền cấp nhất cá nhân, hoà na cá kỷ thập niên truyền nhất cá hài bất nhất dạng, sở dĩ Pháp Luân thị cực kỳ trân quý đích. Hiện tại, ngã môn tuy nhiên bả Tha nã xuất lai diễn hoá đích một hữu nguyên lai na ma đại đích uy lực liễu, khả thị Tha dã thị cực kỳ trân quý đích. Tu luyện giả đắc đáo Tha tựu đẳng ư tu thành nhất bán liễu, thặng hạ đích chỉ yếu nhĩ đề cao tâm tính, tương lai tựu hữu nhất cá tương đương cao đích tầng thứ tại đẳng trước nhĩ. Đương nhiên, một hữu duyên phận đích nhân, tương lai tha tự kỷ luyện luyện tựu bất hành liễu, Pháp Luân dã tựu bất tồn tại liễu.

Pháp Luân là trân quý nhất, lấy bao nhiêu vàng cũng không đổi được. Khi truyền Pháp Luân cho tôi thì Sư phụ của tôi đã bảo tôi rằng: ‘Pháp Luân này không thể cho bất kỳ ai, cả những người tu Đạo hàng nghìn năm cũng muốn đắc được Nó nhưng họ không đắc được’. Pháp môn chúng tôi trải qua hằng bao nhiêu niên đại vô cùng lâu dài mới có thể truyền cho một người, khác với những [công pháp] mà cứ mấy chục năm là truyền cho một người, do đó Pháp Luân là cực kỳ trân quý. Hiện nay, chúng tôi tuy rằng đưa Nó ra diễn hoá và không còn uy lực to lớn như nguyên ban đầu, nhưng Nó cũng cực kỳ trân quý. Người tu luyện đắc được Nó cũng bằng như tu thành một nửa rồi, còn lại chỉ là cần chư vị đề cao tâm tính, tương lai là một tầng thứ rất cao đang đón chờ chư vị. Đương nhiên, người mà không có duyên phận, thì tương lai tự họ luyện luyện và không đạt, Pháp Luân cũng không tồn tại nữa.

法輪功是佛家功,但他完全超出了佛家的範圍,煉的是整個宇宙。過去佛家修煉就講佛家的理,道家修煉就講道家的理,誰也沒有從根本上把宇宙說透。宇宙同人一樣,除了物質構成以外,還有它的特性存在,概括起來就是三個字,叫作「真、善、忍」。道家修煉主要悟在「真」上,說真話,辦真事,返本歸真,最後達到做真人。佛家修煉重點放在「善」上,生出大慈悲心,普度眾生。我們這個法門是「真、善、忍」同修,直接從宇宙的根本特性上去修煉,最終達到同宇宙的同化。

Pháp Luân Công thị Phật gia công, đãn Tha hoàn toàn siêu xuất liễu Phật gia đích phạm vi, luyện đích thị chỉnh cá vũ trụ. Quá khứ Phật gia tu luyện tựu giảng Phật gia đích Lý, Đạo gia tu luyện tựu giảng Đạo gia đích Lý, thuỳ dã một hữu tùng căn bản thượng bả vũ trụ thuyết thấu. Vũ trụ đồng nhân nhất dạng, trừ liễu vật chất cấu thành dĩ ngoại, hài hữu tha đích đặc tính tồn tại, khái quát khởi lai tựu thị tam cá tự, khiếu tác “Chân-Thiện-Nhẫn”. Đạo gia tu luyện chủ yếu ngộ tại “Chân” thượng, thuyết Chân thoại, biện Chân sự, phản bổn quy chân, tối hậu đạt đáo tố Chân Nhân. Phật gia tu luyện trọng điểm phóng tại “Thiện” thượng, sinh xuất Đại Từ Bi tâm, phổ độ chúng sinh. Ngã môn giá cá pháp môn thị “Chân-Thiện-Nhẫn” đồng tu, trực tiếp tùng vũ trụ đích căn bản đặc tính thượng khứ tu luyện, tối chung đạt đáo đồng vũ trụ đích đồng hoá.

Pháp Luân Công là công [pháp] Phật gia, nhưng Nó đã hoàn toàn vượt xa khỏi phạm vi của Phật gia, [điều được] luyện là vũ trụ hoàn chỉnh. Trong quá khứ tu luyện Phật gia là giảng Lý của Phật gia, tu luyện Đạo gia là giảng Lý của Đạo gia, không ai nói thấu suốt về vũ trụ từ căn bản. Vũ trụ cũng như người, ngoài cấu thành vật chất ra, thì còn tồn tại đặc tính của nó, nói khái quát chính là ba chữ, gọi là “Chân-Thiện-Nhẫn”. Tu luyện của Đạo gia chủ yếu là ngộ ở chữ “Chân”, nói lời Chân, làm việc Chân, phản bổn quy chân, cuối cùng đạt tới làm Chân Nhân. Tu luyện của Phật gia trọng điểm đặt ở chữ “Thiện”, sinh ra tâm Đại Từ Bi, phổ độ chúng sinh. Pháp môn của chúng ta là đồng thời tu “Chân-Thiện-Nhẫn”, trực tiếp dựa trên đặc tính căn bản của vũ trụ mà tu luyện, cuối cùng đạt tới đồng hoá với vũ trụ.

法輪功是性命雙修功法,在功力和心性上達到一定層次以後,要求在世間就達到開悟(開功)的狀態,修成不壞之體。法輪功大體上分為世間法和出世間法等諸多層次,望廣大有志者勤於修煉,不斷提高心性,達到圓滿。

Pháp Luân Công thị tính mệnh song tu công pháp, tại công lực hoà tâm tính thượng đạt đáo nhất định tầng thứ dĩ hậu, yêu cầu tại thế gian tựu đạt đáo khai ngộ (khai công) đích trạng thái, tu thành bất hoại chi thể. Pháp Luân Công đại thể thượng phân vi thế gian pháp hoà xuất thế gian pháp đẳng chư đa tầng thứ, vọng quảng đại hữu chí giả cần ư tu luyện, bất đoạn đề cao tâm tính, đạt đáo viên mãn.

Pháp Luân Công là công pháp ‘tính mệnh song tu’, sau khi công lực và tâm tính đạt tới một tầng thứ nhất định, yêu cầu ở thế gian đạt được trạng thái khai công (khai ngộ), [và] tu thành [thân] thể bất hoại. Pháp Luân Công về đại thể là phân thành ‘thế gian pháp’ và ‘xuất thế gian pháp’ vốn [mỗi cái] có rất nhiều tầng thứ, mong rằng đông đảo những người có chí sẽ chuyên cần tu luyện, không ngừng đề cao tâm tính, đạt tới viên mãn.

二、法輪的形態構成

Nhị, Pháp Luân đích hình thái cấu thành

II. Hình thái cấu thành của Pháp Luân

法輪功的法輪是有靈性的旋轉的高能量物質體。法輪是按照整個天體宇宙運行規律在旋轉著,在某種意義上說,法輪是宇宙的縮影。

Pháp Luân Công đích Pháp Luân thị hữu linh tính đích toàn chuyển đích cao năng lượng vật chất thể. Pháp Luân thị án chiếu chỉnh cá thiên thể vũ trụ vận hành quy luật tại toàn chuyển trước, tại mỗ chủng ý nghĩa thượng thuyết, Pháp Luân thị vũ trụ đích súc ảnh.

Pháp Luân của Pháp Luân Công là thể vật chất cao năng lượng xoay chuyển có linh tính. Pháp Luân là chiểu theo quy luật vận hành của chỉnh thể vũ trụ thiên thể mà xoay chuyển, theo một ý nghĩa nào đó mà nói, Pháp Luân là ảnh thu nhỏ của vũ trụ.

法輪中間是佛家「卍」字符〔『卍』(音萬)在梵文中作Srivatsa,意為『吉祥之所集』(見《辭海》)〕,是法輪的核心,其顏色近乎金黃色,底色是非常鮮豔的大紅色。外圈底色是橙黃色。四位太極和四位佛家法輪,他們隔一排一,分布在八個方位上。由紅黑顏色組成的太極是道家的;由紅藍顏色組成的太極是先天大道的。四位小法輪也是金黃色的,法輪的底色會變化,赤橙黃綠青藍紫周期變化,顏色非常漂亮(參看封面圖)。中心「卍」字符和太極顏色不變化。這些大小法輪和「卍」字符都在自轉。法輪的根生在宇宙,宇宙在轉,各個星系在轉,所以法輪也在轉。對於天目層次低的人,能夠看到法輪像風扇一樣旋轉;對於天目層次高的人,能夠看到法輪的全景,那是非常好看、非常鮮豔的,會使煉功人的修煉更加勇猛精進。

Pháp Luân trung gian thị Phật gia “vạn” tự phù (“vạn” (âm vạn) tại Phạn văn trung tác Srivatsa, ý vi “cát tường chi sở tập” (kiến «Từ Hải»)), thị Pháp Luân đích hạch tâm, kỳ nhan sắc cận hồ kim hoàng sắc, để sắc thị phi thường tiên diễm đích đại hồng sắc. Ngoại khuyên để sắc thị tranh hoàng sắc. Tứ vị Thái Cực hoà tứ vị Phật gia Pháp Luân, tha môn cách nhất bài nhất, phân bố tại bát cá phương vị thượng. Do hồng hắc nhan sắc tổ thành đích Thái Cực thị Đạo gia đích; do hồng lam nhan sắc tổ thành đích Thái Cực thị Tiên Thiên Đại Đạo đích. Tứ vị tiểu Pháp Luân dã thị kim hoàng sắc đích, Pháp Luân đích để sắc hội biến hoá, xích tranh hoàng lục thanh lam tử chu kỳ biến hoá, nhan sắc phi thường phiêu lượng (tham khán phong diện đồ). Trung tâm “vạn” tự phù hoà Thái Cực nhan sắc bất biến hoá. Giá ta đại tiểu Pháp Luân hoà “vạn” tự phù đô tại tự chuyển. Pháp Luân đích căn sinh tại vũ trụ, vũ trụ tại chuyển, các cá tinh hệ tại chuyển, sở dĩ Pháp Luân dã tại chuyển. Đối ư thiên mục tầng thứ đê đích nhân, năng cú khán đáo Pháp Luân tượng phong phiến nhất dạng toàn chuyển; đối ư thiên mục tầng thứ cao đích nhân, năng cú khán đáo Pháp Luân đích toàn cảnh, na thị phi thường hảo khán, phi thường tiên diễm đích, hội sử luyện công nhân đích tu luyện cánh gia dũng mãnh tinh tấn.

Trong Pháp Luân là phù [hiệu] chữ “” của Phật gia (chữ “”, đọc là “vạn”, là Srivatsa trong tiếng Phạn, mang nghĩa “thâu tập may mắn cát tường” (xem [từ điển] «Từ Hải»)), đó là hạch tâm của Pháp Luân, màu sắc của Nó gần như màu vàng kim, và màu nền là màu đỏ tươi sáng. Màu nền của hình tròn bên ngoài là màu cam. Thái Cực ở bốn bên và hình Pháp Luân của Phật gia[1] ở bốn bên được sắp xếp xen kẽ, đặt ở tám phương vị. Hình Thái Cực tổ hợp từ màu đỏ và màu đen là của Đạo gia; hình Thái Cực tổ hợp từ màu đỏ và xanh lam là của Tiên Thiên Đại Đạo. Bốn hình Pháp Luân nhỏ[2] cũng là màu vàng kim, màu nền của Pháp Luân là thay đổi, chu kỳ biến hoá đỏ cam vàng lục xanh lam tím, màu sắc hết sức đẹp (xem hình ở đầu cuốn sách). Màu của chữ “” ở giữa và các hình Thái Cực là không đổi. Các Pháp Luân nhỏ và lớn này cũng như hình chữ “” đều tự xoay chuyển. Gốc rễ của Pháp Luân gắn nơi vũ trụ, vũ trụ đang xoay chuyển, các thiên hà đang xoay chuyển, do đó Pháp Luân cũng đang xoay chuyển. Với người có thiên mục tầng thứ thấp, có thể là thấy Pháp Luân giống như quạt máy đang quay; đối với người có thiên mục tầng thứ cao, có thể thấy toàn cảnh Pháp Luân, hết sức đẹp mắt, vô cùng tươi sáng, sẽ khiến tu luyện của người luyện công càng thêm dũng mãnh tinh tấn.

[1] Hiểu là hình chữ “”.

[2] Hiểu là hình chữ “”.

三、法輪功的修煉特點

Tam, Pháp Luân Công đích tu luyện đặc điểm

III. Đặc điểm tu luyện Pháp Luân Công

(一)法煉人

(Nhất) Pháp luyện nhân

1. Pháp luyện người

學習法輪功者不但可以快速增長功力與功能,而且可以煉出法輪來。法輪會在很短的時間裏形成,一旦形成,其威力很大,他可以保護煉功者不出偏差,而且能保護本人不受心性差的人侵擾。理論上也完全不同於傳統的修法。因為法輪形成後,會自轉不停,是以一種有靈性的生命體存在,平時在煉功人的小腹處不斷儲備能量。法輪是通過旋轉自動的從宇宙中採集能量。正因為他的自轉不停,從而達到了法煉人的目地,也就是人沒有時時在煉功,而法輪在不停的煉人。人們知道,常人白天要工作,晚間要休息,煉功時間很有限。要想達到二十四小時不停的煉功,只有所謂的時刻想著練功是不行的,或者採取甚麼方法等,都難以達到真正二十四小時都在煉功的目地。然而法輪不斷的旋轉,從宇宙中向內旋進大量的氣(初期能量存在的形式),晝夜不停、時刻不停的把吸進的氣在法輪的各個方位中儲存轉化,把氣變成為更高級的物質,最後在修煉者體上轉化成「功」,這就是法煉人。法輪功的修煉完全不同於各家、各門派丹道氣功的煉功學說。

Học tập Pháp Luân Công giả bất đãn khả dĩ khoái tốc tăng trưởng công lực dữ công năng, nhi thả khả dĩ luyện xuất Pháp Luân lai. Pháp Luân hội tại ngận đoản đích thời gian lý hình thành, nhất đán hình thành, kỳ uy lực ngận đại, Tha khả dĩ bảo hộ luyện công giả bất xuất thiên sai, nhi thả năng bảo hộ bản nhân bất thụ tâm tính sai đích nhân xâm nhiễu. Lý luận thượng dã hoàn toàn bất đồng ư truyền thống đích tu pháp. Nhân vi Pháp Luân hình thành hậu, hội tự chuyển bất đình, thị dĩ nhất chủng hữu linh tính đích sinh mệnh thể tồn tại, bình thời tại luyện công nhân đích tiểu phúc xứ bất đoạn trữ bị năng lượng. Pháp Luân thị thông quá toàn chuyển tự động đích tùng vũ trụ trung thái tập năng lượng. Chính nhân vi Tha đích tự chuyển bất đình, tùng nhi đạt đáo liễu Pháp luyện nhân đích mục địa, dã tựu thị nhân một hữu thời thời tại luyện công, nhi Pháp Luân tại bất đình đích luyện nhân. Nhân môn tri đạo, thường nhân bạch thiên yếu công tác, vãn gian yếu hưu tức, luyện công thời gian ngận hữu hạn. Yếu tưởng đạt đáo nhị thập tứ tiểu thời bất đình đích luyện công, chỉ hữu sở vị đích thời khắc tưởng trước luyện công thị bất hành đích, hoặc giả thái thủ thậm ma phương pháp đẳng, đô nan dĩ đạt đáo chân chính nhị thập tứ tiểu thời đô tại luyện công đích mục địa. Nhiên nhi Pháp Luân bất đoạn đích toàn chuyển, tùng vũ trụ trung hướng nội toàn tiến đại lượng đích khí (sơ kỳ năng lượng tồn tại đích hình thức), trú dạ bất đình, thời khắc bất đình đích bả hấp tiến đích khí tại Pháp Luân đích các cá phương vị trung trữ tồn chuyển hoá, bả khí biến thành vi cánh cao cấp đích vật chất, tối hậu tại tu luyện giả thể thượng chuyển hoá thành “công”, giá tựu thị Pháp luyện nhân. Pháp Luân Công đích tu luyện hoàn toàn bất đồng ư các gia, các môn phái đan đạo khí công đích luyện công học thuyết.

Người học Pháp Luân Công không chỉ có thể nhanh chóng tăng trưởng công lực và công năng, mà còn có thể luyện xuất ra Pháp Luân. Pháp Luân sẽ hình thành trong một thời gian rất ngắn, một khi hình thành, uy lực rất lớn, Nó có thể bảo hộ người luyện khỏi xuất [hiện] thiên sai, hơn nữa có thể bảo hộ người ấy khỏi bị xâm nhiễu của những người tâm tính kém. Về lý luận là hoàn toàn khác với các pháp tu truyền thống. Bởi vì Pháp Luân sau khi hình thành, sẽ tự chuyển không ngừng, tồn tại như một thể sinh mệnh có linh tính, lúc bình thường luôn ở vị trí bụng dưới mà không ngừng tích trữ năng lượng. Pháp Luân là thông qua xoay chuyển mà tự động thu gom năng lượng từ vũ trụ. Chính là vì Nó tự chuyển không ngừng, mà đạt được mục đích ‘Pháp luyện người’, nghĩa là người ta không luyện công mọi thời mọi lúc, nhưng Pháp Luân đang liên tục ‘luyện người’. Người ta đều biết, người thường ban ngày cần đi làm công tác, tối cần nghỉ ngơi, thời gian luyện công rất hữu hạn, nếu muốn đạt được 24 giờ đều không ngừng luyện công, thì chỉ có cái gọi là ‘suy nghĩ mọi thời đều đang luyện công’ thì không được đâu, hoặc là chọn một phương pháp nào đó, đều khó mà đạt được mục đích thật sự là 24 giờ đều đang luyện công. Nhưng mà Pháp Luân xoay chuyển không ngừng, từ vũ trụ mà xoay hút vào trong những lượng lớn khí (hình thức tồn tại của năng lượng thời ban đầu), ngày đêm không ngừng, mọi thời mọi lúc đều không ngừng hút khí vào và ở các vị trí trong Pháp Luân mà trữ tồn chuyển hoá, khiến khí ấy biến thành vật chất cao cấp hơn, cuối cùng chuyển hoá thành “công” ở [thân] thể người tu luyện, đó chính là ‘Pháp luyện người’. Tu luyện của Pháp Luân Công hoàn toàn khác với học thuyết luyện công kiểu khí công ‘đan đạo’ các ‘gia’ và các ‘môn phái’.

法輪功修煉的最大特點是修煉法輪,不走丹道。目前傳出來的不管是哪一家哪一門派的功法,佛教道教的各個功派,佛家的、道家的、民間的,許多旁門中的修法,都是走丹道的,叫丹道氣功。和尚、尼姑、老道的修煉都是走了丹道這個路子。百年之後火化的時候,會煉出舍利子。現在科學儀器測不出它是用甚麼物質構成的,非常堅硬、好看。實際上它是另外空間採集來的高能量物質,不是我們這個空間的東西,就是那個丹。丹道氣功想在有生之年達到開悟狀態是非常難的,過去很多煉丹道的人提丹,一到泥丸宮丹就提不出來,人就憋死在這兒了。有的想人為的把它炸掉,可是沒有辦法把它炸開。有的就有這樣的,他的爺爺沒煉成,百年之後吐給他爹;他爹沒煉成,百年之後吐給他。到現在他還是甚麼也不是,很難!當然,有很多功法也是很好的,要得真傳了也不錯,就怕他沒有傳給你那麼高級的東西。

Pháp Luân Công tu luyện đích tối đại đặc điểm thị tu luyện Pháp Luân, bất tẩu đan đạo. Mục tiền truyền xuất lai đích bất quản thị nả nhất gia nả nhất môn phái đích công pháp, Phật giáo Đạo giáo đích các cá công phái, Phật gia đích, Đạo gia đích, dân gian đích, hứa đa bàng môn trung đích tu pháp, đô thị tẩu đan đạo đích, khiếu đan đạo khí công. Hoà thượng, ni cô, lão đạo đích tu luyện đô thị tẩu liễu đan đạo giá cá lộ tử. Bách niên chi hậu hoả hoá đích thời hậu, hội luyện xuất xả lợi tử. Hiện tại khoa học nghi khí trắc bất xuất tha thị dụng thậm ma vật chất cấu thành đích, phi thường kiên ngạnh, hảo khán. Thực tế thượng tha thị lánh ngoại không gian thái tập lai đích cao năng lượng vật chất, bất thị ngã môn giá cá không gian đích đông tây, tựu thị na cá đan. Đan đạo khí công tưởng tại hữu sinh chi niên đạt đáo khai ngộ trạng thái thị phi thường nan đích, quá khứ ngận đa luyện đan đạo đích nhân đề đan, nhất đáo nê hoàn cung đan tựu đề bất xuất lai, nhân tựu biệt tử tại giá nhi liễu. Hữu đích tưởng nhân vi đích bả tha tạc điệu, khả thị một hữu biện pháp bả tha tạc khai. Hữu đích tựu hữu giá dạng đích, tha đích gia gia một luyện thành, bách niên chi hậu thổ cấp tha đa; tha đa một luyện thành, bách niên chi hậu thổ cấp tha. Đáo hiện tại tha hài thị thậm ma dã bất thị, ngận nan! Đương nhiên, hữu ngận đa công pháp dã thị ngận hảo đích, yếu đắc chân truyền liễu dã bất thác, tựu phạ tha một hữu truyền cấp nhĩ na ma cao cấp đích đông tây.

Đặc điểm lớn nhất của tu luyện Pháp Luân Công là tu luyện Pháp Luân, không theo đan đạo. Hiện nay truyền xuất ra kia bất kể là công pháp của gia nào môn phái nào, công phái của Phật giáo hay Đạo giáo, của Phật gia hay Đạo gia, hay trong dân gian, và rất nhiều pháp tu của bàng môn nữa, đều là tẩu ‘đan đạo’, gọi là ‘khí công đan đạo’. Tu luyện của hoà thượng, ni cô, lão đạo đều là theo con đường đan đạo ấy. Khi hoả táng lúc trăm tuổi [lâm chung], thì sẽ luyện ra xá-lợi-tử. Các máy đo lường khoa học ngày nay đo không ra được nó là cấu thành từ vật chất gì, phi thường cứng rắn và đẹp mắt. Trên thực tế nó là vật chất cao năng lượng gom chọn từ không gian khác, chứ không phải là thứ của không gian này của chúng ta, đó là ‘đan’. Khí công đan đạo hết sức khó mà đạt được trạng thái khai ngộ trong những năm tháng cuộc đời, quá khứ có rất nhiều người luyện khí công đan đạo [muốn] ‘đề đan’, khi [đề] tới ‘nê hoàn cung’ thì không xuất ra được, và người đó bị tắc và chết ở đó. Có người muốn cố ý tạc nổ nó, nhưng không có cách nào tạc nổ nó cả. Có người như thế này, ông của họ không luyện thành, trăm tuổi [lâm chung] bèn nhổ ra đưa cho bố của họ; rồi bố của họ tu không thành, khi trăm tuổi [lâm chung] bèn nhổ ra đưa cho họ. Tới giờ họ vẫn không là gì cả, rất khó! Đương nhiên, có rất nhiều công pháp cũng rất là tốt, nếu được chân truyền thì cũng tốt lắm, chỉ e rằng họ không truyền cho chư vị những thứ cao cấp mà thôi.

(二)修煉主意識

(Nhị) Tu luyện chủ ý thức

2. Tu luyện chủ ý thức

每個人都有一個主意識,平時做事情、想問題就是靠主意識。一個人除主意識外,還有一個至幾個副意識存在,同時還有家族中祖輩的信息。副意識和主意識叫一樣的名字。副意識一般都比主意識能力強、層次高,他不被我們常人社會所迷,他可以看到他特定的空間。好多功法都走了修煉副意識的路,他的肉身、主意識只起載體作用,這種事情煉功人還往往不知道,甚至還得意洋洋。人生活在社會當中,現實的東西讓他放棄太難了,尤其是他所執著的東西。所以有許多功法強調在定中過,絕對的入定,在定中演化的時候,是他副意識在那個社會中演化,在演化中得到提高。有一天他的副意識修上去了,他帶走了你的功,你的主意識和本體將甚麼都沒有了,你一輩子修煉就前功盡棄了,那是很可惜的。有一些知名的氣功師,各種功能很大,名望很高,可是他的功根本就沒有長在他自己身上,他還不知道。

Mỗi cá nhân đô hữu nhất cá chủ ý thức, bình thời tố sự tình, tưởng vấn đề tựu thị kháo chủ ý thức. Nhất cá nhân trừ chủ ý thức ngoại, hài hữu nhất cá chí kỷ cá phó ý thức tồn tại, đồng thời hài hữu gia tộc trung tổ bối đích tín tức. Phó ý thức hoà chủ ý thức khiếu nhất dạng đích danh tự. Phó ý thức nhất ban đô tỷ chủ ý thức năng lực cường, tầng thứ cao, tha bất bị ngã môn thường nhân xã hội sở mê, tha khả dĩ khán đáo tha đặc định đích không gian. Hảo đa công pháp đô tẩu liễu tu luyện phó ý thức đích lộ, tha đích nhục thân, chủ ý thức chỉ khởi tải thể tác dụng, giá chủng sự tình luyện công nhân hài vãng vãng bất tri đạo, thậm chí hài đắc ý dương dương. Nhân sinh hoạt tại xã hội đương trung, hiện thực đích đông tây nhượng tha phóng khí thái nan liễu, vưu kỳ thị tha sở chấp trước đích đông tây. Sở dĩ hữu hứa đa công pháp cường điệu tại định trung quá, tuyệt đối đích nhập định, tại định trung diễn hoá đích thời hậu, thị tha phó ý thức tại na cá xã hội trung diễn hoá, tại diễn hoá trung đắc đáo đề cao. Hữu nhất thiên tha đích phó ý thức tu thượng khứ liễu, tha đới tẩu liễu nhĩ đích công, nhĩ đích chủ ý thức hoà bản thể tương thậm ma đô một hữu liễu, nhĩ nhất bối tử tu luyện tựu tiền công tận khí liễu, na thị ngận khả tích đích. Hữu nhất ta tri danh đích khí công sư, các chủng công năng ngận đại, danh vọng ngận cao, khả thị tha đích công căn bản tựu một hữu trưởng tại tha tự kỷ thân thượng, tha hài bất tri đạo.

Mỗi người đều có một chủ ý thức, bình thường làm các việc, suy nghĩ vấn đề thì chính là bằng vào chủ ý thức. Ngoài chủ ý thức ra mỗi người còn tồn tại một hoặc vài phó ý thức, đồng thời còn có tín tức của tổ tiên trong gia tộc. Phó ý thức và chủ ý thức là mang cùng tên. Thông thường phó ý thức đều có năng lực mạnh hơn và tầng thứ cao hơn so với chủ ý thức, họ không bị ‘mê’ bởi xã hội người thường chúng ta, họ có thể nhìn thấy không gian đặc định của họ. Rất nhiều công pháp đều theo con đường tu luyện phó ý thức, thân xác thịt và chủ ý thức của họ chỉ có tác dụng làm ‘tải thể’, người luyện công thông thường còn chưa biết sự việc này, thậm chí còn đắc ý lắm. Người ta sống ở xã hội, những thứ ‘hiện thực’ khiến họ rất khó mà buông bỏ nổi, nhất là những thứ mà họ chấp trước. Do đó rất nhiều Pháp môn nhấn mạnh vào việc trải qua trong ‘định’, nhập định một cách tuyệt đối, khi diễn hoá ở trong định, thì đó là phó ý thức đang diễn hoá ở xã hội kia, trong diễn hoá mà đề cao lên. Một ngày kia phó ý thức tu lên rồi, nó mang theo công của chư vị mà rời đi, chủ ý thức và bản thể của chư vị sẽ không còn gì cả, cả một đời tu luyện của chư vị bao công sức là bỏ phí, thế thì rất đáng thương. Có một số khí công sư nổi tiếng, các loại công năng rất lớn, danh vọng cao lắm, nhưng công của họ hoàn toàn không phải là tăng trưởng trên thân của chính họ, mà họ cũng không biết [điều ấy].

我們法輪功是直接針對主意識修煉,要求功實實在在的真正的長在你身上,當然副意識也得一份,它在附屬位置跟著提高。我們這個功法就是嚴格要求心性,讓你在常人社會中、在最複雜的條件下去魔煉心性,從中得到提高,出污泥的一朵蓮花,所以就允許你修成。法輪功珍貴就珍貴在這裏,珍貴就珍貴在你自己得功。但是又非常的難,難就難在你走了一條在最複雜環境中去魔煉的路。

Ngã môn Pháp Luân Công thị trực tiếp châm đối chủ ý thức tu luyện, yêu cầu công thực thực tại tại đích chân chính đích trưởng tại nhĩ thân thượng, đương nhiên phó ý thức dã đắc nhất phần, tha tại phụ thuộc vị trí cân trước đề cao. Ngã môn giá cá công pháp tựu thị nghiêm cách yêu cầu tâm tính, nhượng nhĩ tại thường nhân xã hội trung, tại tối phức tạp đích điều kiện hạ khứ ma luyện tâm tính, tùng trung đắc đáo đề cao, xuất ô nê đích nhất đoá liên hoa, sở dĩ tựu duẫn hứa nhĩ tu thành. Pháp Luân Công trân quý tựu trân quý tại giá lý, trân quý tựu trân quý tại nhĩ tự kỷ đắc công. Đãn thị hựu phi thường đích nan, nan tựu nan tại nhĩ tẩu liễu nhất điều tại tối phức tạp hoàn cảnh trung khứ ma luyện đích lộ.

Pháp Luân Công chúng ta là tu luyện trực tiếp thẳng vào chủ ý thức, yêu cầu ‘công’ hết sức thực tại chân chính tăng trưởng trên thân của chư vị, tất nhiên phó ý thức cũng đắc một phần, nó ở vị trí phụ thuộc mà đề cao lên theo. Công pháp này của chúng ta chính là yêu cầu một cách nghiêm khắc về tâm tính, để chư vị ngay trong xã hội người thường này, trong điều kiện phức tạp này mà ma luyện tâm tính, từ đó mà đề cao lên, [như] hoa sen mọc lên từ bùn, vì thế mà cho phép chư vị tu thành. Chỗ trân quý của Pháp Luân Công chính là trân quý ở chỗ này, trân quý là trân quý rằng chính chư vị đắc công. Nhưng cũng phi thường khó khăn, khó là khó rằng chư vị bước trên con đường ma luyện trong hoàn cảnh phức tạp nhất.

煉功的目地既然要修煉主意識,就要時時用主意識支配自己煉功,主意識說了算,而不能交給副意識。否則有一天,副意識修上去了,功也就被帶走了,而作為本體和主意識就甚麼也沒了。你要往高層次上修煉的時候,你的主意識像睡覺一樣不知道,你煉的甚麼功也不知道,這樣不行。你一定要清楚你在煉功,在往上修,在提高心性,那時你才有主動權,你才能得功。有時你恍惚的時候,那件事情做成了,你也不知怎麼做成的,實際就是副意識在起作用,是副意識在指揮。假如你在那裏打坐,往對面睜眼一看,對面還有一個我,那就是你的副意識。假如你在那裏打坐,你對著北面,可你突然發現:你在北面呢,你想我怎麼出來了,這是真正的我出來了,坐著的是你的肉身和副意識。這可以區分的開。

Luyện công đích mục địa ký nhiên yếu tu luyện chủ ý thức, tựu yếu thời thời dụng chủ ý thức chi phối tự kỷ luyện công, chủ ý thức thuyết liễu toán, nhi bất năng giao cấp phó ý thức. Phủ tắc hữu nhất thiên, phó ý thức tu thượng khứ liễu, công dã tựu bị đới tẩu liễu, nhi tác vi bản thể hoà chủ ý thức tựu thậm ma dã một liễu. Nhĩ yếu vãng cao tầng thứ thượng tu luyện đích thời hậu, nhĩ đích chủ ý thức tượng thuỵ giác nhất dạng bất tri đạo, nhĩ luyện đích thậm ma công dã bất tri đạo, giá dạng bất hành. Nhĩ nhất định yếu thanh sở nhĩ tại luyện công, tại vãng thượng tu, tại đề cao tâm tính, na thời nhĩ tài hữu chủ động quyền, nhĩ tài năng đắc công. Hữu thời nhĩ hoảng dịch đích thời hậu, na kiện sự tình tố thành liễu, nhĩ dã bất tri chẩm ma tố thành đích, thực tế tựu thị phó ý thức tại khởi tác dụng, thị phó ý thức tại chỉ huy. Giả như nhĩ tại na lý đả toạ, vãng đối diện tranh nhãn nhất khán, đối diện hài hữu nhất cá ngã, na tựu thị nhĩ đích phó ý thức. Giả như nhĩ tại na lý đả toạ, nhĩ đối trước Bắc diện, khả nhĩ đột nhiên phát hiện: nhĩ tại Bắc diện ni, nhĩ tưởng ngã chẩm ma xuất lai liễu, giá thị chân chính đích ngã xuất lai liễu, toạ trước đích thị nhĩ đích nhục thân hoà phó ý thức. Giá khả dĩ khu phân đích khai.

Mục đích luyện công đã là tu luyện chủ ý thức, thì ắt phải lúc nào cũng là chủ ý thức chi phối việc luyện công của mình, chủ ý thức quyết định, chứ không thể giao cho phó ý thức. Nếu không thì một ngày nào đó, phó ý thức tu luyện lên rồi, công cũng mang đi rồi, mà bản thể và chủ ý thức sẽ không còn gì cả. Khi chư vị tu luyện lên tầng thứ cao, mà chủ ý thức của chư vị như đang ngủ mà không biết, chư vị luyện công gì cũng không biết, như thế thì không được. Chư vị nhất định phải rõ ràng rằng chư vị đang luyện công, đang tu lên, đang đề cao tâm tính, tới lúc ấy chư vị mới có quyền chủ động, chư vị mới có thể đắc công. Có những lúc chư vị mơ màng, mà việc kia được làm xong rồi, chư vị cũng không biết rằng nó là làm thế nào, thì thực chất chính là phó ý thức đang khởi tác dụng, là phó ý thức đang chỉ huy. Chẳng hạn như chư vị ngồi đả toạ, mở mắt nhìn về đối diện, đối diện lại có một cái tôi nữa, thì đó chính là phó ý thức của chư vị. Hoặc chẳng hạn như chư vị ngồi đả toạ ở đây, chư vị quay về phía Bắc, nhưng chư vị đột nhiên phát hiện, rằng chư vị đang ở phía Bắc, chư vị nghĩ rằng tại sao mình lại xuất ra nhỉ, thì ấy là cái tôi thật sự của chư vị đã xuất ra rồi, còn thân xác thịt cùng với phó ý thức của chư vị vẫn ngồi ở kia. Điều này là có thể phân biệt được.

修煉法輪功不能完全忘我,忘我不符法輪功的修煉大法,煉功一定要保持大腦清醒。煉功時主意識強一點,不會出偏,一般的東西它還侵害不了你。主意識很弱,有的東西就上來了。

Tu luyện Pháp Luân Công bất năng hoàn toàn vong ngã, vong ngã bất phù Pháp Luân Công đích tu luyện Đại Pháp, luyện công nhất định yếu bảo trì đại não thanh tỉnh. Luyện công thời chủ ý thức cường nhất điểm, bất hội xuất thiên, nhất ban đích đông tây tha hài xâm hại bất liễu nhĩ. Chủ ý thức ngận nhược, hữu đích đông tây tựu thượng lai liễu.

Tu luyện Pháp Luân Công là không được hoàn toàn ‘vong ngã’, vong ngã là không phù hợp với tu luyện Đại Pháp của Pháp Luân Công, luyện công nhất định phải bảo trì đại não thanh tỉnh. Khi luyện công thì chủ ý thức mạnh mẽ hơn một chút, sẽ không bị sai lệch, những thứ thông thường là không xâm hại nổi chư vị. [Nếu] chủ ý thức rất yếu, thì có những thứ sẽ đến.

(三)煉功不講方位、時間

(Tam) Luyện công bất giảng phương vị, thời gian

3. Luyện công không chú trọng phương hướng, thời gian.

許多功法都講究煉功對著甚麼方位好,幾點鐘煉功好。我們這裏全不講。修煉法輪功是按照宇宙特性在煉,按照宇宙演化原理在煉,所以不講方位、時間。我們煉功等於坐在法輪上煉,是全方位的,老是旋轉的,我們的法輪和宇宙是同步的。宇宙在運動,銀河系在運動,九大行星圍繞太陽在轉,地球本身還在自轉,哪裏是東南西北?我們說的東南西北是地球人站在地球角度上劃分的,所以,你站在哪個方位上煉都是站在全方位上煉。

Hứa đa công pháp đô giảng cứu luyện công đối trước thậm ma phương vị hảo, kỷ điểm chung luyện công hảo. Ngã môn giá lý toàn bất giảng. Tu luyện Pháp Luân Công thị án chiếu vũ trụ đặc tính tại luyện, án chiếu vũ trụ diễn hoá nguyên lý tại luyện, sở dĩ bất giảng phương vị, thời gian. Ngã môn luyện công đẳng ư toạ tại Pháp Luân thượng luyện, thị toàn phương vị đích, lão thị toàn chuyển đích, ngã môn đích Pháp Luân hoà vũ trụ thị đồng bộ đích. Vũ trụ tại vận động, Ngân Hà hệ tại vận động, cửu đại hành tinh vi nhiễu Thái Dương tại chuyển, Địa Cầu bản thân hài tại tự chuyển, nả lý thị Đông Tây Nam Bắc? Ngã môn thuyết đích Đông Tây Nam Bắc thị Địa Cầu nhân trạm tại Địa Cầu giác độ thượng hoạch phân đích, sở dĩ, nhĩ trạm tại nả cá phương vị thượng luyện đô thị trạm tại toàn phương vị thượng luyện.

Rất nhiều công pháp đều chú trọng luyện công cần hướng mặt về phương hướng nào mới tốt, luyện công lúc mấy giờ mới tốt. Ở đây chúng ta hoàn toàn không giảng vậy. Tu luyện Pháp Luân Công là chiểu theo đặc tính của vũ trụ mà luyện, chiểu theo nguyên lý diễn hoá của vũ trụ mà luyện, cho nên không giảng phương vị hay thời gian. Chúng ta luyện công tương đương với luyện khi ngồi toạ nơi Pháp Luân, vốn là toàn phương vị, luôn luôn xoay chuyển, Pháp Luân của chúng ta là đồng bộ với vũ trụ. Vũ trụ đang vận động, hệ Ngân Hà đang vận động, chín đại hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, bản thân Trái Đất cũng đang tự xoay, vậy đâu là Đông Tây Nam Bắc? Đông Tây Nam Bắc mà chúng ta nói là người của Trái Đất đứng tại góc độ nơi Trái Đất này mà phân ra, do đó, chư vị đứng ở phương vị nào mà luyện cũng là đang đứng tại toàn phương vị mà luyện.

有人講子時煉功好、午時煉功好,或甚麼時間好。我們也不講這個。因為你沒煉功法輪在煉你,法輪時時刻刻在幫你煉功,法煉人。丹道氣功是人去煉丹,法輪功是法煉人。你時間多就多煉,時間少就少煉,這都是很隨便的。

Hữu nhân giảng Tử thời luyện công hảo, Ngọ thời luyện công hảo, hoặc thậm ma thời gian hảo. Ngã môn dã bất giảng giá cá. Nhân vi nhĩ một luyện công Pháp Luân tại luyện nhĩ, Pháp Luân thời thời khắc khắc tại bang nhĩ luyện công, Pháp luyện nhân. Đan đạo khí công thị nhân khứ luyện đan, Pháp Luân Công thị Pháp luyện nhân. Nhĩ thời gian đa tựu đa luyện, thời gian thiểu tựu thiểu luyện, giá đô thị ngận tuỳ tiện đích.

Có người giảng rằng giờ Tý luyện công tốt, giờ Ngọ luyện công tốt, hoặc thời gian nào đó là tốt. Chúng ta cũng không giảng những cái đó. Là vì [khi] chư vị không luyện công [thì] Pháp Luân đang luyện chư vị, Pháp Luân đang giúp chư vị luyện công mọi thời mọi lúc, ‘Pháp luyện người’. Khí công đan đạo là người đi luyện đan, Pháp Luân Công là Pháp luyện người. Chư vị nhiều thời gian thì luyện nhiều, ít thời gian thì luyện ít, đó rất là tuỳ ý.

四、性命雙修

Tứ, tính mệnh song tu

IV. Tính mệnh song tu

修煉法輪功是既修性又修命,是通過煉功先改變本體,本體不丟,主意識與肉體合一,達到整體修成。

Tu luyện Pháp Luân Công thị ký tu tính hựu tu mệnh, thị thông quá luyện công tiên cải biến bản thể, bản thể bất đâu, chủ ý thức dữ nhục thể hợp nhất, đạt đáo chỉnh thể tu thành.

Tu luyện Pháp Luân Công là vừa ‘tu tính’ vừa ‘tu mệnh’, là thông qua luyện công mà trước hết cải biến bản thể, bản thể không mất, chủ ý thức và [thân] thể xác thịt hợp nhất, đạt tới tu thành chỉnh thể.

(一)改變本體

(Nhất) Cải biến bản thể

1. Cải biến bản thể

人的身體是由肉、血和骨骼構成的,有不同的分子結構和成份。通過煉功將身體的分子成份轉化為高能量物質,這樣,人體的構成已經不是原來的物質成份了,而是發生了本質的變化。但是,修煉者是在常人中修煉,生活在人群之中,不能違反人類社會狀態,所以這種變化並不改變他原來的分子結構,分子的排列順序沒有改變,只改變了原來的分子成份。人體的肉還是軟的,骨骼還是硬的,血液還是流動的,割一刀還是要出血的。根據中國古代的五行學說,由金、木、水、火、土構成萬物,人體也是如此。當煉功人發生了本體變化,由高能量物質取代了原來的分子成份,這時人體已不是原來的物質構成。所謂「不在五行中」,就是這個道理。

Nhân đích thân thể thị do nhục, huyết hoà cốt cách cấu thành đích, hữu bất đồng đích phân tử kết cấu hoà thành phần. Thông quá luyện công tương thân thể đích phân tử thành phần chuyển hoá vi cao năng lượng vật chất, giá dạng, nhân thể đích cấu thành dĩ kinh bất thị nguyên lai đích vật chất thành phần liễu, nhi thị phát sinh liễu bản chất đích biến hoá. Đãn thị, tu luyện giả thị tại thường nhân trung tu luyện, sinh hoạt tại nhân quần chi trung, bất năng vi phản nhân loại xã hội trạng thái, sở dĩ giá chủng biến hoá tịnh bất cải biến tha nguyên lai đích phân tử kết cấu, phân tử đích bài liệt thuận tự một hữu cải biến, chỉ cải biến liễu nguyên lai đích phân tử thành phần. Nhân thể đích nhục hài thị nhuyễn đích, cốt cách hài thị ngạnh đích, huyết dịch hài thị lưu động đích, cát nhất đao hài thị yếu xuất huyết đích. Căn cứ Trung Quốc cổ đại đích ngũ hành học thuyết, do kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ cấu thành vạn vật, nhân thể dã thị như thử. Đương luyện công nhân phát sinh liễu bản thể biến hoá, do cao năng lượng vật chất thủ đại liễu nguyên lai đích phân tử thành phần, giá thời nhân thể dĩ bất thị nguyên lai đích vật chất cấu thành. Sở vị “bất tại ngũ hành trung”, tựu thị giá cá đạo lý.

Thân thể người là do máu thịt và xương cấu thành, có các kết cấu và thành phần phân tử khác nhau. Thông qua luyện công sẽ khiến thành phần phân tử của thân thể chuyển hoá thành vật chất năng lượng cao, như vậy, cấu thành của [thân] thể người đã không còn là thành phần vật chất nguyên ban đầu nữa, mà đã phát sinh biến hoá về bản chất. Nhưng người tu luyện là tu luyện ở xã hội người thường, sinh sống trong quần thể người, không thể vi phạm trạng thái xã hội nhân loại, do đó loại biến hoá kia sẽ không thay đổi kết cấu của phân tử ban đầu, thứ tự sắp xếp của phân tử sẽ không thay đổi, chỉ thay đổi thành phần ban đầu của phân tử. [Thân] thể người ta thịt vẫn là mềm, xương vẫn là cứng, huyết dịch vẫn là lưu động, dao cắt một cái hẳn vẫn chảy máu thôi. Căn cứ theo học thuyết ngũ hành của Trung Quốc cổ đại, kim mộc thuỷ hoả thổ cấu thành nên vạn vật, và [thân] thể người cũng thế. Khi người tu luyện đã phát sinh biến hoá ở bản thể, lấy vật chất năng lượng cao để thay thế thành phần ban đầu của phân tử, thì bấy giờ [thân] thể người đã không còn cấu thành từ vật chất nguyên như ban đầu nữa. Đó gọi là “không trong ngũ hành”, chính là đạo lý này.

性命雙修功法最大的特點是延緩人的生命,延緩衰老。我們法輪功就是具有這樣明顯的特點。法輪功是走這樣一條路:從根本上改變人體分子的成份,用採集的高能量物質貯存在每一個細胞中,最後由高能量物質代替細胞成份,就不產生新陳代謝了,他走出了五行,成為另外空間的物質構成的身體,不受我們空間時間的制約,這個人就會青春長駐。

Tính mệnh song tu công pháp tối đại đích đặc điểm thị diên hoãn nhân đích sinh mệnh, diên hoãn suy lão. Ngã môn Pháp Luân Công tựu thị cụ hữu giá dạng minh hiển đích đặc điểm. Pháp Luân Công thị tẩu giá dạng nhất điều lộ: tùng căn bản thượng cải biến nhân thể phân tử đích thành phần, dụng thái tập đích cao năng lượng vật chất trữ tồn tại mỗi nhất cá tế bào trung, tối hậu do cao năng lượng vật chất đại thế tế bào thành phần, tựu bất sản sinh tân trần đại tạ liễu, tha tẩu xuất liễu ngũ hành, thành vi lánh ngoại không gian đích vật chất cấu thành đích thân thể, bất thụ ngã môn không gian thời gian đích chế ước, giá cá nhân tựu hội thanh xuân trường trú.

Đặc điểm lớn nhất của công pháp tính mệnh song tu là kéo dài sinh mệnh người ta, hoãn lại việc già yếu. Pháp Luân Công chúng ta có đầy đủ đặc điểm dễ thấy ấy. Pháp Luân Công theo con đường thế này: cải biến từ căn bản thành phần phân tử [thân] thể người, gom chọn vật chất năng lượng cao rồi trữ tồn trong mỗi từng tế bào, cuối cùng thì vật chất năng lượng cao thay thế thành phần của phân tử, và sẽ không xảy ra tân trần đại tạ nữa, họ đã ra khỏi ngũ hành, trở thành thân thể cấu thành từ vật chất không gian khác, không bị chế ước bởi thời gian không gian chúng ta nữa, người đó sẽ trẻ trung rất là lâu.

歷代高僧壽命很長,現在有幾百歲的人在大街上走你看不出他,他長的很年輕,穿的和常人一樣,你就認不出來。人的壽命不該是現在這麼短。從現在科學角度講,人可以活到二百多歲。據記載,英國有個叫費姆卡思的人活了二百零七歲。日本有個叫滿平的人活了二百四十二歲。我國唐朝有個和尚惠昭,活了二百九十歲。福建永泰縣縣誌記載,唐朝僖宗中和元年(公元八八一年)出生的陳俊,死於元朝泰定年間公元一三二四年,活了四百四十三歲。這都是有據可查的,不是甚麼天方夜譚。我們法輪功學員通過修煉,臉上的皺紋明顯減少,紅光滿面,身體非常輕鬆,走路、幹活不覺的累,這是普遍現象。我自己修煉幾十年,別人都說我的面容同二十年前沒大的變化,就是這個原因。我們法輪功帶有強烈的修命的東西,法輪功修煉者從年齡上看和常人差異很大,看上去與實際年齡不符,所以,性命雙修功法的最大特點是能延緩人的生命、延緩人的衰老,延長人的壽命。

Lịch đại cao tăng thọ mệnh ngận trường, hiện tại hữu kỷ bách tuế đích nhân tại đại nhai thượng tẩu nhĩ khán bất xuất tha, tha trường đích ngận niên khinh, xuyên đích hoà thường nhân nhất dạng, nhĩ tựu nhận bất xuất lai. Nhân đích thọ mệnh bất cai thị hiện tại giá ma đoản. Tùng hiện tại khoa học giác độ giảng, nhân khả dĩ hoạt đáo nhị bách đa tuế. Cứ ký tải, Anh quốc hữu cá khiếu Phí Mỗ Tạp Tư đích nhân hoạt liễu nhị bách linh thất tuế. Nhật Bản hữu cá khiếu Mãn Bình đích nhân hoạt liễu nhị bách tứ thập nhị tuế. Ngã quốc Đường triều hữu cá hoà thượng Huệ Chiêu, hoạt liễu nhị bách cửu thập tuế. Phúc Kiến Vĩnh Thái huyện huyện chí ký tải, Đường triều Hy Tông Trung Hoà nguyên niên (công nguyên bát bát nhất niên) xuất sinh đích Trần Tuấn, tử ư Nguyên Triều Thái Định niên gian công nguyên nhất tam nhị tứ niên, hoạt liễu tứ bách tứ thập tam tuế. Giá đô thị hữu cứ khả tra đích, bất thị thậm ma thiên phương dạ đàm. Ngã môn Pháp Luân Công học viên thông quá tu luyện, kiểm thượng đích trứu văn minh hiển giảm thiểu, hồng quang mãn diện, thân thể phi thường khinh tông, tẩu lộ, cán hoạt bất giác đích luỵ, giá thị phổ biến hiện tượng. Ngã tự kỷ tu luyện kỷ thập niên, biệt nhân đô thuyết ngã đích diện dung đồng nhị thập niên tiền một đại đích biến hoá, tựu thị giá cá nguyên nhân. Ngã môn Pháp Luân Công đới hữu cường liệt đích tu mệnh đích đông tây, Pháp Luân Công tu luyện giả tùng niên linh thượng khán hoà thường nhân sai dị ngận đại, khán thượng khứ dữ thực tế niên linh bất phù, sở dĩ, tính mệnh song tu công pháp đích tối đại đặc điểm thị năng diên hoãn nhân đích sinh mệnh, diên hoãn nhân đích suy lão, diên trường nhân đích thọ mệnh.

Cao tăng đời xưa có thọ mệnh rất dài, hiện nay có những người mấy trăm tuổi đi trên đường phố mà chư vị nhìn không ra [khác biệt ở] họ, trông họ như thanh niên, ăn mặc như người bình thường, chư vị nhìn không ra. Thọ mệnh của người ta không nên ngắn ngủi như hiện nay. Giảng từ góc độ của khoa học hiện đại, con người có thể sống đến hơn hai trăm tuổi. Theo ghi chép, Anh quốc có người tên là Femcath thọ tới 207 tuổi. Nhật Bản có người tên là Mitsu Taira thọ tới 242 tuổi. Triều đại nhà Đường nước ta có hoà thượng Huệ Chiêu, thọ tới 290 tuổi. Ghi chép ‘huyện chí’ của huyện Vĩnh Thái thuộc Phúc Kiến chép rằng, Trần Tuấn sinh năm Trung Hoà thứ nhất thời vua Hy Tông triều đại nhà Đường (tức là năm 881), và chết năm 1324 thuộc những năm Thái Định triều đại nhà Nguyên, thọ 443 tuổi. Những cái đó đều có chứng cứ có thể tra được, chứ không phải truyện hư cấu. Học viên Pháp Luân Công chúng ta thông qua tu luyện, nếp nhăn trên mặt giảm đi rõ rệt, hồng quang đầy mặt, thân thể nhẹ nhàng, đi đường hay làm việc đều không cảm thấy mệt, đây là hiện tượng phổ biến. Bản thân tôi tu luyện mấy chục năm, người khác nói rằng dung mạo của tôi không thay đổi gì nhiều hai mấy năm qua, chính là nguyên nhân này. Pháp Luân Công chúng ta có mang những thứ tu mệnh rất mạnh mẽ, người tu luyện Pháp Luân Công trông rất khác về tuổi tác so với người thường, nhìn không thấy hợp với tuổi, do đó, đặc điểm lớn nhất của công pháp tính mệnh song tu là có thể kéo dài sinh mệnh của người ta, trì hoãn sự già yếu, kéo dài thọ mệnh con người.

(二)法輪周天

(Nhị) Pháp Luân chu thiên

2. Pháp Luân chu thiên

我們人體是個小宇宙,人體能量圍繞身體轉一圈,就叫小宇宙循環,也叫周天循環。任、督二脈接起來,從層次上講,這還是皮毛周天,起不到修命的作用。真正的小周天是從泥丸宮到丹田,在裏邊循環。通過裏邊循環會帶動身體由裏向外擴展,百脈皆通。我們法輪功一上來就要求百脈皆通。

Ngã môn nhân thể thị cá tiểu vũ trụ, nhân thể năng lượng vi nhiễu thân thể chuyển nhất khuyên, tựu khiếu tiểu vũ trụ tuần hoàn, dã khiếu chu thiên tuần hoàn. Nhâm, Đốc nhị mạch tiếp khởi lai, tùng tầng thứ thượng giảng, giá hài thị bì mao chu thiên, khởi bất đáo tu mệnh đích tác dụng. Chân chính đích tiểu chu thiên thị tùng nê hoàn cung đáo đan điền, tại lý biên tuần hoàn. Thông quá lý biên tuần hoàn hội đới động thân thể do lý hướng ngoại khuếch triển, bách mạch giai thông. Ngã môn Pháp Luân Công nhất thượng lai tựu yêu cầu bách mạch giai thông.

[Thân] thể người chúng ta là ‘tiểu vũ trụ’, năng lượng của [thân] thể người chạy quanh thân thể trọn một vòng, thì gọi là ‘tuần hoàn tiểu vũ trụ’, cũng gọi là ‘tuần hoàn chu thiên’. Kết nối hai mạch Nhâm-Đốc, theo tầng thứ mà nói, đó vẫn chỉ là chu thiên vỏ ngoài nông cạn, không có tác dụng tu mệnh. Tiểu chu thiên chân chính là từ nê hoàn cung tới đan điền, tuần hoàn ở bên trong, thông qua tuần hoàn ở bên trong mà dẫn động [các kinh mạch] thân thể mở rộng từ trong ra ngoài, ‘bách mạch giai thông’. Pháp Luân Công chúng ta ngay bắt đầu là đã yêu cầu bách mạch giai thông.

大周天就是奇經八脈的運轉,整個身體走一遍。如果大周天通了,會帶來一個狀態:這個煉功人可以飄起來,丹經上寫的「白日飛升」就是這個意思。但是,通常會把你身體的某個部位鎖住,使你飄飛不起來,可它會給你帶來一個狀態:走路非常輕快,上山像有人推你。大周天通了以後還會帶來一種功能:可以使人體內臟各部位的氣互換:心上的氣跑到胃上去;胃上的氣跑到腸子上去,……隨著功力的加強,打到體外來就是搬運功。這種周天也叫子午周天或乾坤周天。它的運轉還不能達到演化身體的目地,還得有一種與它對映的周天存在,它叫卯酉周天。卯酉周天的運轉是這樣的:從會陰或從百會打出來,開始走身體的陰陽兩面的交界處,即走身體的側面。

Đại chu thiên tựu thị kỳ kinh bát mạch đích vận chuyển, chỉnh cá thân thể tẩu nhất biến. Như quả đại chu thiên thông liễu, hội đới lai nhất cá trạng thái: giá cá luyện công nhân khả dĩ phiêu khởi lai, Đan Kinh thượng tả đích “bạch nhật phi thăng” tựu thị giá cá ý tư. Đãn thị, thông thường hội bả nhĩ thân thể đích mỗ cá bộ vị toả trụ, sử nhĩ phiêu phi bất khởi lai, khả tha hội cấp nhĩ đới lai nhất cá trạng thái: tẩu lộ phi thường khinh khoái, thượng sơn tượng hữu nhân suy nhĩ. Đại chu thiên thông liễu dĩ hậu hài hội đới lai nhất chủng công năng: khả dĩ sử nhân thể nội tạng các bộ vị đích khí hỗ hoán: tâm thượng đích khí bào đáo vị thượng khứ; vị thượng đích khí bào đáo trường tử thượng khứ,…… tuỳ trước công lực đích gia cường, đả đáo thể ngoại lai tựu thị ban vận công. Giá chủng chu thiên dã khiếu tử ngọ chu thiên hoặc càn khôn chu thiên. Tha đích vận chuyển hài bất năng đạt đáo diễn hoá thân thể đích mục địa, hài đắc hữu nhất chủng dữ tha đối ánh đích chu thiên tồn tại, tha khiếu mão dậu chu thiên. Mão dậu chu thiên đích vận chuyển thị giá dạng đích: tùng hội âm hoặc tùng bách hội đả xuất lai, khai thuỷ tẩu thân thể đích âm dương lưỡng diện đích giao giới xứ, tức tẩu thân thể đích trắc diện.

Đại chu thiên chính là tuần hoàn của kỳ kinh bát mạch, chạy khắp toàn thể thân thể một vòng. Nếu đại chu thiên đã thông rồi, thì sẽ mang tới một trạng thái: người luyện công có thể phiêu đãng bay lên, “bạch nhật phi thăng” được viết trong «Đan Kinh» chính là có ý tứ đó. Tuy nhiên, thông thường sẽ khiến thân thể chư vị có chỗ nào đó bị khoá lại, làm chư vị không bay lên được, tuy vậy sẽ khiến chư vị tới một trạng thái như thế này: đi bộ rất nhẹ và nhanh, leo núi như có người đẩy chư vị. Sau khi đại chu thiên khai thông rồi thì sẽ đưa đến một loại công năng: có thể khiến khí giao hoán giữa các bộ phận nội tạng bên trong thân thể người: khí ở tim chạy sang dạ dày, khí ở dạ dày chạy sang ruột, v.v. Cùng theo việc công lực tăng và mạnh lên, đưa nó ra ngoài thân thể thì đó là công [năng] ‘ban vận’. Loại chu thiên này cũng gọi là ‘tý-ngọ’ chu thiên hoặc là ‘càn khôn’ chu thiên. Nó vận chuyển là vẫn không thể đạt mục đích diễn hoá thân thể, vẫn cần tồn tại một loại chu thiên đối ứng với nó, đó gọi là ‘mão-dậu’ chu thiên. Vận chuyển của mão-dậu chu thiên như sau: bắt đầu từ huyệt hội âm hoặc bách hội, chạy theo giao giới của hai mặt âm dương của thân thể, tức là chạy ở hai bên thân thể.

法輪功的周天運轉比一般功法中所講的奇經八脈運轉要大的多,它是整個身體縱橫交錯氣脈都在運行,要求整體上一下子全部通遍通透,全部都運轉起來。我們法輪功中都自帶這些東西,不需要你人為的去煉,也不用意念去引導,你要這麼做了你就走偏了。我在傳授班上給你體外下上氣機,它自動循環。氣機是一種在高層次上煉功所特有的東西,是形成我們自動煉功的一部份,它和法輪一樣常轉不停,帶動著身體裏面的氣脈運轉。你沒煉過周天,實際上那氣脈已經被帶著一起運轉了,縱深內外一起運轉,我們通過手法是為了加強體外氣機。

Pháp Luân Công đích chu thiên vận chuyển tỷ nhất ban công pháp trung sở giảng đích kỳ kinh bát mạch vận chuyển yếu đại đích đa, tha thị chỉnh cá thân thể tung hoành giao thác khí mạch đô tại vận hành, yêu cầu chỉnh thể thượng nhất hạ tử toàn bộ thông biến thông thấu, toàn bộ đô vận chuyển khởi lai. Ngã môn Pháp Luân Công trung đô tự đới giá ta đông tây, bất nhu yếu nhĩ nhân vi đích khứ luyện, dã bất dụng ý niệm khứ dẫn đạo, nhĩ yếu giá ma tố liễu nhĩ tựu tẩu thiên liễu. Ngã tại truyền thụ ban thượng cấp nhĩ thể ngoại hạ thượng khí cơ, tha tự động tuần hoàn. Khí cơ thị nhất chủng tại cao tầng thứ thượng luyện công sở đặc hữu đích đông tây, thị hình thành ngã môn tự động luyện công đích nhất bộ phận, tha hoà Pháp Luân nhất dạng thường chuyển bất đình, đới động trước thân thể lý diện đích khí mạch vận chuyển. Nhĩ một luyện quá chu thiên, thực tế thượng na khí mạch dĩ kinh bị đới trước nhất khởi vận chuyển liễu, tùng thâm nội ngoại nhất khởi vận chuyển, ngã môn thông quá thủ pháp thị vi liễu gia cường thể ngoại khí cơ.

Vận chuyển chu thiên của Pháp Luân Công lớn hơn rất nhiều so với vận chuyển ‘kỳ kinh bát mạch’ mà các công pháp thông thường vẫn giảng, đây là các khí mạch ngang dọc giao nhau của toàn thân thể đều vận hành, yêu cầu chỉnh thể lập tức thông thấu toàn bộ, toàn bộ đều vận chuyển. Trong Pháp Luân Công chúng ta đã tự có những điều ấy rồi, không cần chư vị cố ý đi luyện, cũng không cần dùng ý niệm dẫn đạo, chư vị mà làm như thế thì chư vị sẽ sai lệch. Ở lớp truyền thụ tôi cài cho chư vị khí cơ bên ngoài [thân] thể, nó tuần hoàn tự động. Khí cơ là một loại những thứ chỉ có ở luyện công tại tầng thứ cao, là một bộ phận trong luyện công tự động của chúng ta, nó cũng thường chuyển không ngừng giống như Pháp Luân, dẫn động các khí mạch trong thân thể vận động theo. Chư vị chưa luyện chu thiên, mà thực tế là khí mạch đã được cùng dẫn động vận chuyển rồi, từ sâu bên trong cũng như bên ngoài đều cùng vận động, chúng ta thông qua thủ pháp là để gia cường khí cơ bên ngoài [thân] thể.

(三)通脈

(Tam) Thông mạch

3. Thông mạch

通脈的目地是使能量運轉,改變細胞分子成份,向高能量物質轉化。不煉功的人脈是淤塞甚至很細,煉功人的脈會漸漸亮起來,不通的地方會通。煉功有素的人的脈會加寬,到高層次修煉脈會更寬,有的人脈像手指頭一樣寬。但通脈本身代表不了修到甚麼成度,功有多高。通過煉功使脈加亮加寬,最後百脈連成一片,到那時這個人沒有脈也沒有穴,反過來講,周身都是脈也都是穴。這時它還不能夠說明這個人已經得道了,它也只是法輪功修煉過程中的一種體現,一個層次的體現。到了這一步的時候,在世間法修煉中已經走到盡頭了,同時在外觀上帶來一個很明顯的狀態:三花聚頂。那個功出的已經很厲害了,都是有形狀的,功柱也很高了,而且頭上出現三朵花,一朵像蓮花,一朵像菊花。三朵花會自轉,自轉的同時會輪番的轉。每一朵花上有一根柱子,通天的柱子,非常的高。這三根柱子也隨著那花輪番的在轉,也在自轉,他自己感到頭很沉。這時,他只是在世間法修煉中走完了最後一步。

Thông mạch đích mục địa thị sử năng lượng vận chuyển, cải biến tế bào phân tử thành phần, hướng cao năng lượng vật chất chuyển hoá. Bất luyện công đích nhân mạch thị ứ tắc thậm chí ngận tế, luyện công nhân đích mạch hội tiệm tiệm lượng khởi lai, bất thông đích địa phương hội thông. Luyện công hữu tố đích nhân đích mạch hội gia khoan, đáo cao tầng thứ tu luyện mạch hội cánh khoan, hữu đích nhân mạch tượng thủ chỉ đầu nhất dạng khoan. Đãn thông mạch bản thân đại biểu bất liễu tu đáo thậm ma thành độ, công hữu đa cao. Thông quá luyện công sử mạch gia lượng gia khoan, tối hậu bách mạch liên thành nhất phiến, đáo na thời giá cá nhân một hữu mạch dã một hữu huyệt, phản quá lai giảng, chu thân đô thị mạch dã đô thị huyệt. Giá thời tha hài bất năng cú thuyết minh giá cá nhân dĩ kinh đắc Đạo liễu, tha dã chỉ thị Pháp Luân Công tu luyện quá trình trung đích nhất chủng thể hiện, nhất cá tầng thứ đích thể hiện. Đáo liễu giá nhất bộ đích thời hậu, tại thế gian pháp tu luyện trung dĩ kinh tẩu đáo tận đầu liễu, đồng thời tại ngoại quan thượng đới lai nhất cá ngận minh hiển đích trạng thái: tam hoa tụ đỉnh. Na cá công xuất đích dĩ kinh ngận lệ hại liễu, đô thị hữu hình trạng đích, công trụ dã ngận cao liễu, nhi thả đầu thượng xuất hiện tam đoá hoa, nhất đoá tượng liên hoa, nhất đoá tượng cúc hoa. Tam đoá hoa hội tự chuyển, tự chuyển đích đồng thời hội luân phiên đích chuyển. Mỗi nhất đoá hoa thượng hữu nhất căn trụ tử, thông thiên đích trụ tử, phi thường đích cao. Giá tam căn trụ tử dã tuỳ trước na hoa luân phiên đích tại chuyển, dã tại tự chuyển, tha tự kỷ cảm đáo đầu ngận trầm. Giá thời, tha chỉ thị tại thế gian pháp tu luyện trung tẩu hoàn liễu tối hậu nhất bộ.

Mục đích của thông mạch là khiến năng lượng vận chuyển, cải biến thành phần phân tử của tế bào, chuyển hoá hướng tới vật chất năng lượng cao. Người không luyện công thì mạch là ứ tắc thậm chí rất nhỏ, người luyện công thì mạch sẽ dần dần sáng lên, chỗ không thông sẽ thông. Luyện công một thời gian có mạch mở rộng hơn, tu luyện đến tầng thứ cao mạch sẽ rộng hơn nữa, có người mạch rộng như đầu ngón tay. Nhưng bản thân việc thông mạch không đại biểu rằng đã tu tới trình độ nào, công cao bao nhiêu. Thông qua luyện công sẽ khiến cho các mạch sáng hơn rộng hơn, cuối cùng trăm mạch nối liền thành một mảng, khi đạt tới đó thì người ấy không còn mạch cũng không còn huyệt, nói cách khác, toàn thân đều là mạch và cũng đều là huyệt. Bấy giờ điều đó vẫn không thể nói lên rằng người ấy đã đắc Đạo, nó chỉ là một loại thể hiện trong quá trình tu luyện Pháp Luân Công, là thể hiện của một tầng thứ. Khi đã tới bước ấy, thì tu luyện ‘thế gian pháp’ đã đi tới tận cùng, đồng thời từ ngoài nhìn thì thấy có mang một trạng thái rất là minh hiển: ‘tam hoa tụ đỉnh’. Công ấy đã xuất ra rất lợi hại rồi, đều có hình trạng cả, cột công trụ cũng rất cao, ngoài ra trên đầu xuất hiện ba đoá hoa, một đoá tựa như hoa sen, một đoá tựa như hoa cúc. Ba đoá hoa tự xoay chuyển, tự chuyển đồng thời cũng xoay chuyển luân phiên. Trên mỗi đoá hoa có một cột trụ, cột trụ thông thiên, cao phi thường. Ba cột trụ này cũng chuyển động theo sự xoay chuyển của hoa, cũng tự xoay chuyển, bản thân họ sẽ cảm thấy đầu rất nặng. Lúc bấy giờ, họ chỉ là bước xong bước cuối cùng trong tu luyện ‘thế gian pháp’.

五、意念

Ngũ, Ý niệm

V. Ý niệm

法輪功修煉不帶意念。意念本身甚麼都做不了,但是他可以發出指令。真正起作用的是功能,它帶有靈體思維能力,接受大腦信息指揮。但好多人特別是在氣功界說法很多,認為意念能做很多事情。有人講意念開功能,意念開天目,意念治病,意念搬運等,這是一種錯誤的認識。在低層次,在常人中意念指揮著感官和四肢。在高層次,在煉功人中意念可以昇華,指揮功能做事情,也就是功能受意念所支配。這是我們對意念的看法。有時看到氣功師給人治病,沒動手病人就說好了,以為是意念治好的,實際上是他打出一種功能,指揮功能去治病或幹甚麼事情,因為功能在另外空間走,常人眼睛看不見,不知道的以為是意念做的。有的人以為可以用意念治病,把人都領偏了,這個看法必須澄清。

Pháp Luân Công tu luyện bất đới ý niệm. Ý niệm bản thân thậm ma đô tố bất liễu, đãn thị tha khả dĩ phát xuất chỉ lệnh. Chân chính khởi tác dụng đích thị công năng, tha đới hữu linh thể tư duy năng lực, tiếp thụ đại não tín tức chỉ huy. Đãn hảo đa nhân đặc biệt thị tại khí công giới thuyết pháp ngận đa, nhận vi ý niệm năng tố ngận đa sự tình. Hữu nhân giảng ý niệm khai công năng, ý niệm khai thiên mục, ý niệm trị bệnh, ý niệm ban vận đẳng, giá thị nhất chủng thác ngộ đích nhận thức. Tại đê tầng thứ, tại thường nhân trung ý niệm chỉ huy trước cảm quan hoà tứ chi. Tại cao tầng thứ, tại luyện công nhân trung ý niệm khả dĩ thăng hoa, chỉ huy công năng tố sự tình, dã tựu thị công năng thụ ý niệm sở chi phối. Giá thị ngã môn đối ý niệm đích khán pháp. Hữu thời khán đáo khí công sư cấp nhân trị bệnh, một động thủ bệnh nhân tựu thuyết hảo liễu, dĩ vi thị ý niệm trị hảo đích, thực tế thượng thị tha đả xuất nhất chủng công năng, chỉ huy công năng khứ trị bệnh hoặc cán thậm ma sự tình, nhân vi công năng tại lánh ngoại không gian tẩu, thường nhân nhãn tình khán bất kiến, bất tri đạo đích dĩ vi thị ý niệm tố đích. Hữu đích nhân dĩ vi khả dĩ dụng ý niệm trị bệnh, bả nhân đô lĩnh thiên liễu, giá cá khán pháp tất tu trừng thanh.

Tu luyện Pháp Luân Công là không mang ý niệm. Ý niệm bản thân nó không làm được gì cả, nhưng nó có thể phát ra các chỉ lệnh. Có tác dụng chân chính ấy là công năng, chúng có năng lực tư duy của linh thể, [và] tiếp thụ chỉ huy từ tín tức của đại não. Nhưng khá nhiều người, đặc biệt là trong giới khí công thì có nhiều quan điểm, nhìn nhận rằng ý niệm có thể làm được rất là nhiều việc. Có người giảng rằng [họ dùng] ý niệm đả khai công năng, ý niệm khai thiên mục, ý niệm trị bệnh, ý niệm vận chuyển [các vật thể từ xa], v.v., đó là các nhận thức sai lầm. Tại tầng thứ thấp, ở nơi người thường thì ý niệm chỉ huy các giác quan và tứ chi. Tại tầng thứ cao, ở người luyện công thì ý niệm có thể thăng hoa, chỉ huy công năng làm các việc, cũng chính là công năng chịu sự chi phối của ý niệm. Đó là cái nhìn của chúng tôi về ‘ý niệm’. Có những lúc thấy khí công sư trị bệnh cho người ta, chưa hề động thủ mà bệnh nhân đã nói khỏi rồi, bèn tưởng rằng đó là ý niệm đã trị khỏi, trên thực tế thì họ xuất ra là một loại công năng, [và] chỉ huy công năng đi trị bệnh hoặc làm việc nào đó, là vì công năng đi ở không gian khác, mắt của người thường nhìn không thấy, [nên] không biết mà tưởng rằng ý niệm đã làm rồi. Có người tưởng rằng có thể dùng ý niệm để trị bệnh, dẫn người ta đi lệch lạc hết, cách nhìn nhận ấy ắt cần phải chỉnh lại cho rõ.

人的思維是一種信息,是一種能量,是物質存在的一種形式。人在想問題思維的時候,大腦裏產生一種頻率。有時念咒語很有效,為甚麼呢?因為宇宙也有它的振動頻率,當你所念的咒語和宇宙的頻率發生共振時就可以產生效應。當然必須是良性的信息才可能起作用,因為宇宙中是不允許邪的東西存在。意念也是一種特定的思維方式,高層次大氣功師的法身就由主體思維控制和指揮。法身也有他自己的思維,有他獨立處理問題和辦事的能力,他完全是一個獨立的自我。同時,法身能知道氣功師的主體思維,按照主體思維去做事情。比如氣功師想給一個人治病,他就去了;沒有這個意念發出的時候,他是不去的。當他看到很好很好的事情時他會主動去做。有的大師還沒有達到開悟的成度,有些事情他還不知道,而他的法身卻知道了。

Nhân đích tư duy thị nhất chủng tín tức, thị nhất chủng năng lượng, thị vật chất tồn tại đích nhất chủng hình thức. Nhân tại tưởng vấn đề tư duy đích thời hậu, đại não lý sản sinh nhất chủng tần suất. Hữu thời niệm chú ngữ ngận hữu hiệu, vi thậm ma ni? Nhân vi vũ trụ dã hữu tha đích chấn động tần suất, đương nhĩ sở niệm đích chú ngữ hoà vũ trụ đích tần suất phát sinh cộng chấn thời tựu khả dĩ sản sinh hiệu ưng. Đương nhiên tất tu thị lương tính đích tín tức tài khả năng khởi tác dụng, nhân vi vũ trụ trung thị bất duẫn hứa tà đích đông tây tồn tại. Ý niệm dã thị nhất chủng đặc định đích tư duy phương thức, cao tầng thứ đại khí công sư đích Pháp thân tựu do chủ thể tư duy khống chế hoà chỉ huy. Pháp thân dã hữu Tha tự kỷ đích tư duy, hữu Tha độc lập xứ lý vấn đề hoà biện sự đích năng lực, Tha hoàn toàn thị nhất cá độc lập đích tự ngã. Đồng thời, Pháp thân năng tri đạo khí công sư đích chủ thể tư duy, án chiếu chủ thể tư duy khứ tố sự tình. Tỷ như khí công sư tưởng cấp nhất cá nhân trị bệnh, Tha tựu khứ liễu; một hữu giá cá ý niệm phát xuất đích thời hậu, Tha thị bất khứ đích. Đương Tha khán đáo ngận hảo ngận hảo đích sự tình thời Tha hội chủ động khứ tố. Hữu đích đại sư hài một hữu đạt đáo khai ngộ đích thành độ, hữu ta sự tình tha hài bất tri đạo, nhi Tha đích Pháp thân khước tri đạo liễu.

Tư duy người là một loại tín tức, là một loại năng lượng, là một loại hình thức tồn tại vật chất. Khi người ta tư duy suy nghĩ vấn đề, thì trong đại não sinh ra một loại tần số. Có những lúc niệm chú ngữ rất là hữu hiệu, tại sao? Là vì vũ trụ cũng có tần số chấn động của mình, khi chú ngữ mà chư vị niệm là phát sinh cộng hưởng với tần số của vũ trụ thì có thể sinh ra hiệu ứng. Tất nhiên phải là tín tức lành mạnh thì mới có thể có tác dụng, là vì trong vũ trụ là không cho phép tồn tại những thứ tà. Ý niệm cũng là một loại phương thức tư duy đặc định, Pháp thân của các đại khí công sư tầng thứ cao là do tư duy của chủ thể khống chế và chỉ huy. Pháp thân cũng là có tư duy của tự mình, cũng có năng lực xử lý vấn đề và làm các việc một cách độc lập của mình, họ hoàn toàn là ‘cái tôi’ độc lập. Đồng thời, Pháp thân có thể biết được tư duy chủ thể của khí công sư, và chiểu theo tư duy của chủ thể mà làm việc. Nếu khí công sư muốn trị bệnh cho một người, thì Pháp thân sẽ đi [làm]; còn khi không có ý niệm đó phát ra, thì Pháp thân không đi. Khi Pháp thân thấy việc nào đó rất là tốt đẹp thì sẽ chủ động đi làm. Có những đại sư chưa đạt tới mức độ khai ngộ, thì một số việc họ chưa biết, mà Pháp thân của họ đã biết rồi.

意念還有另外涵義叫作靈感。靈感不是發自人的主意識。主意識的知識面是很有限的,要想搞出社會上沒有的東西,只靠主意識不行。靈感來自副意識。有的人搞創作、搞科研,絞盡腦汁兒也搞不出來時,先放下休息,到外邊轉一圈。突然間,無意之中靈感來了,馬上奮筆疾書,創造出東西來了。這是因為主意識很強時,控制著大腦,憋不出來。當主意識一放鬆時,副意識起作用了,它主宰大腦。副意識是另一個空間的,不受這個空間束縛,可以創造出新東西。但副意識也不能超越、干擾常人社會的狀態,影響社會發展的進程。

Ý niệm hài hữu lánh ngoại hàm nghĩa khiếu tác linh cảm. Linh cảm bất thị phát tự nhân đích chủ ý thức. Chủ ý thức đích tri thức diện thị ngận hữu hạn đích, yếu tưởng cảo xuất xã hội thượng một hữu đích đông tây, chỉ kháo chủ ý thức bất hành. Linh cảm lai tự phó ý thức. Hữu đích nhân cảo sáng tác, cảo khoa nghiên, giảo tận não trấp nhi dã cảo bất xuất lai thời, tiên phóng hạ hưu tức, đáo ngoại biên chuyển nhất khuyên. Đột nhiên gian, vô ý chi trung linh cảm lai liễu, mã thượng phấn bút tật thư, sáng tạo xuất đông tây lai liễu. Giá thị nhân vi chủ ý thức ngận cường thời, khống chế trước đại não, biệt bất xuất lai. Đương chủ ý thức nhất phóng túng thời, phó ý thức khởi tác dụng liễu, tha chủ tể đại não. Phó ý thức thị lánh nhất cá không gian đích, bất thụ giá cá không gian thúc phược, khả dĩ sáng tạo xuất tân đông tây. Đãn phó ý thức dã bất năng siêu việt, can nhiễu thường nhân xã hội đích trạng thái, ảnh hưởng xã hội phát triển đích tiến trình.

‘Ý niệm’ còn có một hàm nghĩa nữa gọi là ‘linh cảm’. Linh cảm không phải phát ra từ chủ ý thức của người ta. Phía tri thức của chủ ý thức là rất hữu hạn, nếu muốn làm ra gì đó chưa từng có ở xã hội, mà chỉ dựa vào chủ ý thức thì không được. Linh cảm đến từ phó ý thức. Có người soạn tác phẩm hay làm nghiên cứu khoa học, khi nghĩ vỡ cả đầu mà vẫn không xuất ra cái gì, bèn buông lỏng nghỉ ngơi, ra ngoài đi dạo một vòng. Đột nhiên, trong lúc vô ý thì linh cảm đến, lập tức vung bút thành sách, [hoặc] sáng tạo ra được. Đó là vì khi chủ ý thức rất mạnh, khống chế đại não, [thì] không xuất ra được gì. Khi chủ ý thức vừa buông lỏng, thì phó ý thức khởi tác dụng rồi, nó làm chủ đại não. Phó ý thức là [ở] một không gian khác, không chịu trói buộc của không gian này, có thể sáng tạo ra điều mới mẻ. Nhưng phó ý thức cũng không thể vượt lên trên và can nhiễu trạng thái của xã hội người thường, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của xã hội.

靈感來自兩個方面,一個是副意識提供的,副意識不被世間所迷,他可以產生靈感。另一個來自高層次高靈的指揮、指點。有高靈指點的時候,思路開闊,能夠做出別開生面的事情。整個社會和宇宙發展都有它特定的規律,一切都不是偶然的。

Linh cảm lai tự lưỡng cá phương diện, nhất cá thị phó ý thức đề cung đích, phó ý thức bất bị thế gian sở mê, tha khả dĩ sản sinh linh cảm. Lánh nhất cá lai tự cao tầng thứ cao linh đích chỉ huy, chỉ điểm. Hữu cao linh chỉ điểm đích thời hậu, tư lộ khai khoát, năng cú tố xuất biệt khai sinh diện đích sự tình. Chỉnh cá xã hội hoà vũ trụ phát triển đô hữu tha đặc định đích quy luật, nhất thiết đô bất thị ngẫu nhiên đích.

Linh cảm đến từ hai phương diện, một là phó ý thức cung cấp, phó ý thức không bị mê bởi thế gian, họ có thể sinh ra linh cảm. Một nữa là đến từ những cao linh [thể] ở tầng thứ cao chỉ huy và chỉ điểm. Khi có cao linh chỉ điểm, mạch tư duy rộng mở, có thể làm ra những thứ tân kỳ. Phát triển của chỉnh thể xã hội và vũ trụ đều là có quy luật đặc định, hết thảy đều không hề ngẫu nhiên.

六、法輪功的修煉層次

Lục, Pháp Luân Công đích tu luyện tầng thứ

VI. Tầng thứ tu luyện Pháp Luân Công

(一)高層次修煉

(nhất) Cao tầng thứ tu luyện

1. Tu luyện tầng thứ cao

法輪功是站在很高的層次上修煉,所以出功特別快。大道至簡至易。從宏觀上看法輪功動作很少,但它控制著身體的各個方面,控制著要出的很多東西。只要心性跟的上,功就騰騰的往上長,不需要人為的費多大勁,採用甚麼辦法,或者安鼎設爐、採藥煉丹,添多少火,採多少藥了。靠意念引導很複雜,很容易出偏。我們這裏給大家提供最方便法門,最好一個法門,也是最難的一個法門。煉功人身體達到奶白體狀態,在別的功法中要煉十幾年、幾十年或者更長的時間,而我們一下子就給你帶到這一步。當你還沒體會到時,這個層次就過去了,也可能只有幾個小時。有那麼一天,你感覺到很靈敏,過一會兒又不靈敏了,實際上就是一個大層次過去了。

Pháp Luân Công thị trạm tại ngận cao đích tầng thứ thượng tu luyện, sở dĩ xuất công đặc biệt khoái. Đại Đạo chí giản chí dị. Tùng hoành quan thượng khán Pháp Luân Công động tác ngận thiểu, đãn tha khống chế trước thân thể đích các cá phương diện, khống chế trước yếu xuất đích ngận đa đông tây. Chỉ yếu tâm tính cân đích thượng, công tựu đằng đằng đích vãng thượng trưởng, bất nhu yếu nhân vi đích phí đa đại kình, thái dụng thậm ma biện pháp, hoặc giả an đỉnh thiết lư, thái dược luyện đan, thiêm đa thiểu hoả, thái đa thiểu dược liễu. Kháo ý niệm dẫn đạo ngận phức tạp, ngận dung dị xuất thiên. Ngã môn giá lý cấp đại gia đề cung tối phương tiện pháp môn, tối hảo nhất cá pháp môn, dã thị tối nan đích nhất cá pháp môn. Luyện công nhân thân thể đạt đáo nãi bạch thể trạng thái, tại biệt đích công pháp trung yếu luyện thập kỷ niên, kỷ thập niên hoặc giả cánh trường đích thời gian, nhi ngã môn nhất hạ tử tựu cấp nhĩ đới đáo giá nhất bộ. Đương nhĩ hài một thể hội đáo thời, giá cá tầng thứ tựu quá khứ liễu, dã khả năng chỉ hữu kỷ cá tiểu thời. Hữu na ma nhất thiên, nhĩ cảm giác đáo ngận linh mẫn, quá nhất hội nhi hựu bất linh mẫn liễu, thực tế thượng tựu thị nhất cá đại tầng thứ quá khứ liễu.

Pháp Luân Công là đứng ở tầng thứ rất cao mà tu luyện, cho nên xuất công một cách đặc biệt mau lẹ. Đại Đạo là ‘chí giản chí dị’. Từ hoành quan mà nhìn thì thấy động tác Pháp Luân Công rất là ít, nhưng nó khống chế các phương diện của thân thể, khống chế rất nhiều những thứ cần xuất ra. Chỉ cần tâm tính lên theo kịp, công sẽ vùn vụt tăng trưởng lên, không cần cố ý phí nhiều sức, chọn dùng biện pháp nào đó, hoặc ‘an đỉnh thiết lư, thái dược luyện đan’, điều chỉnh hoả lực, điều chỉnh dược vật [thuốc]. Dựa vào ý niệm để dẫn đạo thì rất phức tạp, rất dễ bị lệch lạc. Chúng tôi ở đây cung cấp cho mọi người pháp môn thuận tiện nhất, pháp môn tốt nhất, cũng là pháp môn khó khăn nhất. Thân thể người luyện công đạt tới trạng thái ‘nãi bạch thể’, thì ở công pháp khác cần luyện mười mấy năm, mấy mươi năm hoặc còn lâu hơn nữa, mà chúng tôi lập tức đưa chư vị tới bước đó rồi. Khi chư vị còn chưa thể nghiệm ra, thì tầng thứ đó đã vượt qua xong rồi, cũng có thể chỉ có mấy giờ đồng hồ. Có một hôm, chư vị cảm thấy [thân thể] rất linh mẫn, qua một lúc thì không linh mẫn nữa, thực tế là đã vượt qua một tầng thứ lớn rồi.

(二)功的表現形式

(Nhị) Công đích biểu hiện hình thức

2. Hình thức biểu hiện của ‘công’

法輪功學員的身體經過調理就已經達到一種適合於大法修煉狀態,這就是「奶白體」狀態。只有調整到這個狀態才能出功。天目層次高的人會看到,功就出在煉功人的表皮上,然後卸進到煉功人的身體裏;然後再出、再進,這樣反復進行,一個層次一個層次的走,有時候走的很快。這是第一遍功。第一遍功出過後,煉功人的身體不是一般的身體了,達到奶白體後,從此再不會得病。以後出現的這兒痛、那兒痛,或者某個部位難受,像有病的樣子,但這不是病,是業力在起作用。等出第二遍功的時候,那個靈體就很大了,他會動、會說話。有時出的稀稀拉拉的,有時出的很密,他們相互之間還會說話。這個靈體裏面就儲存著大量的能量,它是用來改變本體的。

Pháp Luân Công học viên đích thân thể kinh quá điều lý tựu dĩ kinh đạt đáo nhất chủng thích hợp ư Đại Pháp tu luyện trạng thái, giá tựu thị “nãi bạch thể” trạng thái. Chỉ hữu điều chỉnh đáo giá cá trạng thái tài năng xuất công. Thiên mục tầng thứ cao đích nhân hội khán đáo, công tựu xuất tại luyện công nhân đích biểu bì thượng, nhiên hậu tá tiến đáo luyện công nhân đích thân thể lý; nhiên hậu tái xuất, tái tiến, giá dạng phản phục tiến hành, nhất cá tầng thứ nhất cá tầng thứ đích tẩu, hữu thời hậu tẩu đích ngận khoái. Giá thị đệ nhất biến công. Đệ nhất biến công xuất quá hậu, luyện công nhân đích thân thể bất thị nhất ban đích thân thể liễu, đạt đáo nãi bạch thể hậu, tùng thử tái bất hội đắc bệnh. Dĩ hậu xuất hiện đích giá nhi thống, na nhi thống, hoặc giả mỗ cá bộ vị nan thụ, tượng hữu bệnh đích dạng tử, đãn giá bất thị bệnh, thị nghiệp lực tại khởi tác dụng. Đẳng xuất đệ nhị biến công đích thời hậu, na cá linh thể tựu ngận đại liễu, tha hội động, hội thuyết thoại. Hữu thời xuất đích hy hy lạp lạp đích, hữu thời xuất đích ngận mật, tha môn tương hỗ chi gian hài hội thuyết thoại. Giá cá linh thể lý diện tựu trừ tồn trước đại lượng đích năng lượng, tha thị dụng lai cải biến bản thể đích.

Thân thể học viên Pháp Luân Công trải qua điều chỉnh thì đã đạt tới trạng thái thích hợp với tu luyện Đại Pháp, đó chính là trạng thái “nãi bạch thể”. Chỉ khi điều chỉnh tới trạng thái đó thì mới có thể xuất công. Người có thiên mục tầng thứ cao có thể nhìn thấy, công xuất ra trên bề mặt da của người luyện công, sau đó lại tiến vào trong thân thể người luyện công; sau đó lại trở ra, lại tiến vào, tiến hành lặp đi lặp lại như thế, đi từng tầng thứ từng tầng thứ, có những lúc tiến bước rất nhanh. Đó là công lượt thứ nhất. Sau khi công lượt thứ nhất xuất rồi, thân thể người luyện công đã không còn là thân thể bình phàm nữa, sau khi đạt tới nãi bạch thể, từ đó trở đi sẽ không mắc bệnh nữa. Sau đó xuất hiện đau chỗ này, đau chỗ kia, hoặc một chỗ nào đó thấy khó chịu, giống như có bệnh, nhưng đó không phải bệnh đâu, mà là nghiệp lực đang khởi tác dụng. Đợi qua lượt xuất công thứ hai, thì những linh thể kia đã rất lớn rồi, chúng sẽ động, sẽ nói thoại. Có lúc chúng xuất ra rời rạc, có lúc xuất ra mật độ lớn, chúng còn nói chuyện với nhau. Trong những linh thể đó có tồn tại một lượng lớn năng lượng, chúng là dùng để cải biến bản thể.

法輪功修煉到很高的成度,有時出現嬰孩,滿身都是,他們很淘氣,貪玩,很善良。還能夠煉出另一種身體,那就是元嬰。他坐在蓮花台上,非常漂亮。煉功出的元嬰就是由人體的陰陽合和而成,男女修煉者都可以煉出元嬰。元嬰開始時很小,逐漸長大,最後長的和煉功人一般大,長的一模一樣,就在他的身體裏。有特異功能的人看他,說他有兩個身體,實際上就是他的真身修成了。另外,還會修出許多法身來。總之,宇宙中能出的功能法輪功裏都有;其它功法裏能出的功能法輪功裏也都有。

Pháp Luân Công tu luyện đáo ngận cao đích thành độ, hữu thời xuất hiện anh hài, mãn thân đô thị, tha môn ngận đào khí, tham ngoạn, ngận thiện lương. Hài năng cú luyện xuất lánh nhất chủng thân thể, na tựu thị nguyên anh. Tha toạ tại liên hoa đài thượng, phi thường phiêu lượng. Luyện công xuất đích nguyên anh tựu thị do nhân thể đích âm dương hợp hoà nhi thành, nam nữ tu luyện giả đô khả dĩ luyện xuất nguyên anh. Nguyên anh khai thuỷ thời ngận tiểu, trục tiệm trưởng đại, tối hậu trưởng đích hoà luyện công nhân nhất ban đại, trưởng đích nhất mô nhất dạng, tựu tại tha đích thân thể lý. Hữu đặc dị công năng đích nhân khán Tha, thuyết tha hữu lưỡng cá thân thể, thực tế thượng tựu thị tha đích chân thân tu thành liễu. Lánh ngoại, hài hội tu xuất hứa đa Pháp thân lai. Tổng chi, vũ trụ trung năng xuất đích công năng Pháp Luân Công lý đô hữu; kỳ tha công pháp lý năng xuất đích công năng Pháp Luân Công lý dã đô hữu.

Tu luyện Pháp Luân Công tới trình độ rất cao, có lúc xuất hiện ‘anh hài’, có ở khắp thân, chúng rất tinh nghịch, ham chơi, rất thiện lương. Còn có thể luyện xuất ra một loại thân thể nữa, đó chính là ‘nguyên anh’. Nguyên anh ngồi trên đài hoa sen, trông đẹp vô cùng. Nguyên anh được luyện ra ấy chính là do âm dương của [thân] thể người hoà hợp mà thành, người tu luyện nam hay nữ đều có thể luyện ra nguyên anh. Lúc đầu nguyên anh rất là bé, rồi từ từ lớn lên, cuối cùng lớn cỡ như người luyện công, trông cùng khuôn dạng, ở bên trong thân thể của họ. Người có công năng đặc dị là có thể nhìn thấy nguyên anh, nói rằng người kia có hai thân thể, trên thực tế chính là họ đã tu thành ‘chân thân’. Ngoài ra, sẽ còn tu xuất rất nhiều Pháp thân. Tóm lại, trong vũ trụ có thể xuất công năng gì thì trong Pháp Luân Công đều có cả; trong các công pháp khác có thể xuất công năng gì thì trong Pháp Luân Công cũng đều có.

(三)出世間法修煉

(Tam) Xuất thế gian pháp tu luyện

3. Tu luyện xuất thế gian pháp

煉功人通過煉功使脈加寬,不斷的加寬,使脈連成一片,也就是煉到沒有脈、沒有穴;反過來講,周身都是脈、都是穴。這還不能說明你已經得道了,它也只是法輪功修煉過程中的一種體現,一個層次的體現。到了這一步的時候,在世間法修煉中已經走到盡頭了,那個功出的已經很厲害了,都是有形狀的,功柱也很高了,而且頭上出現三朵花。這時,他只是在世間法中走完了最後一步。

Luyện công nhân thông quá luyện công sử mạch gia khoan, bất đoạn đích gia khoan, sử mạch liên thành nhất phiến, dã tựu thị luyện đáo một hữu mạch, một hữu huyệt; phản quá lai giảng, chu thân đô thị mạch, đô thị huyệt. Giá hài bất năng thuyết minh nhĩ dĩ kinh đắc đạo liễu, tha dã chỉ thị Pháp Luân Công tu luyện quá trình trung đích nhất chủng thể hiện, nhất cá tầng thứ đích thể hiện. Đáo liễu giá nhất bộ đích thời hậu, tại thế gian pháp tu luyện trung dĩ kinh tẩu đáo tận đầu liễu, na cá công xuất đích dĩ kinh ngận lệ hại liễu, đô thị hữu hình trạng đích, công trụ dã ngận cao liễu, nhi thả đầu thượng xuất hiện tam đoá hoa. Giá thời, tha chỉ thị tại thế gian pháp trung tẩu hoàn liễu tối hậu nhất bộ.

Người luyện công thông qua việc luyện công khiến mạch rộng ra, không ngừng mở rộng, khiến các mạch liền thành một mảng, cũng chính là luyện tới không có mạch cũng không có huyệt; nói cách khác, khắp thân đều là mạch, đều là huyệt. Đó vẫn chưa nói lên rằng chư vị đã đắc Đạo, đó chỉ là một loại thể hiện trong quá trình tu luyện Pháp Luân Công, thể hiện của một tầng thứ. Khi tới bước đó rồi, đã tới tận cùng trong tu luyện thế gian pháp, thì công kia xuất ra đã rất lợi hại rồi, đều có hình trạng, cột công trụ cũng rất cao, ngoài ra trên đầu xuất hiện ba đoá hoa. Bấy giờ, họ chỉ là bước hết bước cuối cùng trong tu luyện thế gian pháp.

再往前邁一步的時候,就甚麼都沒有了,把功全部卸進到身體裏最深的空間裏了,他就變成淨白體狀態了,這個人身體是透明的了。再走一步,進入出世間法修煉,也叫佛體修煉。再出的功屬於神通之類的。那個時候,他的威力無窮,非常大,到更高境界的時候要修成大覺者了。這就看你如何修煉心性,修煉到哪一層,果位就到哪一層。大志者得正法,成正果,是為圓滿。

Tái vãng tiền mại nhất bộ đích thời hậu, tựu thậm ma đô một hữu liễu, bả công toàn bộ tá tiến đáo thân thể lý tối thâm đích không gian lý liễu, tha tựu biến thành tịnh bạch thể trạng thái liễu, giá cá nhân thân thể thị thấu minh đích liễu. Tái tẩu nhất bộ, tiến nhập xuất thế gian pháp tu luyện, dã khiếu Phật thể tu luyện. Tái xuất đích công thuộc ư thần thông chi loại đích. Na cá thời hậu, tha đích uy lực vô cùng, phi thường đại, đáo cánh cao cảnh giới đích thời hậu yếu tu thành Đại Giác Giả liễu. Giá tựu khán nhĩ như hà tu luyện tâm tính, tu luyện đáo nả nhất tầng, quả vị tựu đáo nả nhất tầng. Đại chí giả đắc chính Pháp, thành chính quả, thị vi viên mãn.

Khi tu tiến tiếp thêm bước nữa, chính không còn gì cả, đưa toàn bộ công ép nhập vào một không gian thâm sâu nhất trong thân thể, họ đã biến thành trạng thái ‘tịnh bạch thể’, thân thể người ấy đã là thấu minh [trong suốt]. Lại tiến tiếp một bước nữa, thì tiến nhập vào tu luyện ‘xuất thế gian pháp’, cũng gọi là tu luyện Phật thể. Công lại xuất ra nữa thì thuộc về các loại thần thông rồi. Bấy giờ, họ có uy lực vô cùng, phi thường lớn, khi tới cảnh giới cao hơn nữa thì tu thành Đại Giác Giả rồi. Ấy vẫn là xem chư vị tu luyện tâm tính như thế nào, tu luyện tới tầng nào, quả vị là tới tầng đó. Người có chí lớn đắc chính Pháp, thành chính quả, ấy là viên mãn.


 

Chương III • Tu luyện tâm tính

第三章 • 修煉心性

Đệ tam chương • Tu luyện tâm tính

Chương III • Tu luyện tâm tính

法輪功修煉者都必須把心性修煉放在首位,認定心性是長功的關鍵,這是煉功到高層次的理。嚴格的說,決定層次的功力不是煉出來的,而是靠心性修出來的。提高心性說起來容易,做起來很難很難的。修煉者要有極大的付出,要提高悟性,要能吃苦中之苦,要能忍難忍之事,等等。為甚麼有些人煉功多年而不長功?其根本原因:一是不講心性;二是不得高層次正法。這個問題必須點破。很多師父教功都講心性,這是真教功;那些只教動作、手法而不講心性的,實際上等於教邪法。因此,煉功人必須在提高心性上下一番大功夫,才能進入更高層次的修煉。

Pháp Luân Công tu luyện giả đô tất tu bả tâm tính tu luyện phóng tại thủ vị, nhận định tâm tính thị trưởng công đích quan kiện, giá thị luyện công đáo cao tầng thứ đích Lý. Nghiêm cách đích thuyết, quyết định tầng thứ đích công lực bất thị luyện xuất lai đích, nhi thị kháo tâm tính tu xuất lai đích. Đề cao tâm tính thuyết khởi lai dung dị, tố khởi lai ngận nan ngận nan đích. Tu luyện giả yếu hữu cực đại đích phó xuất, yếu đề cao ngộ tính, yếu năng ngật khổ trung chi khổ, yếu năng nhẫn nan nhẫn chi sự, đẳng đẳng. Vi thậm ma hữu ta nhân luyện công đa niên nhi bất trưởng công? Kỳ căn bản nguyên nhân: nhất thị bất giảng tâm tính; nhị thị bất đắc cao tầng thứ chính Pháp. Giá cá vấn đề tất tu điểm phá. Ngận đa sư phụ giáo công đô giảng tâm tính, giá thị chân giáo công; na ta chỉ giáo động tác, thủ pháp nhi bất giảng tâm tính đích, thực tế thượng đẳng ư giáo tà pháp. Nhân thử, luyện công nhân tất tu tại đề cao tâm tính thượng hạ nhất phiên đại công phu, tài năng tiến nhập cánh cao tầng thứ đích tu luyện.

Người tu luyện Pháp Luân Công nhất định phải đặt tu luyện tâm tính lên hàng đầu, nhận định rằng tâm tính là then chốt của việc tăng trưởng công, đây là Lý của luyện công tầng thứ cao. Nói một cách nghiêm khắc, công lực mà quyết định tầng thứ là không phải do luyện ra, mà là dựa vào tâm tính để tu ra. ‘Đề cao tâm tính’ ấy nói thì dễ, nhưng làm thì khó lắm khó lắm. Người tu luyện cần phải phó xuất cực lớn, cần đề cao ngộ tính, phải có thể chịu khổ trong khổ, phải nhẫn những việc khó nhẫn, v.v. Tại sao một số người luyện công nhiều năm mà không tăng công? Nguyên nhân căn bản trong đó: một là không chú trọng tâm tính; hai là không đắc được chính Pháp tầng thứ cao. Vấn đề này nhất định phải làm rõ ra. Rất nhiều sư phụ dạy công đều giảng tâm tính, đó là thật sự dạy công; một số chỉ dạy động tác và thủ pháp thôi chứ không giảng tâm tính, trên thực tế thì cũng bằng như dạy tà pháp. Vì thế, người luyện công ắt phải một phen bỏ nhiều công phu vào đề cao tâm tính, thì có thể tiến nhập vào tu luyện tầng thứ cao hơn.

一、心性的內涵

Nhất, Tâm tính đích nội hàm

I. Nội hàm của tâm tính

法輪功所講的心性,不是「德」所能容貫得了的,它比「德」包括的範圍要寬廣的多,它包括「德」在內的方方面面的內容。一個人的心性在「德」上僅僅是一種體現,單純的用「德」來理解心性的內涵是不夠的。心性包括如何對待「得」與「棄」兩個方面的問題。「得」就是要得到同宇宙特性的同化。構成宇宙所特有的性質是「真、善、忍」,一個煉功人與宇宙特性的同化就體現在個人的「德」上。「棄」就是要放棄那些貪、利、色、慾、殺、打、盜、搶、奸詐、妒嫉等等不良的思想和行為。如果往高層次上修煉,還要放棄人所有固有的對慾望的追求,也就是要放棄一切執著之心,就是要把個人的一切名、利看的很輕、很淡。

Pháp Luân Công sở giảng đích tâm tính, bất thị “đức” sở năng dung quán đắc liễu đích, tha tỷ “đức” bao quát đích phạm vi yếu khoan quảng đích đa, tha bao quát “đức” tại nội đích phương phương diện diện đích nội dung. Nhất cá nhân đích tâm tính tại “đức” thượng cận cận thị nhất chủng thể hiện, đơn thuần đích dụng “đức” lai lý giải tâm tính đích nội hàm thị bất cú đích. Tâm tính bao quát như hà đối đãi “đắc” dữ “khí” lưỡng cá phương diện đích vấn đề. “Đắc” tựu thị yếu đắc đáo đồng vũ trụ đặc tính đích đồng hoá. Cấu thành vũ trụ sở đặc hữu đích tính chất thị “Chân-Thiện-Nhẫn”, nhất cá luyện công nhân dữ vũ trụ đặc tính đích đồng hoá tựu thể hiện tại cá nhân đích “đức” thượng. “Khí” tựu thị yếu phóng khí na ta tham, lợi, sắc, dục, sát, đả, đạo, thưởng, gian trá, đố tật đẳng đẳng bất lương đích tư tưởng hoà hành vi. Như quả vãng cao tầng thứ thượng tu luyện, hài yếu phóng khí nhân sở hữu cố hữu đích đối dục vọng đích truy cầu, dã tựu thị yếu phóng khí nhất thiết chấp trước chi tâm, tựu thị yếu bả cá nhân đích nhất thiết danh, lợi khán đích ngận khinh, ngận đạm.

Tâm tính mà Pháp Luân Công giảng, không phải chỉ “đức” là có thể hàm chứa được, phạm vi bao quát của nó rộng lớn hơn “đức” nhiều lắm, nó gồm có nội dung đủ các phương diện của “đức”. Về tâm tính của một người thì “đức” chỉ đơn thuần là một loại biểu hiện, nếu chỉ đơn thuần lấy “đức” để lý giải nội hàm của tâm tính thì không đủ. Tâm tính [còn] gồm cả việc đối đãi như thế nào đối với hai mặt “được” và “bỏ”[1]. “Được” ấy chính là đạt được đồng hoá với đặc tính của vũ trụ. Tính chất riêng cấu thành của vũ trụ là “Chân-Thiện-Nhẫn”, sự đồng hoá của một người luyện công với đặc tính vũ trụ chính là thể hiện ở “đức” ấy. “Bỏ” chính là vứt bỏ những tư tưởng và hành vi bất lương như tham, lợi, sắc, dục, giết, đánh, trộm, cướp, gian trá, tật đố, v.v. Nếu tu luyện lên tầng thứ cao, thì cần phải vứt bỏ tất cả truy cầu cố hữu của con người đối với dục vọng, tức là cần vứt bỏ hết thảy các tâm chấp trước, chính là cần coi hết thảy những thứ như danh lợi cá nhân thật nhẹ nhàng đạm bạc.

[1] đắc → được; khí → bỏ, vứt bỏ đi.

人由肉體和秉性構成了完整的人。宇宙也一樣,除了物質性以外,還同時存在著「真、善、忍」的特性。每個空氣微粒中都有這種特性存在。體現在常人社會中,做好事得到洪揚,做壞事得到懲罰。在高層次就體現出功能態來。適應這種特性的就是好人,背離他的就是壞人,符合於他、同化於他的就是得道者。這樣就要求煉功人必須有極高的心性來同化於這個特性,這才能往高層次上修煉。

Nhân do nhục thể hoà bỉnh tính cấu thành liễu hoàn chỉnh đích nhân. Vũ trụ dã nhất dạng, trừ liễu vật chất tính dĩ ngoại, hài đồng thời tồn tại trước “Chân-Thiện-Nhẫn” đích đặc tính. Mỗi cá không khí vi lạp trung đô hữu giá chủng đặc tính tồn tại. Thể hiện tại thường nhân xã hội trung, tố hảo sự đắc đáo hồng dương, tố hoại sự đắc đáo trừng phạt. Tại cao tầng thứ tựu thể hiện xuất công năng thái lai. Thích ứng giá chủng đặc tính đích tựu thị hảo nhân, bối ly Tha đích tựu thị hoại nhân, phù hợp ư Tha, đồng hoá ư Tha đích tựu thị đắc Đạo giả. Giá dạng tựu yêu cầu luyện công nhân tất tu hữu cực cao đích tâm tính lai đồng hoá ư giá cá đặc tính, giá tài năng vãng cao tầng thứ thượng tu luyện.

Người là do thân xác thịt và tính cách cấu thành nên một người hoàn chỉnh. Vũ trụ cũng như thế, ngoài [những gì có] tính vật chất ra, cũng đồng thời tồn tại đặc tính “Chân-Thiện-Nhẫn”. Trong mỗi vi lạp không khí đều có tồn tại đặc tính này. Thể hiện trong xã hội người thường, làm việc tốt thì được biểu dương rộng rãi, làm việc xấu thì bị trừng phạt. Ở tầng thứ cao là thể hiện xuất ra [trạng] thái công năng. Ai thích ứng với loại đặc tính này thì là người tốt, ai rời xa Nó thì là người xấu, ai phù hợp với Nó, đồng hoá với Nó thì chính là người đắc Đạo. Đã là như vậy nên yêu cầu người luyện công ắt phải có tâm tính cực cao để đồng hoá với đặc tính này, như thế mới có thể tu luyện lên tầng thứ cao.

做一個好人容易些,然而要修煉心性就不那麼容易了。修煉者要有精神準備,欲正其心,先誠其意。人們生活在世界上,社會是複雜的,你要行善,可也有人不叫你行善;你不侵害別人,可別人會由種種原因來傷害你。在這裏有些是出於非自然原因的,你能不能悟到為甚麼?你應該怎麼辦?世間的一切是是非非,無時不在檢測著你的心性。在面對無名的屈辱中,在你的切身利益受到損害時,在金錢面前,在女色面前,在權力的角鬥中,在勾心鬥角的嫉恨中,在種種的社會糾紛、家庭矛盾和有形無形的痛苦裏,你都能時時的用嚴格的心性要求來把握自己嗎?當然,如果你甚麼都能做到,你已經就是覺者了。煉功人大都畢竟是從常人開始的,心性的修煉也是一點一點提高的。有志於修煉者要有吃大苦和應付大困難的決心,最終會得正果的。望廣大修煉者,嚴守心性,早日提高功力!

Tố nhất cá hảo nhân dung dị ta, nhiên nhi yếu tu luyện tâm tính tựu bất na ma dung dị liễu. Tu luyện giả yếu hữu tinh thần chuẩn bị, dục chính kỳ tâm, tiên thành kỳ ý. Nhân môn sinh hoạt tại thế giới thượng, xã hội thị phức tạp đích, nhĩ yếu hành Thiện, khả dã hữu nhân bất khiếu nhĩ hành Thiện; nhĩ bất xâm hại biệt nhân, khả biệt nhân hội do chủng chủng nguyên nhân lai thương hại nhĩ. Tại giá lý hữu ta thị xuất ư phi tự nhiên nguyên nhân đích, nhĩ năng bất năng ngộ đáo vi thậm ma? Nhĩ ưng cai chẩm ma biện? Thế gian đích nhất thiết thị thị phi phi, vô thời bất tại kiểm trắc trước nhĩ đích tâm tính. Tại diện đối vô danh đích khuất nhục trung, tại nhĩ đích thiết thân lợi ích thụ đáo tổn hại thời, tại kim tiền diện tiền, tại nữ sắc diện tiền, tại quyền lực đích giác đấu trung, tại câu tâm đấu giác đích tật hận trung, tại chủng chủng đích xã hội củ phân, gia đình mâu thuẫn hoà hữu hình vô hình đích thống khổ lý, nhĩ đô năng thời thời đích dụng nghiêm cách đích tâm tính yêu cầu lai bả ác tự kỷ ma? Đương nhiên, như quả nhĩ thậm ma đô năng tố đáo, nhĩ dĩ kinh tựu thị Giác Giả liễu. Luyện công nhân đại đô tất cánh thị tùng thường nhân khai thuỷ đích, tâm tính đích tu luyện dã thị nhất điểm nhất điểm đề cao đích. Hữu chí ư tu luyện giả yếu hữu ngật đại khổ hoà ứng phó đại khốn nan đích quyết tâm, tối chung hội đắc chính quả đích. Vọng quảng đại tu luyện giả, nghiêm thủ tâm tính, tảo nhật đề cao công lực!

Làm người tốt thì dễ hơn, nhưng muốn tu luyện tâm tính thì không dễ như thế. Người tu luyện cần có chuẩn bị về tinh thần, mong muốn ‘chính tâm’, trước mang ‘thành ý’. Người ta sống ở thế gian, xã hội phức tạp lắm, chư vị muốn hành Thiện, nhưng có thể có người không để chư vị hành Thiện; chư vị chẳng muốn làm hại người khác, nhưng có thể người khác sẽ vì nguyên nhân đủ loại mà tới hại chư vị. Một số ở đó là xuất ra từ những nguyên nhân phi tự nhiên, chư vị có thể ‘ngộ’ ra đó là vì sao hay không? Chư vị nên làm thế nào? Hết thảy các thứ ở thế gian là thị phi lẫn lộn, bất kỳ lúc nào cũng đang khảo nghiệm tâm tính của chư vị. Khi đối mặt với những khuất nhục không kể tên ra nổi, khi lợi ích thiết thân của chư vị bị tổn thất, lúc đối mặt với kim tiền, lúc đối mặt với nữ sắc, khi trong đấu tranh quyền lực, khi ghen ghét thù hận của đấu đá, khi trong thống khổ hữu hình và vô hình của các loại chỉ trích nơi xã hội cũng như mâu thuẫn gia đình, chư vị có thể mọi thời mọi lúc lấy yêu cầu nghiêm khắc về tâm tính để giữ mình vững vàng hay không? Đương nhiên, nếu cái gì chư vị cũng đều có thể làm được, thì chư vị đã là Giác Giả rồi. Nhìn chung thì người luyện công dù sao cũng là bắt đầu từ người thường, tu luyện tâm tính cũng là đề cao lên từng chút từng chút. Người có chí tu luyện mà có quyết tâm chịu nỗi khổ lớn và ứng phó những khó khăn lớn, cuối cùng sẽ đắc chính quả. Mong rằng đông đảo những người tu luyện, hãy thủ vững tâm tính, sớm ngày đề cao công lực!

二、失與得

Nhị, Thất dữ đắc

II. Mất và được

在氣功界、宗教界都講失與得。有些人認為失就是施捨,做點好事,誰困難了幫一把;得就是得功了。廟裏的和尚也這麼說,要施捨。這就把失看的太狹隘了。而我們所說的失是廣義的,是個很大的東西。我們要求失去的是常人的那顆心,是那顆執著不放的心,要能夠失去你認為重要的東西,能夠失去你認為不能拋棄的東西,這是真失。幫助人做點好事,表示些慈悲之心,這僅僅是失的一部份。

Tại khí công giới, tôn giáo giới đô giảng thất dữ đắc. Hữu ta nhân nhận vi thất tựu thị thi xả, tố điểm hảo sự, thuỳ khốn nan liễu bang nhất bả; đắc tựu thị đắc công liễu. Miếu lý đích hoà thượng dã giá ma thuyết, yếu thi xả. Giá tựu bả thất khán đích thái hiệp ải liễu. Nhi ngã môn sở thuyết đích thất thị quảng nghĩa đích, thị cá ngận đại đích đông tây. Ngã môn yêu cầu thất khứ đích thị thường nhân đích na khoả tâm, thị na khoả chấp trước bất phóng đích tâm, yếu năng cú thất khứ nhĩ nhận vi trọng yếu đích đông tây, năng cú thất khứ nhĩ nhận vi bất năng phao khí đích đông tây, giá thị chân thất. Bang trợ nhân tố điểm hảo sự, biểu thị ta từ bi chi tâm, giá cận cận thị thất đích nhất bộ phận.

Tại giới khí công và giới tôn giáo đều giảng về ‘mất’ và ‘được’[2]. Có người nhìn nhận rằng ‘mất’ chính là bố thí, làm một số việc tốt, thấy người khó khăn thì giúp một chút; và ‘được’ chính là được công. Hoà thượng ở chùa cũng nói thế, rằng nên bố thí. Đó là nhìn cái ‘mất’ quá hạn hẹp. Còn ‘mất’ mà chúng ta nói là nghĩa rộng, là điều rất lớn. Chúng ta yêu cầu mất đi là những cái tâm người thường, là những tâm chấp trước mà không buông, nếu có thể mất đi những gì mà chư vị cho là trọng yếu, có thể mất đi những gì mà chư vị cho là không thể buông bỏ, thì đó mới là cái ‘mất’ thật. Giúp người làm một vài việc tốt, biểu thị tâm từ bi, đó chỉ đơn thuần là một phần của ‘mất’ thôi.

[2] thất → mất; đắc → được.

作為常人想出點名,得點利,想生活過的好一點,舒服一點,錢多一點,這是常人的目標。而我們煉功人就不一樣了,我們得的是功,就不是這些東西。我們要把個人利益失一失,看的淡一點,但又不是讓你真的失去甚麼東西。我們是在常人社會中修煉,還得保持和常人一樣,關鍵是你要把那顆心放下,不是要你真的失去甚麼東西。是你的東西不會丟,不是你的東西也弄不來,弄來了也得還給人家,有所得必有所失。當然,一下子都做的很高也不可能,一夜之間就成為覺者也是做不到的。但是,一點點的修,一步步的提高是可以辦的到的,你能失去多少就會得到多少。在利益關係上你總是看的淡淡的,寧可少得而安逸。在物質上你可能吃虧,而在德上你會多得,在功上你會多得,這是道理所在,而不是要你有意去以名譽利祿做交換,這要用悟性去進一步體會。

Tác vi thường nhân tưởng xuất điểm danh, đắc điểm lợi, tưởng sinh hoạt quá đích hảo nhất điểm, thư phục nhất điểm, tiền đa nhất điểm, giá thị thường nhân đích mục tiêu. Nhi ngã môn luyện công nhân tựu bất nhất dạng liễu, ngã môn đắc đích thị công, tựu bất thị giá ta đông tây. Ngã môn yếu bả cá nhân lợi ích thất nhất thất, khán đích đạm nhất điểm, đãn hựu bất thị nhượng nhĩ chân đích thất khứ thậm ma đông tây. Ngã môn thị tại thường nhân xã hội trung tu luyện, hài đắc bảo trì hoà thường nhân nhất dạng, quan kiện thị nhĩ yếu bả na khoả tâm phóng hạ, bất thị yếu nhĩ chân đích thất khứ thậm ma đông tây. Thị nhĩ đích đông tây bất hội đâu, bất thị nhĩ đích đông tây dã lộng bất lai, lộng lai liễu dã đắc hài cấp nhân gia, hữu sở đắc tất hữu sở thất. Đương nhiên, nhất hạ tử đô tố đích ngận cao dã bất khả năng, nhất dạ chi gian tựu thành vi Giác Giả dã thị tố bất đáo đích. Đãn thị, nhất điểm điểm đích tu, nhất bộ bộ đích đề cao thị khả dĩ biện đích đáo đích, nhĩ năng thất khứ đa thiểu tựu hội đắc đáo đa thiểu. Tại lợi ích quan hệ thượng nhĩ tổng thị khán đích đạm đạm đích, ninh khả thiểu đắc nhi an dật. Tại vật chất thượng nhĩ khả năng ngật khuy, nhi tại đức thượng nhĩ hội đa đắc, tại công thượng nhĩ hội đa đắc, giá thị đạo lý sở tại, nhi bất thị yếu nhĩ hữu ý khứ dĩ danh dự lợi lộc tố giao hoán, giá yếu dụng ngộ tính khứ tiến nhất bộ thể hội.

Làm người thường muốn nổi danh hơn, được lợi hơn, muốn cuộc sống khá giả hơn, thoải mái hơn, nhiều tiền hơn, đó là mục tiêu của người thường. Nhưng người tu luyện chúng ta chính là không như thế, điều chúng ta được là ‘công’, chứ không phải những thứ kia. Chúng ta cần ‘mất’ bớt một chút những lợi ích cá nhân, coi nhẹ những thứ đó hơn, nhưng không phải là khiến chư vị thật sự mất đi thứ gì. Chúng ta là tu luyện trong xã hội người thường, vẫn cần bảo trì giống với người thường, then chốt là chư vị phải vứt bỏ cái tâm kia, chứ không phải muốn chư vị thật sự mất đi thứ gì. Cái của chư vị thì sẽ không mất, còn cái không phải của chư vị thì kiếm chác cũng không được, cố giành được thì rồi cũng cấp cho người ta, có cái được thì ắt có cái mất. Đương nhiên, lập tức đều làm được rất cao thì không thể, qua một đêm liền thành Giác Giả thì cũng không làm được thế. Nhưng tu từng điểm từng chút, đề cao từng bước thì có thể làm được, chư vị có thể mất bao nhiêu thì sẽ được bấy nhiêu. Về quan hệ lợi ích thì chư vị luôn coi thật nhẹ nhàng, thà đắc được ít đi nhưng [tâm] an nhàn còn hơn. Chư vị có thể chịu thiệt về vật chất, nhưng sẽ được thêm về đức, sẽ được thêm về công, ấy là có đạo lý ở đó, nhưng không phải là chư vị cố ý đem danh dự lợi lộc đi đổi, điều này là cần dùng ngộ tính tiến bộ một bước nữa mà thể nghiệm ra.

有位修大道的人曾說,別人想要的東西我不想要,別人有的東西我沒有;但我有的東西別人沒有,別人不要的東西我要。作為一個常人很難有滿足的時候,甚麼都想要,唯獨地下的石頭他不揀。而這位修道的人說那我就揀這石頭。俗話說物以稀為貴,以少為奇,石頭在這邊不值錢,到了那邊就最值錢。這裏說出了一個常人說不出的哲理。不少修成的大德高人,他們都是一無所有,對於他們,沒有個人不能放棄的東西。

Hữu vị tu Đại Đạo đích nhân tằng thuyết, biệt nhân tưởng yếu đích đông tây ngã bất tưởng yếu, biệt nhân hữu đích đông tây ngã một hữu; đãn ngã hữu đích đông tây biệt nhân một hữu, biệt nhân bất yếu đích đông tây ngã yếu. Tác vi nhất cá thường nhân ngận nan hữu mãn túc đích thời hậu, thậm ma đô tưởng yếu, duy độc địa hạ đích thạch đầu tha bất giản. Nhi giá vị tu Đạo đích nhân thuyết na ngã tựu giản giá thạch đầu. Tục thoại thuyết vật dĩ hy vi quý, dĩ thiểu vi kỳ, thạch đầu tại giá biên bất trị tiền, đáo liễu na biên tựu tối trị tiền. Giá lý thuyết xuất liễu nhất cá thường nhân thuyết bất xuất đích triết lý. Bất thiểu tu thành đích đại đức cao nhân, tha môn đô thị nhất vô sở hữu, đối ư tha môn, một hữu cá nhân bất năng phóng khí đích đông tây.

Có vị tu Đại Đạo từng nói rằng, ‘cái người khác muốn thì tôi không muốn, cái người khác có thì tôi không có; nhưng cái mà tôi có thì người khác không có, cái người khác không muốn thì tôi muốn’. Làm một người thường thì rất khó có lúc thoả mãn, cái gì họ cũng muốn. Chỉ có cục đá ở mặt đất thì họ chẳng thèm nhặt. Mà vị tu Đạo kia nói rằng ‘tôi là muốn nhặt cục đá ấy’. Tục ngữ rằng cái gì hiếm thì mới quý, cái gì ít thì mới lạ, cục đá ấy ở bên này không đáng tiền, [nhưng] sang bên [không gian] kia thì rất giá trị. Đây là nói lên triết lý mà người thường không nói ra được. Không ít cao nhân đại đức đã tu thành, họ đều không có [tài vật] gì cả, đối với họ, không có gì mà cá nhân [họ] không thể buông bỏ được.

煉功這條道路是最對的,煉功人才是最聰明的。常人要爭的那東西,要得的那一點好處是一時的,即使爭來了,揀來了,或者得到了一點好處又能怎樣?常人有句話:生帶不來,死帶不去;來時一身光,走時一身光,連骨頭都要燒成灰。不管你腰纏萬貫、高官顯赫,你甚麼也帶不去,但功可以帶走,因為它就長在你主意識身上。我告訴你說,功是來之不易的,它太珍貴太難得了,是千金不換的。當你的功很高的時候,如果有一天你說不願意煉功了,只要你不做壞事,那時你的功會轉化為你所要的一切物質東西,都可以得到。但是,除世間你所得到的以外,修煉人得到的東西你不會再有了。

Luyện công giá điều đạo lộ thị tối đối đích, luyện công nhân tài thị tối thông minh đích. Thường nhân yếu tranh đích na đông tây, yếu đắc đích na nhất điểm hảo xứ thị nhất thời đích, tức sử tranh lai liễu, giản lai liễu, hoặc giả đắc đáo liễu nhất điểm hảo xứ hựu năng chẩm dạng? Thường nhân hữu cú thoại: sinh đới bất lai, tử đới bất khứ; lai thời nhất thân quang, tẩu thời nhất thân quang, liên cốt đầu đô yếu thiêu thành khôi. Bất quản nhĩ yêu triền vạn quán, cao quan hiển hách, nhĩ thậm ma dã đới bất khứ, đãn công khả dĩ đới tẩu, nhân vi tha tựu trưởng tại nhĩ chủ ý thức thân thượng. Ngã cáo tố nhĩ thuyết, công thị lai chi bất dị đích, tha thái trân quý thái nan đắc liễu, thị thiên kim bất hoán đích. Đương nhĩ đích công ngận cao đích thời hậu, như quả hữu nhất thiên nhĩ thuyết bất nguyện ý luyện công liễu, chỉ yếu nhĩ bất tố hoại sự, na thời nhĩ đích công hội chuyển hoá vi nhĩ sở yếu đích nhất thiết vật chất đông tây, đô khả dĩ đắc đáo. Đãn thị, trừ thế gian nhĩ sở đắc đáo đích dĩ ngoại, tu luyện nhân đắc đáo đích đông tây nhĩ bất hội tái hữu liễu.

Con đường luyện công này là đúng đắn nhất, người luyện công mới là thông minh nhất. Người thường muốn tranh những gì, muốn đạt những chỗ tốt nào đều là nhất thời, vả lại tranh được rồi, [miễn phí] nhặt được rồi, hoặc đạt được một chút chỗ tốt kia thì có thể sao chứ? Người thường có câu rằng: khi sinh chẳng mang tới, khi chết chẳng mang theo; khi tới thân trống trơn, khi đi thân trơn trống, ngay cả xương cốt cũng hoả thiêu thành tro. Dù chư vị giầu nứt đố đổ vách, quan cao chức trọng, thì chư vị cũng chẳng mang theo được gì hết, nhưng ‘công’ là có thể mang theo, là vì nó chính là sinh trưởng trên thân chủ ý thức chư vị. Tôi bảo chư vị lời này, ‘công’ này có được không dễ đâu, nó quá trân quý quá khó được, bao nhiêu vàng cũng không đổi được. Khi công của chư vị đã rất cao rồi, nếu một ngày kia chư vị bảo rằng không nguyện ý luyện công nữa, thì chỉ cần chư vị đừng làm điều xấu, thì bấy giờ công của chư vị sẽ chuyển hoá thành hết thảy những thứ vật chất mà chư vị cần, đều có thể đắc được. Nhưng mà, ngoại trừ những thứ ở thế gian là chư vị đắc được, thì những thứ mà người tu luyện đắc được là chư vị sẽ không có lại nữa.

有些人為了某種個人利益,把本來不屬於自己的東西,通過不正當手段得來,他以為佔了便宜,事實上他所得來的利益是用德和人家交換來的,只是他不知道而已。對於煉功人要從功上減;對於不煉功的人要從壽命上減,或從其它方面減。總之,這筆賬總是要算的,這是天理所在。還有人總欺負人、惡語傷人,等等,隨著這些行為的發生,他就把相應的一份德拋給了對方,以德交換了對人家的欺辱。

Hữu ta nhân vi liễu mỗ chủng cá nhân lợi ích, bả bản lai bất thuộc ư tự kỷ đích đông tây, thông quá bất chính đương thủ đoạn đắc lai, tha dĩ vi chiếm liễu tiện nghi, sự thực thượng tha sở đắc lai đích lợi ích thị dụng đức hoà nhân gia giao hoán lai đích, chỉ thị tha bất tri đạo nhi dĩ. Đối ư luyện công nhân yếu tùng công thượng giảm; đối ư bất luyện công đích nhân yếu tùng thọ mệnh thượng giảm, hoặc tùng kỳ tha phương diện giảm. Tổng chi, giá bút trướng tổng thị yếu toán đích, giá thị Thiên Lý sở tại. Hài hữu nhân tổng khi phụ nhân, ác ngữ thương nhân, đẳng đẳng, tuỳ trước giá ta hành vi đích phát sinh, tha tựu bả tương ứng đích nhất phần đức phao cấp liễu đối phương, dĩ đức giao hoán liễu đối nhân gia đích khi nhục.

Có những người chỉ vì lợi ích cá nhân nào đó, mà lấy những thứ vốn không thuộc về mình, bằng thủ đoạn không chính đáng để đoạt lấy, họ cho rằng chiếm được lợi, trên thực tế lợi ích mà họ đắc được ấy là dùng đức trao đổi với người ta, chỉ là họ không biết mà thôi. Đối với người luyện công thì khấu trừ vào công; đối với người không luyện công thì khấu trừ vào thọ mệnh, hoặc giảm trừ vào phương diện khác. Tóm lại, khoản ấy là phải kết toán, đó là điều trong Thiên Lý. Còn có những người cứ bắt nạt người khác, lời ác làm thương tổn người khác, v.v., thì cùng theo hành vi đó phát sinh, họ đang đưa một phần đức tương ứng sang người kia rồi, lấy đức trao đổi lấy việc bắt nạt làm nhục người khác.

有些人認為,做好人吃虧。在常人看來他是吃虧了,而他卻得到了常人無法得到的東西,那就是「德」——白色物質,它是極其珍貴的東西。沒有德就沒有功,那是絕對的真理。好多人為甚麼煉功不長功?就是沒有把德修上去。好些人都在講德,都在要求德,而沒有把德真正轉化為功的道理給講出來,靠個人去悟。大藏經寫了上萬卷,釋迦牟尼在世時講了四十多年的法,都是講一個德;中國古代修道的書都是談的一個德;老子寫那五千言《道德經》也講的是一個德,可是有人就是不悟。

Hữu ta nhân nhận vi, tố hảo nhân ngật khuy. Tại thường nhân khán lai tha thị ngật khuy liễu, nhi tha khước đắc đáo liễu thường nhân vô pháp đắc đáo đích đông tây, na tựu thị “đức”——bạch sắc vật chất, tha thị cực kỳ trân quý đích đông tây. Một hữu đức tựu một hữu công, na thị tuyệt đối đích chân lý. Hảo đa nhân vi thậm ma luyện công bất trưởng công? Tựu thị một hữu bả đức tu thượng khứ. Hảo ta nhân đô tại giảng đức, đô tại yêu cầu đức, nhi một hữu bả đức chân chính chuyển hoá vi công đích đạo lý cấp giảng xuất lai, kháo cá nhân khứ ngộ. Đại Tạng Kinh tả liễu thượng vạn quyển, Thích Ca Mâu Ni tại thế thời giảng liễu tứ thập đa niên đích Pháp, đô thị giảng nhất cá đức; Trung Quốc cổ đại tu Đạo đích thư đô thị đàm đích nhất cá đức; Lão Tử tả na ngũ thiên ngôn «Đạo Đức Kinh» dã giảng đích thị nhất cá đức, khả thị hữu nhân tựu thị bất ngộ.

Một số người cho rằng, làm người tốt thì chịu thiệt. Tại người thường mà xét thì thấy họ chịu thiệt thòi, nhưng họ lại được những thứ mà người thường không cách nào được, ấy chính là “đức” —vật chất màu trắng— đó là thứ cực kỳ trân quý. Không có đức sẽ không có công, đó là chân lý tuyệt đối. Nhiều người như thế luyện công nhưng vì sao không tăng công? Chính là không có tu đức lên. Nhiều người như thế đều đang giảng về đức, đều yêu cầu đức, nhưng không thật sự giảng ra đạo lý về chuyển hoá đức trở thành công, mà dựa vào cá nhân ngộ ra. Đại Tạng Kinh viết tới vạn cuốn, Pháp mà Thích Ca Mâu Ni hơn 40 năm tại thế giảng ra, đều là giảng cái ‘đức’ này; sách tu Đạo thời Trung Quốc cổ đại đều bàn về ‘đức’ này; Lão Tử từng viết cuốn «Đạo Đức Kinh» năm nghìn chữ là cũng giảng cái ‘đức’ này, nhưng vẫn có người cứ không ngộ ra.

我們講失,有得就有失,你真正想修煉了,就會遇到一些魔難。體現在生活中,一是身體上遭點罪,這不舒服那不舒服,但不是病。再則就是表現在社會、家庭、單位都可能出現,突然為利益發生矛盾,感情之間出現摩擦,目地是讓你提高心性。這些事往往來的很突然,看上去非常猛烈。如果你遇到了一件很麻煩的事,搞的你很狼狽,很丟臉,面子上很過不去,那時你怎樣對待?你很坦然,能做到這一點,你那心性在這一難中就提高,你那功也相應的長了那麼高。你能做到一點點,你就能得到一點點;你付出多少,你就能得到多少。人在難中往往不一定悟的出來,但我們要悟,不能混同於常人,產生矛盾時要高姿態。我們在常人中修煉,魔煉心性也得在常人中魔煉,得摔幾個跟頭,從中得到教訓。要想甚麼麻煩也別遇到,就能舒舒服服的長功,那是不可能的。

Ngã môn giảng thất, hữu đắc tựu hữu thất, nhĩ chân chính tưởng tu luyện liễu, tựu hội ngộ đáo nhất ta ma nạn. Thể hiện tại sinh hoạt trung, nhất thị thân thể thượng tao điểm tội, giá bất thư phục na bất thư phục, đãn bất thị bệnh. Tái tắc tựu thị biểu hiện tại xã hội, gia đình, đơn vị đô khả năng xuất hiện, đột nhiên vi lợi ích phát sinh mâu thuẫn, cảm tình chi gian xuất hiện ma sát, mục địa thị nhượng nhĩ đề cao tâm tính. Giá ta sự vãng vãng lai đích ngận đột nhiên, khán thượng khứ phi thường mãnh liệt. Như quả nhĩ ngộ đáo liễu nhất kiện ngận ma phiền đích sự, cảo đích nhĩ ngận lang bái, ngận đâu kiểm, diện tử thượng ngận quá bất khứ, na thời nhĩ chẩm dạng đối đãi? Nhĩ ngận thản nhiên, năng tố đáo giá nhất điểm, nhĩ na tâm tính tại giá nhất nạn trung tựu đề cao, nhĩ na công dã tương ứng đích trưởng liễu na ma cao. Nhĩ năng tố đáo nhất điểm điểm, nhĩ tựu năng đắc đáo nhất điểm điểm; nhĩ phó xuất đa thiểu, nhĩ tựu năng đắc đáo đa thiểu. Nhân tại nạn trung vãng vãng bất nhất định ngộ đích xuất lai, đãn ngã môn yếu ngộ, bất năng hỗn đồng ư thường nhân, sản sinh mâu thuẫn thời yếu cao tư thái. Ngã môn tại thường nhân trung tu luyện, ma luyện tâm tính dã đắc tại thường nhân trung ma luyện, đắc suất kỷ cá cân đầu, tùng trung đắc đáo giáo huấn. Yếu tưởng thậm ma ma phiền dã biệt ngộ đáo, tựu năng thư thư phục phục đích trưởng công, na thị bất khả năng đích.

Chúng ta giảng về ‘mất’, có được thì có mất, chư vị thật sự muốn tu luyện, thì sẽ đụng phải một số ma nạn. Thể hiện trong cuộc sống, một là gặp phải chút tội [khổ] trên thân thể, khó chịu chỗ này khó chịu chỗ kia, nhưng không phải bệnh. Tiếp nữa chính là biểu hiện đều có thể xuất hiện ở xã hội, gia đình, đơn vị [công tác], đột nhiên phát sinh mâu thuẫn vì lợi ích, xuất hiện va chạm về tình cảm, mục đích chính là để chư vị đề cao tâm tính. Những việc ấy thường đến một cách rất đột nhiên, nhìn thì thấy rất mãnh liệt. Nếu chư vị đụng phải việc rất là rắc rối, đẩy chư vị vào chỗ bế tắc, rất mất mặt, rất xấu hổ, vậy bấy giờ chư vị đối đãi như thế nào? Chư vị rất thản nhiên, có thể làm được điểm ấy, thì tâm tính của chư vị đã đề cao qua một khó nạn đó, công của chư vị cũng tăng trưởng cao lên tương ứng. Chư vị có thể làm được chút nào, thì chư vị có thể đắc được chút nấy; chư vị phó xuất bao nhiêu, thì chư vị có thể được bấy nhiêu. Khi ở trong nạn người ta không nhất định là ngộ ra được, nhưng chúng ta cần ngộ ra, không thể lẫn lộn cùng giống người thường, khi mâu thuẫn sinh ra cần có phong thái cao. Chúng ta tu luyện trong người thường, ma luyện tâm tính cũng cần ma luyện trong người thường, cần vấp ngã mấy lần, từ đó học được bài học giáo huấn. Muốn chẳng hề gặp phải phiền toái nào hết, cứ tăng trưởng công một cách quá ư thoải mái, điều đó là không thể.

三、「真、善、忍」同修

Tam, “Chân-Thiện-Nhẫn” đồng tu

III. Tu “Chân-Thiện-Nhẫn” đồng thời

我們這個法門是「真、善、忍」同修。「真」,就是說真話,做真事,返本歸真,最後做真人。「善」,就是生出慈悲心,行善度人。尤其強調能忍,只有忍,才能修出大德之士來。忍,它是個很強的東西,是超過了真和善的。整個修煉過程都得叫你去忍,守住心性,不可妄為。

Ngã môn giá cá pháp môn thị “Chân-Thiện-Nhẫn” đồng tu. “Chân”, tựu thị thuyết chân thoại, tố chân sự, phản bổn quy chân, tối hậu tố Chân Nhân. “Thiện”, tựu thị sinh xuất từ bi tâm, hành thiện độ nhân. Vưu kỳ cường điệu năng nhẫn, chỉ hữu Nhẫn, tài năng tu xuất đại đức chi sĩ lai. Nhẫn, tha thị cá ngận cường đích đông tây, thị siêu quá liễu chân hoà thiện đích. Chỉnh cá tu luyện quá trình đô đắc khiếu nhĩ khứ nhẫn, thủ trụ tâm tính, bất khả vọng vi.

Pháp môn chúng ta là tu “Chân-Thiện-Nhẫn” đồng thời. “Chân”, chính là nói lời chân, làm việc chân, phản bổn quy chân, cuối cùng làm Chân Nhân. “Thiện”, chính là sinh ra tâm từ bi, hành thiện độ nhân. Đặc biệt nhấn mạnh vào khả năng nhẫn, chỉ có Nhẫn, mới có thể tu xuất kẻ sỹ đại đức, Nhẫn ấy, nó là điều rất mạnh mẽ, là vượt khỏi Chân và Thiện. Toàn bộ quá trình tu luyện đều cần phải khiến chư vị nhẫn, giữ tâm tính vững vàng, không thể tuỳ tiện khinh suất.

遇事能忍不容易。有人說:打不還手,罵不還口,甚至在親朋好友之中很丟面子的情況下都忍下去,這不成「阿Q」了嗎?!我說你方方面面表現都很正常,智力一點不比別人低下,唯獨在個人利益方面看的很淡,誰也不會說你傻。能忍不是懦弱,不是「阿Q」,是意志堅強的表現,是有涵養的表現。中國歷史上的韓信,曾經胯下受辱,就是大忍。古代有句話叫:「匹夫見辱,拔劍而起」。一個常人當他受到污辱時,他會拔劍而起,他會張口罵人,出拳打人。人來一世不容易,有的人就為一口氣活著,太不值得,也太累。中國有句話叫作:「後退一步,海闊天空。」當你遇到麻煩事後退一步的時候,你會發現是另一番景象。

Ngộ sự năng nhẫn bất dung dị. Hữu nhân thuyết: đả bất hoàn thủ, mạ bất hài khẩu, thậm chí tại thân bằng hảo hữu chi trung ngận đâu diện tử đích tình huống hạ đô nhẫn hạ khứ, giá bất thành “AQ” liễu ma?! Ngã thuyết nhĩ phương phương diện diện biểu hiện đô ngận chính thường, trí lực nhất điểm bất tỷ biệt nhân đê hạ, duy độc tại cá nhân lợi ích phương diện khán đích ngận đạm, thuỳ dã bất hội thuyết nhĩ xoạ. Năng nhẫn bất thị noạ nhược, bất thị “AQ”, thị ý chí kiên cường đích biểu hiện, thị hữu hàm dưỡng đích biểu hiện. Trung Quốc lịch sử thượng đích Hàn Tín, tằng kinh khố hạ thụ nhục, tựu thị đại nhẫn. Cổ đại hữu cú thoại khiếu: “thất phu kiến nhục, bạt kiếm nhi khởi”. Nhất cá thường nhân đương tha thụ đáo ô nhục thời, tha hội bạt kiếm nhi khởi, tha hội trương khẩu mạ nhân, xuất quyền đả nhân. Nhân lai nhất thế bất dung dị, hữu đích nhân tựu vi nhất khẩu khí hoạt trước, thái bất trị đắc, dã thái luỵ. Trung Quốc hữu cú thoại khiếu tác: “hậu thoái nhất bộ, hải khoát thiên không.” Đương nhĩ ngộ đáo ma phiền sự hậu thoái nhất bộ đích thời hậu, nhĩ hội phát hiện thị lánh nhất phiên cảnh tượng.

Gặp phải sự cố thì không dễ mà có thể nhẫn được. Có người nói: ‘‘đả bất hoàn thủ, mạ bất hoàn khẩu’, thậm chí bị rất mất mặt trước bạn bè thân quyến mà vẫn nhẫn được, thế chẳng phải đã thành “A-Q” rồi?!’ Tôi nói rằng chư vị biểu hiện hoàn toàn như thường về đủ các phương diện, trí lực cũng không kém gì người khác, chỉ duy nhất phương diện lợi ích cá nhân thì coi rất nhẹ nhàng đạm bạc, [thế thì] không ai nói chư vị là ngốc cả. Có thể nhẫn nhịn thì không phải là yếu đuối đâu, không phải là “A-Q”, mà là biểu hiện của ý chí kiên cường, là biểu hiện của hàm dưỡng. Hàn Tín trong lịch sử Trung Quốc, từng chịu nhục chui háng, chính là đại nhẫn. Cổ đại có câu rằng: “thất phu bị nhục, tuốt kiếm ra đấu”. Một người thường khi họ bị nhục mạ, thì họ sẽ rút kiếm ra đấu lại, họ sẽ mở miệng lăng mạ người, vung nắm đấm đánh người. Người ta tới [sinh ra ở] thế gian này là không dễ gì, có người chỉ vì một khẩu khí [hơn thua] mà sống, như thế quá là không đáng, và cũng quá mệt mỏi. Trung Quốc có câu rằng: “lùi một bước, biển rộng trời trong”. Khi chư vị gặp chuyện phiền phức mà thoái lùi một bước, chư vị sẽ phát hiện đã là một cảnh tượng khác rồi.

作為煉功人,對於和你發生矛盾的人,對於當面羞辱你的人,你不但要忍,要高姿態,而且要感謝他。如果沒有他和你發生矛盾,你怎麼能夠提高心性,怎麼會在遭受痛苦時把黑色物質轉化為白色物質,怎麼長功?人在劫難之中是很難過的,但這時一定要克制住,因為隨著功力增長的時候,那劫難是不斷增加的,就看你心性能不能提高上去。開始時也許惹你生氣,氣的你夠嗆,憋的你很難受,氣的你肝痛、胃痛的,可是你沒有發作,你忍了,這就好,你開始忍了,一種有意的去忍了。你會慢慢不斷的提高心性,你會真正把那事情看淡,那時就是更大的提高。常人把一些摩擦、一點事情看的很大,活著就為一口氣,不能忍,逼急了甚麼事都敢幹。但是作為煉功人,別人看的很大的東西,你看的就很小、很小,太小了。因為你那目標太長遠了,太遠大了,你將要和宇宙同齡。你再想想那東西,可有可無的,你往大了想想,那些東西都能過的去。

Tác vi luyện công nhân, đối ư hoà nhĩ phát sinh mâu thuẫn đích nhân, đối ư đương diện tu nhục nhĩ đích nhân, nhĩ bất đãn yếu nhẫn, yếu cao tư thái, nhi thả yếu cảm tạ tha. Như quả một hữu tha hoà nhĩ phát sinh mâu thuẫn, nhĩ chẩm ma năng cú đề cao tâm tính, chẩm ma hội tại tao thụ thống khổ thời bả hắc sắc vật chất chuyển hoá vi bạch sắc vật chất, chẩm ma trưởng công? Nhân tại kiếp nạn chi trung thị ngận nan quá đích, đãn giá thời nhất định yếu khắc chế trụ, nhân vi tuỳ trước công lực tăng trưởng đích thời hậu, na kiếp nạn thị bất đoạn tăng gia đích, tựu khán nhĩ tâm tính năng bất năng đề cao thượng khứ. Khai thuỷ thời dã hứa nhạ nhĩ sinh khí, khí đích nhĩ cú sang, biệt đích nhĩ ngận nan thụ, khí đích nhĩ can thống, vị thống đích, khả thị nhĩ một hữu phát tác, nhĩ nhẫn liễu, giá tựu hảo, nhĩ khai thuỷ nhẫn liễu, nhất chủng hữu ý đích khứ nhẫn liễu. Nhĩ hội mạn mạn bất đoạn đích đề cao tâm tính, nhĩ hội chân chính bả na sự tình khán đạm, na thời tựu thị cánh đại đích đề cao. Thường nhân bả nhất ta ma sát, nhất điểm sự tình khán đích ngận đại, hoạt trước tựu vi nhất khẩu khí, bất năng nhẫn, bức cấp liễu thậm ma sự đô cảm cán. Đãn thị tác vi luyện công nhân, biệt nhân khán đích ngận đại đích đông tây, nhĩ khán đích tựu ngận tiểu, ngận tiểu, thái tiểu liễu. Nhân vi nhĩ na mục tiêu thái trưởng viễn liễu, thái viễn đại liễu, nhĩ tương yếu hoà vũ trụ đồng linh. Nhĩ tái tưởng tưởng na đông tây, khả hữu khả vô đích, nhĩ vãng đại liễu tưởng tưởng, na ta đông tây đô năng quá đích khứ.

Đã là người luyện công, đối với người phát sinh mâu thuẫn với chư vị, đối với người làm nhục nhã chư vị, thì chư vị không những phải nhẫn, phải có phong thái cao, mà còn phải cảm ơn họ. Nếu không có họ phát sinh mâu thuẫn với chư vị, thì chư vị làm sao có thể đề cao tâm tính, làm sao sẽ ở trong khi chịu thống khổ mà khiến vật chất màu đen chuyển hoá thành vật chất màu trắng, và làm sao tăng trưởng công? Ở trong kiếp nạn thì người ta rất khó chịu, nhưng lúc bấy giờ nhất định phải khắc chế vững vàng, là vì thuận theo việc công lực tăng trưởng lên, thì kiếp nạn kia cũng không ngừng gia tăng, chính là để xem tâm tính chư vị có thể đề cao lên hay không. Lúc bắt đầu có lẽ là quấy rầy làm chư vị cáu giận, tức giận đến mức chư vị khó chịu, bắt nạt làm chư vị khó chịu lắm, bực mình đến mức chư vị đau khổ cả tim gan, nhưng chư vị không hề phát tác, chư vị nhẫn được, thế thì tốt, chư vị đã bắt đầu nhẫn rồi, một loại nhẫn một cách hữu ý. Chư vị sẽ không ngừng dần dần đề cao tâm tính, chư vị sẽ thật sự coi nhẹ những việc đó, và khi đó chư vị sẽ đề cao nhiều hơn nữa. Những va chạm hay một chút sự việc thì người thường cho là rất lớn, lời nói ra đều là để hơn thua cho mình, không thể nhẫn, bực tức lên thì việc gì cũng dám làm. Nhưng đã là người luyện công, thì những thứ mà người khác cho là rất lớn, thì chư vị nhìn thấy rất nhỏ, nhỏ lắm, quá nhỏ bé. Là vì chư vị có mục tiêu hết sức lâu dài, rất xa và rộng lớn, chư vị là sẽ cùng tuổi với vũ trụ. Chư vị thử nghĩ lại xem, có thể có [những thứ kia] hoặc có thể không có, [nhưng] chư vị nghĩ hướng đến [những điều] lớn hơn, thì đều có thể vượt qua những thứ đó.

四、去掉嫉妒心

Tứ, Khứ điệu tật đố tâm

IV. Vứt bỏ tâm tật đố

嫉妒心是煉功的極大障礙,對煉功人的影響非常大,會直接影響煉功人的功力,會傷害同道人,嚴重的干擾我們往上修煉。作為煉功人是百分之百的要去掉的。有人煉功到了一定的層次,可是嫉妒心就是去不掉,而且越是去不掉就越容易增強。這種反作用使的他已經提高的其它心性也變的非常脆弱。嫉妒心為甚麼單拿出來講?因為嫉妒心在中國人中體現最強烈,最突出,在人們心目中比重最大,但好多人意識不到。嫉妒心是東方特有的,叫東方嫉妒或叫亞洲嫉妒。中國人很內向,很含蓄,不輕易表露出來,這就容易產生嫉妒心。事物都是一分為二的,內向性格有好的一面,也有不好的一面。西方人比較外向,你比如說,小孩要是在學校得了一百分,他會高高興興的一邊往家裏跑一邊喊:「我得了一百分啦,……」鄰居們都會打開門、打開窗戶向他祝賀:「湯姆,祝賀你!」替他高興。要是在中國你想一想,一聽就反感:得一百分有甚麼可「脦瑟」的呀,有甚麼可顯的!反應就截然不同,有一種嫉妒心理。

Tật đố tâm thị luyện công đích cực đại chướng ngại, đối luyện công nhân đích ảnh hưởng phi thường đại, hội trực tiếp ảnh hưởng luyện công nhân đích công lực, hội thương hại đồng Đạo nhân, nghiêm trọng đích can nhiễu ngã môn vãng thượng tu luyện. Tác vi luyện công nhân thị bách phân chi bách đích yếu khứ điệu đích. Hữu nhân luyện công đáo liễu nhất định đích tầng thứ, khả thị tật đố tâm tựu thị khứ bất điệu, nhi thả việt thị khứ bất điệu tựu việt dung dị tăng cường. Giá chủng phản tác dụng sử đích tha dĩ kinh đề cao đích kỳ tha tâm tính dã biến đích phi thường thuý nhược. Tật đố tâm vi thậm ma đơn nã xuất lai giảng? Nhân vi tật đố tâm tại Trung Quốc nhân trung thể hiện tối cường liệt, tối đột xuất, tại nhân môn tâm mục trung tỷ trọng tối đại, đãn hảo đa nhân ý thức bất đáo. Tật đố tâm thị Đông phương đặc hữu đích, khiếu Đông phương tật đố hoặc khiếu Á Châu tật đố. Trung Quốc nhân ngận nội hướng, ngận hàm súc, bất khinh dị biểu lộ xuất lai, giá tựu dung dị sản sinh tật đố tâm. Sự vật đô thị nhất phân vi nhị đích, nội hướng tính cách hữu hảo đích nhất diện, dã hữu bất hảo đích nhất diện. Tây phương nhân tỷ giảo ngoại hướng, nhĩ tỷ như thuyết, tiểu hài yếu thị tại học hiệu đắc liễu nhất bách phân, tha hội cao cao hứng hứng đích nhất biên vãng gia lý bào nhất biên hám: “ngã đắc liễu nhất bách phân lạp,……” lân cư môn đô hội đả khai môn, đả khai song hộ hướng tha chúc hạ: “Thang Mỗ, chúc hạ nhĩ!” thế tha cao hứng. Yếu thị tại Trung Quốc nhĩ tưởng nhất tưởng, nhất thính tựu phản cảm: đắc nhất bách phân hữu thậm ma khả ‘đắc sắt’ đích nha, hữu thậm ma khả hiển đích! Phản ứng tựu tiệt nhiên bất đồng, hữu nhất chủng tật đố tâm lý.

Tâm tật đố [ghen tị] là chướng ngại cực lớn trong luyện công, ảnh hưởng phi thường to lớn tới người luyện công, sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới công lực của người luyện công, làm hại người đồng Đạo, can nhiễu nghiêm trọng đến tu luyện lên cao của chúng ta. Làm người luyện công thì cần 100% trừ bỏ [tâm này]. Có người luyện công tới một tầng thứ nhất định, nhưng tâm tật đố không buông bỏ, hơn nữa khi càng không buông bỏ thì càng dễ tăng cường. Loại phản tác dụng ấy khiến những tâm tính khác mà họ đã đề cao biến thành phi thường yếu đuối. Tại sao giảng riêng tâm tật đố này ra? Là vì ở người Trung Quốc tâm tật đố biểu hiện mạnh mẽ nhất, nổi cộm nhất, tỷ trọng lớn nhất trong tâm người ta, thế mà rất nhiều người không ý thức ra [điều ấy]. Tâm tật đố là có riêng ở Đông phương, gọi là ‘tật đố Đông phương’ hoặc ‘tật đố Châu Á’. Người Trung Quốc rất hướng nội, rất hàm súc, không dễ biểu hiện ra ngoài, điều ấy dễ sinh ra tâm tật đố. Sự vật đều là tuy một mà lại có hai mặt, tính cách hướng nội ấy là có mặt tốt, và cũng có mặt không tốt. Người Tây phương là tương đối hướng ngoại hơn, chẳng hạn như, một đứa trẻ ở trường được 100 điểm, nó sẽ rất vui mừng vừa chạy về nhà vừa la lớn: “con được 100 điểm,…”, và hàng xóm cũng mở cửa chính, mở cửa sổ và chúc mừng nó: “Tom, chúc mừng nha!” và mừng thay cho nó. Nếu ở Trung Quốc thì chư vị thử nghĩ xem, hễ nghe liền thấy phản cảm: ‘được 100 điểm thì có gì ghê gớm đâu, có gì đáng khoe chứ!’ Phản ứng khác biệt rất rõ ràng, có một loại tâm lý tật đố [ghen tị].

有嫉妒心的人看不起別人,不允許別人超過自己,看到別人比他強他心裏就失去平衡,受不了,不服氣。長工資一起長,拿獎金要一樣多,天塌大家一起頂。看別人多掙了錢他就得紅眼病,反正超過他簡直就不行。有人搞出科研成果不敢去領獎金,怕別人嫉妒;有人評上甚麼榮譽稱號也不敢吱聲,怕嫉妒諷刺。看到其他氣功師講課就不服氣,去攪場,這就是心性問題。大家同在一塊兒煉功,有的人煉功時間短,但出了功能。於是,有人就說:他有甚麼了不起的,我煉了多少年了,結業證就一大摞,我還沒出功能他怎麼能出呢?嫉妒心就上來了。煉功是向內找,自己多修煉自己,從自己身上找原因。自己哪方面做的不足,自己得爭取提高,向內使勁。人都向外使勁,別人都修好了,都上去了,就你沒上去,你不是白搭嗎?修煉得自己修嘛!

Hữu tật đố tâm đích nhân khán bất khởi biệt nhân, bất duẫn hứa biệt nhân siêu quá tự kỷ, khán đáo biệt nhân tỷ tha cường tha tâm lý tựu thất khứ bình hành, thụ bất liễu, bất phục khí. Trưởng công tư nhất khởi trưởng, nã tưởng kim yếu nhất dạng đa, thiên tháp đại gia nhất khởi đỉnh. Khán biệt nhân đa tránh liễu tiền tha tựu đắc hồng nhãn bệnh, phản chính siêu quá tha giản trực tựu bất hành. Hữu nhân cảo xuất khoa nghiên thành quả bất cảm khứ lĩnh tưởng kim, phạ biệt nhân tật đố; hữu nhân bình thượng thậm ma vinh dự xưng hiệu dã bất cảm chi thanh, phạ tật đố phúng thích. Khán đáo kỳ tha khí công sư giảng khoá tựu bất phục khí, khứ giảo trường, giá tựu thị tâm tính vấn đề. Đại gia đồng tại nhất khối nhi luyện công, hữu đích nhân luyện công thời gian đoản, đãn xuất liễu công năng. Ư thị, hữu nhân tựu thuyết: Tha hữu thậm ma liễu bất khởi đích, ngã luyện liễu đa thiểu niên liễu, kết nghiệp chứng tựu nhất đại loa, ngã hài một xuất công năng tha chẩm ma năng xuất ni? Tật đố tâm tựu thượng lai liễu. Luyện công thị hướng nội trảo, tự kỷ đa tu luyện tự kỷ, tùng tự kỷ thân thượng trảo nguyên nhân. Tự kỷ nả phương diện tố đích bất túc, tự kỷ đắc tranh thủ đề cao, hướng nội sử kình. Nhân đô hướng ngoại sử kình, biệt nhân đô tu hảo liễu, đô thượng khứ liễu, tựu nhĩ một thượng khứ, nhĩ bất thị bạch đáp ma? Tu luyện đắc tự kỷ tu ma!

Người có tâm tật đố là coi thường người khác, không để người khác hơn mình, thấy người khác hơn họ thì họ chẳng cân bằng trong tâm, không chịu nổi, không phục. [Họ cho rằng] tăng lương thì cùng tăng, được thưởng thì cùng nhiều như nhau, trời sập xuống thì mọi người cùng đỡ. Thấy người khác kiếm nhiều tiền hơn thì họ ghen tị, dù thế nào đi nữa hễ vượt họ thì quả là không được. Có người làm ra thành quả khoa học nhưng không dám lĩnh thưởng, sợ người khác sẽ tật đố; có người được bình chọn danh hiệu vinh dự nào đó mà không dám nói gì, ngại bị ganh ghét trào phúng. Thấy khí công sư khác giảng bài thì không chịu phục, và tới nơi đó gây rối, đây chính là vấn đề tâm tính. Mọi người cùng nhau luyện công, có người luyện công một thời gian ngắn, nhưng đã xuất công năng. Và thế là có người bèn nói: ‘Anh ta có gì giỏi chứ, tôi luyện hằng bao nhiêu năm, có cả chồng chứng chỉ tốt nghiệp, tôi còn chưa xuất công năng thì anh ta làm sao có thể xuất?’ Tâm tật đố nổi lên rồi. Luyện công là hướng nội tìm, tự mình hãy tu luyện chính mình nhiều hơn, tìm nguyên nhân ở tự thân. Rằng mình làm còn thiếu sót ở phương diện nào, [thì] mình cần tranh thủ đề cao, dùng nỗ lực vào trong. Người mà toàn là dùng sức lực ra bên ngoài, người khác đều tu tốt cả rồi, đã lên cả rồi, mà chư vị vẫn không lên, chư vị chẳng phải tự hoang phí [thời gian] sao? Tu luyện cần phải tu chính mình!

嫉妒心還會傷害同道人,比如說些不好聽的話使人的心無法入靜;當他有了一定功能,出於嫉妒可能用功能傷害同道人。例如有一個修煉很不錯的人在打坐煉功,因為他身上有功,坐在那裏像一座山一樣。這時飄過來兩個東西,有一個過去是個和尚,因為有嫉妒心沒有修上去,雖有一定功力,但未修成。當他們來到打坐人這裏時,一個說:這是某某在這兒修煉,我們繞道而行吧!另一個則說:想當年我一掌劈掉泰山一個角。接著就向煉功人劈一掌。但是,舉起手來就放不下了。因為煉功人是正法修煉,有防護罩,他劈不動。他想傷害正法修煉的人,問題就嚴重了,遭到了懲罰。有嫉妒心的人既害己又害人。

Tật đố tâm hài hội thương hại đồng Đạo nhân, tỷ như thuyết ta bất hảo thính đích thoại sử nhân đích tâm vô pháp nhập tĩnh; đương tha hữu liễu nhất định công năng, xuất ư tật đố khả năng dụng công năng thương hại đồng Đạo nhân. Lệ như hữu nhất cá tu luyện ngận bất thác đích nhân tại đả toạ luyện công, nhân vi tha thân thượng hữu công, toạ tại na lý tượng nhất toạ sơn nhất dạng. Giá thời phiêu quá lai lưỡng cá đông tây, hữu nhất cá quá khứ thị cá hoà thượng, nhân vi hữu tật đố tâm một hữu tu thượng khứ, tuy hữu nhất định công lực, đãn vị tu thành. Đương tha môn lai đáo đả toạ nhân giá lý thời, nhất cá thuyết: giá thị mỗ mỗ tại giá nhi tu luyện, ngã môn nhiễu đạo nhi hành ba! Lánh nhất cá tắc thuyết: tưởng đương niên ngã nhất chưởng phách điệu Thái Sơn nhất cá giác. Tiếp trước tựu hướng luyện công nhân phách nhất chưởng. Đãn thị, cử khởi thủ lai tựu phóng bất hạ liễu. Nhân vi luyện công nhân thị chính Pháp tu luyện, hữu phòng hộ tráo, tha phách bất động. Tha tưởng thương hại chính Pháp tu luyện đích nhân, vấn đề tựu nghiêm trọng liễu, tao đáo liễu trừng phạt. Hữu tật đố tâm đích nhân ký hại kỷ hựu hại nhân.

Tâm tật đố còn làm hại người đồng Đạo, ví như nói những lời khó nghe khiến tâm của người khác không sao nhập tĩnh được; khi họ có công năng nhất định, xuất phát từ tật đố mà có thể dùng công năng làm hại người đồng Đạo. [Tôi] dẫn một ví dụ rằng có một người tu luyện được rất khá đang đả toạ luyện công, vì trên thân họ có công, [nên họ] ngồi ở đó như một toà núi. Bấy giờ có hai sinh mệnh phiêu [đãng bay] tới, một trong đó trước đây là hoà thượng, vì có tâm tật đố mà chưa tu lên được, tuy có được công lực nhất định, nhưng chưa tu thành. Khi họ tới chỗ người đả toạ nơi ấy, một sinh mệnh nói: ‘ở đây có ai đó đang tu luyện, chúng ta vòng tránh qua là được!’ Nhưng sinh mệnh kia nói: ‘nhớ lại năm đó ta một chưởng đập bay một góc núi Thái Sơn’. Thế rồi nhắm vào người luyện công mà đập một chưởng. Nhưng giơ tay lên rồi mà không sao phóng xuống được. Bởi vì người luyện công kia là tu luyện chính Pháp, là có lồng phòng hộ, họ đập không nổi. Họ muốn làm hại người tu luyện chính Pháp, [thì] vấn đề đã nghiêm trọng rồi, [sẽ] gặp trừng phạt. Người có tâm tật đố đã hại mình còn hại người.

五、去掉執著心

Ngũ, Khứ điệu chấp trước tâm

V. Tống khứ tâm chấp trước

執著心是指煉功人對某事物、某一目標堅持不放,有過份的追求,不能超脫,甚至非常固執,不聽勸告。有的人追求在世間得到一些功能,這必然會影響往高層次上修煉,這個心理越強烈,越不容易放棄,心理就越不平衡不穩定,到後來就會以為自己甚麼都沒有得到,甚至對所學的東西持懷疑態度了。執著心產生於人的慾望,其特點是目標或者目地帶有明顯的侷限性,比較明確、具體,其本人還往往認識不到。常人的執著心是很多的,他為了追求一個東西並達到目地,他可以不擇手段的弄到手。作為煉功人的執著心則是另一番表現。比如追求某種功能,沉迷於某種景象,熱衷於某種表現等等。作為煉功人,不管你求啥都是不對的,這個東西要去掉。道家講無,佛家講空,入空門,我們最終要達到空無,要去掉一切執著心,把你所放不下的東西都得放下。比如,對功能的追求,你求就是要用,實際上它和我們宇宙特性相反了,實際上還是個心性問題。想得嘛,就想在人前賣弄一下,或顯示顯示。那東西不是顯示給別人看的。若你用的目地很純,就是要幹好事,那好事你做起來也不一定是好事,常人的事你用超常的辦法去管就不一定是好事。有的人聽我在傳授班上講有百分之七十的人天目都開了,於是就琢磨:我怎麼沒感覺呢?回去煉功時注意力就集中在天目上,想的頭痛,結果還是甚麼也看不見,這就是執著心。每個人身體素質不同,根基也不一樣,天目不可能同時看到,也不可能都有同樣的層次。有人能看到了,有人沒看到,都是正常的。

Chấp trước tâm thị chỉ luyện công nhân đối mỗ sự vật, mỗ nhất mục tiêu kiên trì bất phóng, hữu quá phần đích truy cầu, bất năng siêu thoát, thậm chí phi thường cố chấp, bất thính khuyến cáo. Hữu đích nhân truy cầu tại thế gian đắc đáo nhất ta công năng, giá tất nhiên hội ảnh hưởng vãng cao tầng thứ thượng tu luyện, giá cá tâm lý việt cường liệt, việt bất dung dị phóng khí, tâm lý tựu việt bất bình hành bất ổn định, đáo hậu lai tựu hội dĩ vi tự kỷ thậm ma đô một hữu đắc đáo, thậm chí đối sở học đích đông tây trì hoài nghi thái độ liễu. Chấp trước tâm sản sinh ư nhân đích dục vọng, kỳ đặc điểm thị mục tiêu hoặc giả mục địa đới hữu minh hiển đích cuộc hạn tính, tỷ giảo minh xác, cụ thể, kỳ bản nhân hài vãng vãng nhận thức bất đáo. Thường nhân đích chấp trước tâm thị ngận đa đích, tha vi liễu truy cầu nhất cá đông tây tịnh đạt đáo mục địa, tha khả dĩ bất trạch thủ đoạn đích lộng đáo thủ. Tác vi luyện công nhân đích chấp trước tâm tắc thị lánh nhất phiên biểu hiện. Tỷ như truy cầu mỗ chủng công năng, trầm mê ư mỗ chủng cảnh tượng, nhiệt trung ư mỗ chủng biểu hiện đẳng đẳng. Tác vi luyện công nhân, bất quản nhĩ cầu xá đô thị bất đối đích, giá cá đông tây yếu khứ điệu. Đạo gia giảng vô, Phật gia giảng không, nhập không môn, ngã môn tối chung yếu đạt đáo không vô, yếu khứ điệu nhất thiết chấp trước tâm, bả nhĩ sở phóng bất hạ đích đông tây đô đắc phóng hạ. Tỷ như, đối công năng đích truy cầu, nhĩ cầu tựu thị yếu dụng, thực tế thượng tha hoà ngã môn vũ trụ đặc tính tương phản liễu, thực tế thượng hài thị cá tâm tính vấn đề. Tưởng đắc ma, tựu tưởng tại nhân tiền mại lộng nhất hạ, hoặc hiển thị hiển thị. Na đông tây bất thị hiển thị cấp biệt nhân khán đích. Nhược nhĩ dụng đích mục địa ngận thuần, tựu thị yếu cán hảo sự, na hảo sự nhĩ tố khởi lai dã bất nhất định thị hảo sự, thường nhân đích sự nhĩ dụng siêu thường đích biện pháp khứ quản tựu bất nhất định thị hảo sự. Hữu đích nhân thính ngã tại truyền thụ ban thượng giảng hữu bách phân chi thất thập đích nhân thiên mục đô khai liễu, ư thị tựu trác ma: ngã chẩm ma một cảm giác ni? Hồi khứ luyện công thời chú ý lực tựu tập trung tại thiên mục thượng, tưởng đích đầu thống, kết quả hài thị thậm ma dã khán bất kiến, giá tựu thị chấp trước tâm. Mỗi cá nhân thân thể tố chất bất đồng, căn cơ dã bất nhất dạng, thiên mục bất khả năng đồng thời khán đáo, dã bất khả năng đô hữu đồng dạng đích tầng thứ. Hữu nhân năng khán đáo liễu, hữu nhân một khán đáo, đô thị chính thường đích.

‘Tâm chấp trước’ là nói rằng đối với một sự việc hay một mục tiêu nào đó thì người luyện công cứ kiên trì không buông, có mang truy cầu quá phận, không thể siêu thoát khỏi, thậm chí cố chấp phi thường, không nghe khuyên giải. Có người truy cầu một số công năng tại thế gian, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến tu luyện lên tầng thứ cao, tâm lý này càng mạnh mẽ, thì càng không dễ buông bỏ, tâm lý sẽ càng không cân bằng càng không ổn định, về sau sẽ cho rằng bản thân mình chẳng đắc được gì cả, mang thái độ hoài nghi thậm chí cả với những gì đã học được. Tâm chấp trước sinh ra từ dục vọng của người ta, đặc điểm của nó là [có] mục tiêu hoặc mục đích là mang tính cục bộ rất rõ ràng, khá là minh xác và cụ thể, [vậy mà] thông thường chính người đó nhận thức không ra. Tâm chấp trước của người thường rất là nhiều, họ vì mục đích truy cầu một thứ nào đó nhưng không đạt được, họ có thể chẳng từ thủ đoạn để thâu tóm trong tay. Là người luyện công thì tâm chấp trước còn là một phía biểu hiện khác. Chẳng hạn như truy cầu loại công năng nào đó, trầm mê trong loại cảnh tượng nào đó, quá nhiệt huyết vào loại biểu hiện nào đó, v.v. Làm người luyện công, chư vị dù cầu điều gì thì cũng là không đúng, cái thứ đó là cần trừ rớt đi. Đạo gia giảng ‘vô’, Phật gia giảng ‘không’, vào cửa ‘không môn’, chúng ta cuối cùng cần đạt tới ‘không’ ‘vô’, cần tống khứ hết thảy các tâm chấp trước, những gì chư vị vẫn chưa buông bỏ ấy thì đều phải buông bỏ hết. Chẳng hạn như truy cầu đối với công năng, chư vị cầu tức là muốn dùng, trên thực tế đó là trái ngược với đặc tính của vũ trụ chúng ta, thực tế vẫn là vấn đề tâm tính. Muốn đắc được [chúng], chính là định thể hiện trước mặt người ta, hoặc hiển thị hiển thị. Những cái đó không phải là để hiển thị cho người khác xem. Mà nếu mục đích sử dụng của chư vị rất thuần [khiết], chính là muốn làm việc tốt, nhưng việc tốt ấy chư vị làm ra rồi cũng không nhất định là việc tốt đâu, việc của người thường mà chư vị đem biện pháp siêu thường đi quản nó thì không nhất định là việc tốt. Có người nghe rằng tôi ở lớp truyền thụ giảng rằng có 70% người có thiên mục khai mở, từ đó bèn cứ nghĩ mãi: ‘tại sao mình vẫn không cảm giác được?’ Đến khi về nhà luyện công thì lực chú ý đều tập trung ở thiên mục, nghĩ đến nhức cả đầu, kết quả vẫn là chẳng nhìn thấy chi cả, đó chính là tâm chấp trước. Mỗi cá nhân có tố chất thân thể khác nhau, căn cơ cũng không như nhau, thiên mục không thể nào đồng thời nhìn thấy được, cũng không thể nào đều có tầng thứ như nhau. Có người có thể nhìn thấy rồi, có người chưa nhìn thấy, đó đều là bình thường.

執著心能夠使煉功人的功力出現停滯、徘徊的狀況,嚴重的還可以導致煉功人走向邪路。特別是有些功能,心性不好是可以用來幹壞事的。由於心性不牢靠用功能幹壞事的例子也是有的。某地一個男大學生出了一種思維控制功能,這個功能可以用他的思維去支配別人的思想行為,他就用它幹壞事。有的人在煉功時出現了一些景象,總想看個明白,弄個究竟,這也是執著心。有的人有某種嗜好成了癮,難以放棄,也是執著心。由於根基不一樣,目地不一樣,有的人煉功是為達到最高境界;有的人就是為了得到一些東西。後一種思想必然會使煉功的目地出現侷限性。這樣的執著心不消除,就是煉功也不會長功。所以,煉功人要把一切物質利益都看的很淡很淡,沒有任何追求,一切順其自然,這樣就會避免執著心出現,這就要看煉功人的心性如何了。心性不從根本上提高,帶有任何執著心都是修不成的。

Chấp trước tâm năng cú sử luyện công nhân đích công lực xuất hiện đình trệ, bồi hồi đích trạng huống, nghiêm trọng đích hài khả dĩ đạo trí luyện công nhân tẩu hướng tà lộ. Đặc biệt thị hữu ta công năng, tâm tính bất hảo thị khả dĩ dụng lai cán hoại sự đích. Do ư tâm tính bất lao kháo dụng công năng cán hoại sự đích lệ tử dã thị hữu đích. Mỗ địa nhất cá nam đại học sinh xuất liễu nhất chủng tư duy khống chế công năng, giá cá công năng khả dĩ dụng tha đích tư duy khứ chi phối biệt nhân đích tư tưởng hành vi, tha tựu dụng tha cán hoại sự. Hữu đích nhân tại luyện công thời xuất hiện liễu nhất ta cảnh tượng, tổng tưởng khán cá minh bạch, lộng cá cứu cánh, giá dã thị chấp trước tâm. Hữu đích nhân hữu mỗ chủng thị hiếu thành liễu ẩn, nan dĩ phóng khí, dã thị chấp trước tâm. Do ư căn cơ bất nhất dạng, mục địa bất nhất dạng, hữu đích nhân luyện công thị vi đạt đáo tối cao cảnh giới; hữu đích nhân tựu thị vi liễu đắc đáo nhất ta đông tây. Hậu nhất chủng tư tưởng tất nhiên hội sử luyện công đích mục địa xuất hiện cuộc hạn tính. Giá dạng đích chấp trước tâm bất tiêu trừ, tựu thị luyện công dã bất hội trưởng công. Sở dĩ, luyện công nhân yếu bả nhất thiết vật chất lợi ích đô khán đích ngận đạm ngận đạm, một hữu nhậm hà truy cầu, nhất thiết thuận kỳ tự nhiên, giá dạng tựu hội tỵ miễn chấp trước tâm xuất hiện, giá tựu yếu khán luyện công nhân đích tâm tính như hà liễu. Tâm tính bất tùng căn bản thượng đề cao, đái hữu nhậm hà chấp trước tâm đô thị tu bất thành đích.

Tâm chấp trước có thể khiến công lực của người luyện công xuất hiện tình trạng đình trệ và luẩn quẩn, nghiêm trọng còn có thể dẫn dắt người luyện công bước sang đường tà. Đặc biệt là có một số công năng, tâm tính mà không tốt thì có thể dùng để làm việc xấu. Có những ví dụ do tâm tính không vững vàng mà dùng công năng làm điều xấu. Ở địa phương kia có một nam sinh đại học xuất một loại công năng khống chế tư duy, công năng này có thể dùng tư duy của cậu này để khống chế tư tưởng hành vi của người khác, cậu này bèn dùng nó để làm điều xấu. Có người khi luyện công xuất hiện một số cảnh tượng, bèn luôn muốn nhìn được minh bạch, [muốn] thấu được rốt ráo là sao, đó cũng là tâm chấp trước. Có người có sở thích nào đó nặng đến như nghiện vậy, rất khó buông bỏ, [đó] cũng là chấp trước. Do căn cơ khác nhau, mục đích khác nhau, có người luyện công là để đạt cảnh giới cao nhất; có người thì chính là để đắc một số thứ. Loại tư tưởng thứ hai tất nhiên sẽ khiến mục đích luyện công mang tính cuộc hạn. Loại tâm chấp trước này mà không bị tiêu trừ, thì có luyện công cũng sẽ không tăng công. Do đó, người luyện công cần coi hết thảy lợi ích vật chất đều rất nhẹ nhàng đạm bạc, không có truy cầu, hết thảy là thuận theo tự nhiên, như thế thì sẽ tránh được sự xuất hiện của tâm chấp trước, cái này chính là xét xem tâm tính người luyện công như thế nào. Tâm tính mà không đề cao từ căn bản, mang theo bất kể tâm chấp trước gì thì đều tu không thành.

六、業力

Lục. Nghiệp lực

VI. Nghiệp lực

(一)業力的產生

(Nhất) Nghiệp lực đích sản sinh

1. Sự sinh ra của nghiệp lực

業力是一種與德相反的黑色物質。佛教中管它叫惡業;我們這裏叫業力。所以做壞事就稱造業。業或者業力是由於本人今世或前世的過錯而產生的,比如殺過生,欺負過誰,爭奪過誰的利益,背後議論過誰,對誰不友好等等,都會產生業力。還有的業力是祖輩或者親朋好友轉移過來的。當一個人出拳打人時,同時把白色物質甩給了對方,自己身上的那塊地方就被黑色物質代替。殺生是最大的做惡,做壞事,會增加很重的業力。業力是導致人得病的重要原因,當然它不一定反映出來是一種病,也可能遇到點麻煩事等等,都是業力在起作用。所以煉功人決不能做不好的事情,一切不好的行為都要產生不好的信息,會嚴重的影響到你的煉功問題。

Nghiệp lực thị nhất chủng dữ đức tương phản đích hắc sắc vật chất. Phật giáo trung quản tha khiếu ác nghiệp; ngã môn giá lý khiếu nghiệp lực. Sở dĩ tố hoại sự tựu xưng tạo nghiệp. Nghiệp hoặc giả nghiệp lực thị do ư bản nhân kim thế hoặc tiền thế đích quá thác nhi sản sinh đích, tỷ như sát quá sinh, khi phụ quá thuỳ, tranh đoạt quá thuỳ đích lợi ích, bối hậu nghị luận quá thuỳ, đối thuỳ bất hữu hảo đẳng đẳng, đô hội sản sinh nghiệp lực. Hài hữu đích nghiệp lực thị tổ bối hoặc giả thân bằng hảo hữu chuyển di quá lai đích. Đương nhất cá nhân xuất quyền đả nhân thời, đồng thời bả bạch sắc vật chất suý cấp liễu đối phương, tự kỷ thân thượng đích na khối địa phương tựu bị hắc sắc vật chất đại thế. Sát sinh thị tối đại đích tố ác, tố hoại sự, hội tăng gia ngận trọng đích nghiệp lực. Nghiệp lực thị đạo trí nhân đắc bệnh đích trọng yếu nguyên nhân, đương nhiên tha bất nhất định phản ánh xuất lai thị nhất chủng bệnh, dã khả năng ngộ đáo điểm ma phiền sự đẳng đẳng, đô thị nghiệp lực tại khởi tác dụng. Sở dĩ luyện công nhân quyết bất năng tố bất hảo đích sự tình, nhất thiết bất hảo đích hành vi đô yếu sản sinh bất hảo đích tín tức, hội nghiêm trọng đích ảnh hưởng đáo nhĩ đích luyện công vấn đề.

Nghiệp lực là một loại vật chất màu đen tương phản với ‘đức’. Trong Phật giáo gọi đó là ‘ác nghiệp’; tại đây chúng ta gọi là ‘nghiệp lực’. Thế nên làm điều xấu thì gọi là ‘tạo nghiệp’. ‘Nghiệp’ hoặc ‘nghiệp lực’ là do người ta lầm lỗi ở đời này hoặc đời trước mà sinh ra, ví như từng sát sinh, từng bắt nạt ai đó, từng tranh đoạt lợi ích của ai, từng nghị luận sau lưng ai, từng không hữu hảo với ai, v.v., đều sẽ sinh ra nghiệp lực. Còn có nghiệp lực do tổ tiên hoặc bạn bè thân quyến chuyển dịch tới. Khi một người đấm người ta, thì đồng thời vật chất màu trắng đã bay sang đối phương, và khối [không gian] chỗ đó trên thân của mình là bị vật chất màu đen thay thế. Sát sinh là tạo nghiệp to lớn nhất, làm chuyện xấu, sẽ gia tăng nghiệp lực rất nặng. Nghiệp lực là nguyên nhân trọng yếu khiến người ta mắc bệnh, tất nhiên nó không chỉ phản ánh ra là một loại bệnh, cũng có thể là đụng phải rắc rối phiền phức nào đó, v.v., đều là nghiệp lực đang khởi tác dụng. Do đó người luyện công quyết không thể làm những việc bất hảo, hết thảy hành vi không tốt đều sinh ra tín tức không tốt, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề luyện công của chư vị.

有些人主張採植物氣,教功時也教怎麼採植物氣。甚麼樹的氣好,甚麼樹的氣是甚麼顏色,講的津津樂道。在我們東北一個公園裏,有些人不知道練的甚麼功,滿地打滾,爬起來就繞松樹轉,採松樹的氣,半年時間就把一片松樹採的枯黃了,這是造業行為,這也是殺生!無論是從綠化祖國維護生態平衡方面講還是從高層次上講,採植物氣都是不好的。浩瀚宇宙無邊無際,處處有氣任你去採,你儘管去採好了,為甚麼偏偏欺負植物呢?作為煉功人你的慈悲心哪裏去了呢?

Hữu ta nhân chủ trương thái thực vật khí, giáo công thời dã giáo chẩm ma thái thực vật khí. Thậm ma thụ đích khí hảo, thậm ma thụ đích khí thị thậm ma nhan sắc, giảng đích tân tân lạc đạo. Tại ngã môn Đông Bắc nhất cá công viên lý, hữu ta nhân bất tri đạo luyện đích thậm ma công, mãn địa đả cổn, ba khởi lai tựu nhiễu tùng thụ chuyển, thái tùng thụ đích khí, bán niên thời gian tựu bả nhất phiến tùng thụ thái đích khô hoàng liễu, giá thị tạo nghiệp hành vi, giá dã thị sát sinh! Vô luận thị tùng lục hoá tổ quốc duy hộ sinh thái bình hành phương diện giảng hài thị tùng cao tầng thứ thượng giảng, thái thực vật khí đô thị bất hảo đích. Hạo hãn vũ trụ vô biên vô tế, xứ xứ hữu khí nhậm nhĩ khứ thái, nhĩ tận quản khứ thái hảo liễu, vi thậm ma thiên thiên khi phụ thực vật ni? Tác vi luyện công nhân nhĩ đích từ bi tâm nả lý khứ liễu ni?

Có những người chủ trương thu khí của thực vật, khi dạy công cũng dạy là thu khí thực vật như thế nào. Rằng khí cây nào thì tốt, khí cây nào có màu gì, giảng thật hào hứng. Ở một công viên vùng Đông Bắc chúng ta, có những người thật không biết là luyện loại công gì, lăn lộn khắp đất, bò dậy quanh cây thông, thu khí cây thông, qua thời gian nửa năm cả một đám cây thông đều úa vàng cả, đó chính là hành vi tạo nghiệp, đó cũng là sát sinh! Vô luận là từ phương diện xanh hoá tổ quốc cân bằng sinh thái hay là từ tầng thứ cao mà giảng, thì thu khí thực vật đều là không tốt. Vũ trụ mênh mang vô biên vô tận này, khí có ở khắp nơi thì chư vị cứ thu đi, chư vị tận sức thu cũng được mà, tại sao cứ phải đi bắt nạt thực vật? Làm người luyện công thì tâm từ bi của chư vị đi đâu mất rồi?

萬物皆有靈。現代科學已認識到植物不僅有生命,而且有靈性、有思維和感情,甚至有超感功能。當你的天目達到法眼通的時候,你會發現世界是另一番景象,你一出門,那個石頭、牆、樹等都會和你說話。任何物體都有生命體存在,當它在形成的時候,已經有一個生命體注入了。有機物質和無機物質是我們地球上人類劃分的。廟裏的人把碗打了他心裏都過不去,因為一旦它被破壞掉的時候,那個生命體要釋放出來,它沒有完成它的生命里程,就無處可去。所以就非常恨殺它的人,越恨那人的業力越大。有的「氣功師」還打獵,他的慈悲心哪兒去了?佛道兩家都不違背天理行事。他這樣做就是殺生行為。

Vạn vật giai hữu linh. Hiện đại khoa học dĩ nhận thức đáo thực vật bất cận hữu sinh mệnh, nhi thả hữu linh tính, hữu tư duy hoà cảm tình, thậm chí hữu siêu cảm công năng. Đương nhĩ đích thiên mục đạt đáo Pháp Nhãn Thông đích thời hậu, nhĩ hội phát hiện thế giới thị lánh nhất phiên cảnh tượng, nhĩ nhất xuất môn, na cá thạch đầu, tường, thụ đẳng đô hội hoà nhĩ thuyết thoại. Nhậm hà vật thể đô hữu sinh mệnh thể tồn tại, đương tha tại hình thành đích thời hậu, dĩ kinh hữu nhất cá sinh mệnh thể chú nhập liễu. Hữu cơ vật chất hoà vô cơ vật chất thị ngã môn địa cầu thượng nhân loại hoạch phân đích. Miếu lý đích nhân bả oản đả liễu tha tâm lý đô quá bất khứ, nhân vi nhất đán tha bị phá hoại điệu đích thời hậu, na cá sinh mệnh thể yếu thích phóng xuất lai, tha một hữu hoàn thành tha đích sinh mệnh lý trình, tựu vô xứ khả khứ. Sở dĩ tựu phi thường hận sát tha đích nhân, việt hận na nhân đích nghiệp lực việt đại. Hữu đích “khí công sư” hài đả liệp, tha đích từ bi tâm nả nhi khứ liễu? Phật Đạo lưỡng gia đô bất vi bối thiên lý hành sự. Tha giá dạng tố tựu thị sát sinh hành vi.

Vạn vật đều có linh [tính]. Khoa học hiện đại cũng nhận thức được rằng thực vật không chỉ có sinh mệnh, mà còn có linh tính, có tư duy và cảm tình, thậm chí có công năng siêu cảm. Khi chư vị mở thiên mục tới Pháp Nhãn Thông, chư vị sẽ phát hiện thế giới này là một cảnh tượng khác, chư vị vừa ra khỏi cửa, thì tảng đá, tường, cây, v.v., đều sẽ nói chuyện với chư vị. Vật thể nào cũng đều có thể sinh mệnh tồn tại, khi mà nó hình thành, thì đã có một thể sinh mệnh nhập vào đó. ‘Vật chất hữu cơ’ và ‘vật chất vô cơ’ là do nhân loại trên Trái Đất chúng ta đây phân loại ra. Người trong chùa đánh vỡ một cái bát thì trong tâm họ thấy khó chịu, là vì một khi nó bị phá hoại, thì thể sinh mệnh ở bên kia phóng thích ra, nó chưa hoàn thành con đường sinh mệnh của mình, và không có chỗ để đi. Cho nên vô cùng [oán] hận người đã giết nó, càng hận người đó thì nghiệp lực càng lớn. Có những “khí công sư” còn đi săn, tâm từ bi của họ đi đâu rồi? Phật gia và Đạo gia đều không vi phạm Thiên Lý mà hành sự. Người kia làm như thế chính là hành vi sát sinh.

有人講他過去造了很多的業,殺雞、殺魚、釣魚等等,是不是不能煉功了?不是的。你那時是在無知時做的,它不會造成更大的業力,今後再不要做這事就是了。再做就是明知故犯,就不行了。有的學員就存在著這種業力。你來參加傳授班就有緣份,你就能往上修煉。蒼蠅蚊子進屋裏打不打?大家現在這層次上做這事,打死了也不算錯。轟不出去打死也就打死了。一個東西該死的時候,它自然的就該死了。釋迦牟尼在世時,有一次他要洗澡,叫弟子去打掃浴缸。弟子發現浴缸裏有蟲子,回去問他怎麼辦?他又說一遍:我要你打掃的是浴缸。弟子領悟了,把浴缸打掃乾淨了。有些問題你不要把它看的太重,我們不是讓你做一個謹小慎微的人。在複雜環境中,時時刻刻精神弦繃的很緊,生怕做錯一點事,我說這不行,這就是一種執著了,怕的本身就是執著。

Hữu nhân giảng tha quá khứ tạo liễu ngận đa đích nghiệp, sát kê, sát ngư, điếu ngư đẳng đẳng, thị bất thị bất năng luyện công liễu? Bất thị đích. Nhĩ na thời thị tại vô tri thời tố đích, tha bất hội tạo thành cánh đại đích nghiệp lực, kim hậu tái bất yếu tố giá sự tựu thị liễu. Tái tố tựu thị minh tri cố phạm, tựu bất hành liễu. Hữu đích học viên tựu tồn tại trước giá chủng nghiệp lực. Nhĩ lai tham gia truyền thụ ban tựu hữu duyên phận, nhĩ tựu năng vãng thượng tu luyện. Thương dăng văn tử tiến ốc lý đả bất đả? Đại gia hiện tại giá tầng thứ thượng tố giá sự, đả tử liễu dã bất toán thác. Oanh bất xuất khứ đả tử dã tựu đả tử liễu. Nhất cá đông tây cai tử đích thời hậu, tha tự nhiên đích tựu cai tử liễu. Thích Ca Mâu Ni tại thế thời, hữu nhất thứ tha yếu tẩy táo, khiếu đệ tử khứ đả tảo dục ang. Đệ tử phát hiện dục ang lý hữu trùng tử, hồi khứ vấn Tha chẩm ma biện? Tha hựu thuyết nhất biến: Ngã yếu nhĩ đả tảo đích thị dục ang. Đệ tử lĩnh ngộ liễu, bả dục ang đả tảo kiền tịnh liễu. Hữu ta vấn đề nhĩ bất yếu bả tha khán đích thái trọng, ngã môn bất thị nhượng nhĩ tố nhất cá cẩn tiểu thận vi đích nhân. Tại phức tạp hoàn cảnh trung, thời thời khắc khắc tinh thần huyền băng đích ngận khẩn, sinh phạ tố thác nhất điểm sự, ngã thuyết giá bất hành, giá tựu thị nhất chủng chấp trước liễu, phạ đích bản thân tựu thị chấp trước.

Có người nói rằng quá khứ họ đã tạo rất nhiều nghiệp, giết gà, giết cá, bắt cá, v.v., phải chăng không thể luyện công nữa? Không phải đâu. Bấy giờ chư vị làm mà không hiểu biết, nó sẽ không tạo thành nghiệp lực lớn hơn, từ nay trở đi thì không được làm những việc đó là được rồi. Lại làm nữa thì là cố tình phạm khi biết rõ, thế thì không được. Có những học viên là đã tồn tại loại nghiệp lực đó rồi. Chư vị tới tham gia lớp truyền thụ này là có duyên phận, chư vị là có thể tu luyện lên. Ruồi muỗi [bay] vào nhà thì có thể đập không? Hiện nay mọi người ở tầng thứ này làm việc ấy, đánh chết [ruồi muỗi] cũng không tính là sai. Đuổi không ra thì đập chết thì là đập chết thôi. Một thứ gì đó đến lúc phải chết, thì tự nhiên nó phải chết thôi. Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế, có một lần Ông muốn tắm, bảo đệ tử đi dọn sạch bồn tắm. Đệ tử phát hiện rằng trong bồn tắm có côn trùng, bèn quay lại hỏi Ông là làm thế nào? Ông nói lại một lần nữa: ‘Ta muốn con dọn sạch là bồn tắm’. Đệ tử lĩnh ngộ ra, bèn dọn bồn tắm sạch sẽ. Có một số vấn đề thì chư vị không nên quá coi trọng chúng, chúng tôi không bảo chư vị làm một người cẩn thận cả những điều nhỏ nhặt. Tại hoàn cảnh phức tạp, kéo căng tinh thần mọi thời mọi khắc đến mức rất khẩn trương, cứ sợ làm sai chỉ chút chuyện vặt, tôi nói rằng thế là không được, đó chính là một loại chấp trước rồi, bản thân ‘sợ’ ấy chính là chấp trước.

我們要有一顆慈悲心,對待任何事情抱著一顆慈善的心,就不容易出問題了。對個人利益淡化一點,心地善良一點,你做甚麼事都會受到它的制約,所以你就不能做出壞事情來。不信你看看,你總是抱著氣呼呼的態度,總想爭一爭,鬥一鬥,那好事在你面前也會做壞了。我經常看到有些人得理不讓人,當他抓住理的時候,他可抓住治人的東西了。同時我們也不能因為一件事情看不慣,就撥弄是非,有時你看不慣的事情不一定是錯的。作為煉功人不斷提高層次的時候,你說出一句話是帶有能量的,你要制約常人的,可不能亂說。特別是當你看不到問題真相的時候,看不到因緣關係的時候,就容易幹壞事,就容易造業。

Ngã môn yếu hữu nhất khoả từ bi tâm, đối đãi nhậm hà sự tình bão trước nhất khoả từ thiện đích tâm, tựu bất dung dị xuất vấn đề liễu. Đối cá nhân lợi ích đạm hoá nhất điểm, tâm địa thiện lương nhất điểm, nhĩ tố thậm ma sự đô hội thụ đáo tha đích chế ước, sở dĩ nhĩ tựu bất năng tố xuất hoại sự tình lai. Bất tín nhĩ khán khán, nhĩ tổng thị bão trước khí hô hô đích thái độ, tổng tưởng tranh nhất tranh, đấu nhất đấu, na hảo sự tại nhĩ diện tiền dã hội tố hoại liễu. Ngã kinh thường khán đáo hữu ta nhân đắc lý bất nhượng nhân, đương tha trảo trụ lý đích thời hậu, tha khả trảo trụ trị nhân đích đông tây liễu. Đồng thời ngã môn dã bất năng nhân vi nhất kiện sự tình khán bất quán, tựu bát lộng thị phi, hữu thời nhĩ khán bất quán đích sự tình bất nhất định thị thác đích. Tác vi luyện công nhân bất đoạn đề cao tầng thứ đích thời hậu, nhĩ thuyết xuất nhất cú thoại thị đới hữu năng lượng đích, nhĩ yếu chế ước thường nhân đích, khả bất năng loạn thuyết. Đặc biệt thị đương nhĩ khán bất đáo vấn đề chân tướng đích thời hậu, khán bất đáo nhân duyên quan hệ đích thời hậu, tựu dung dị cán hoại sự, tựu dung dị tạo nghiệp.

Chúng ta cần có một trái tim từ bi, đối đãi với bất kể việc gì thì cũng mang một trái tim từ thiện, thì sẽ không dễ xuất hiện vấn đề. Đối với lợi ích cá nhân thì hãy coi nhẹ nhàng hơn, tâm địa thiện lương hơn, chư vị làm việc gì cũng đều sẽ chịu chế ước của nó, cho nên chư vị không thể làm ra những việc xấu. Nếu không tin thì chư vị hãy coi thử, chư vị nếu lúc nào cũng mang thái độ khó đăm đăm, toàn là tranh giành đấu đá, thì việc tốt có ở ngay trước mặt thì cũng sẽ làm thành việc xấu. Tôi thường hay thấy có những người [hễ] có lý là không nhường ai, khi họ nắm được lý rồi, thì họ có thể nắm được cái để trị người khác. Đồng thời chúng ta cũng không thể vì thấy không vừa mắt một việc nào đó, bèn khuấy động thị phi, đôi khi điều mà chư vị thấy không vừa mắt là có thể không sai đâu. Làm người luyện công khi không ngừng đề cao tầng thứ, chư vị nói ra một lời nói là cũng mang theo năng lượng, chư vị là có thể chế ước người thường, nhưng không được nói lung tung. Đặc biệt là khi chư vị nhìn không thấy chân tướng của vấn đề, khi nhìn không thấy quan hệ nhân duyên, thì dễ làm ra điều xấu, dễ tạo nghiệp.

(二)消業

(Nhị) Tiêu nghiệp

2. Tiêu nghiệp

世間的理和天上的理一樣,欠人家的東西是要還的,就是常人欠人家的也得還。人生一世,你所遇到的難、劫都是業力產生的後果,你要還那些東西。我們真正修煉的人,你那人生的道路將會改變,要給你從新安排一種適合你修煉的道路,你那業力由師父給你往下減一部份,剩下的就都是為給你提高心性用的,你自己通過煉功和修煉心性把它抵換掉,償還掉。今後你們遇到的問題都不是偶然的,請你們要有這個思想準備。讓你過些難呀,常人放不下的東西全讓你放下。你會遇到許多麻煩事,問題會從家庭、社會方方面面產生出來;或者突然遇到甚麼災難了;甚至本來是對方不好,可偏偏責怪、冤枉到你身上了,等等。煉功人是不該得病的,可往往也突然得了一場大病,病的來勢又很重,折磨的很難受,到醫院檢查又查不出病來,但不知何故病又不治而好了,實際上就是你所欠的某種債通過這種形式還了。也許有一天,你愛人無緣無故的跟你鬧事,發脾氣,微不足道的事情也可能引起大的爭執,過後也覺的莫名其妙。作為煉功人你應該清楚為甚麼會產生那事情,就是那東西來了,要你還那個業。這時你要把握住自己,守住心性把事情化開,珍惜和感謝他幫你消業。

Thế gian đích Lý hoà thiên thượng đích Lý nhất dạng, khiếm nhân gia đích đông tây thị yếu hoàn đích, tựu thị thường nhân khiếm nhân gia đích dã đắc hoàn. Nhân sinh nhất thế, nhĩ sở ngộ đáo đích nạn, kiếp đô thị nghiệp lực sản sinh đích hậu quả, nhĩ yếu hoàn na ta đông tây. Ngã môn chân chính tu luyện đích nhân, nhĩ na nhân sinh đích đạo lộ tương hội cải biến, yếu cấp nhĩ tùng tân an bài nhất chủng thích hợp nhĩ tu luyện đích đạo lộ, nhĩ na nghiệp lực do Sư phụ cấp nhĩ vãng hạ giảm nhất bộ phận, thặng hạ đích tựu đô thị vi cấp nhĩ đề cao tâm tính dụng đích, nhĩ tự kỷ thông quá luyện công hoà tu luyện tâm tính bả tha để hoán điệu, thường hoàn điệu. Kim hậu nhĩ môn ngộ đáo đích vấn đề đô bất thị ngẫu nhiên đích, thỉnh nhĩ môn yếu hữu giá cá tư tưởng chuẩn bị. Nhượng nhĩ quá ta nạn nha, thường nhân phóng bất hạ đích đông tây toàn nhượng nhĩ phóng hạ. Nhĩ hội ngộ đáo hứa đa ma phiền sự, vấn đề hội tùng gia đình, xã hội phương phương diện diện sản sinh xuất lai; hoặc giả đột nhiên ngộ đáo thậm ma tai nạn liễu; thậm chí bản lai thị đối phương bất hảo, khả thiên thiên trách quái, oan uổng đáo nhĩ thân thượng liễu, đẳng đẳng. Luyện công nhân thị bất cai đắc bệnh đích, khả vãng vãng dã đột nhiên đắc liễu nhất trường đại bệnh, bệnh đích lai thế hựu ngận trọng, chiết ma đích ngận nan thụ, đáo y viện kiểm tra hựu tra bất xuất bệnh lai, đãn bất tri hà cố bệnh hựu bất trị nhi hảo liễu, thực tế thượng tựu thị nhĩ sở khiếm đích mỗ chủng trái thông quá giá chủng hình thức hoàn liễu. Dã hứa hữu nhất thiên, nhĩ ái nhân vô duyên vô cố đích cân nhĩ nháo sự, phát tỳ khí, vi bất túc đạo đích sự tình dã khả năng dẫn khởi đại đích tranh chấp, quá hậu dã giác đích mạc danh kỳ diệu. Tác vi luyện công nhân nhĩ ưng cai thanh sở vi thậm ma hội sản sinh na sự tình, tựu thị na đông tây lai liễu, yếu nhĩ hoàn na cá nghiệp. Giá thời nhĩ yếu bả ác trụ tự kỷ, thủ trụ tâm tính bả sự tình hoá khai, trân tích hoà cảm tạ tha bang nhĩ tiêu nghiệp.

Lý của thế gian giống như Lý trên thiên thượng, rằng nợ người ta gì thì phải hoàn trả, ngay cả người thường nợ người ta thì cũng phải trả. Suốt cả đời người, những khó khăn và khó nạn chư vị gặp phải đều là hậu quả của nghiệp lực đã sinh ra, chư vị phải hoàn trả những thứ đó. Những người tu luyện chân chính chúng ta, đường đời của chư vị sẽ cải biến, cần an bài lại mới cho chư vị một con đường mà thích hợp cho chư vị tu luyện, nghiệp lực kia của chư vị được Sư phụ gỡ xuống một phần, còn lại đều là dùng để đề cao tâm tính cho chư vị, bản thân chư vị thông qua luyện công và tu luyện tâm tính mà hoán đổi chúng, bồi thường chúng. Từ nay trở đi chư vị gặp phải vấn đề gì thì đều không hề ngẫu nhiên, chư vị hãy có chuẩn bị tư tưởng như vậy. [Sẽ] khiến chư vị trải qua một số nạn, những thứ người thường không buông bỏ được thì toàn là khiến chư vị buông bỏ. Chư vị sẽ gặp rất nhiều chuyện phiền não, vấn đề nảy sinh từ các loại phương diện như gia đình hay xã hội; hoặc đột nhiên gặp phải tai nạn nào đó; thậm chí vốn là tại người kia không tốt, nhưng rồi những trách cứ và oan uổng lại đổ lên thân chư vị, v.v. Người luyện công lẽ ra không mắc bệnh, nhưng [chư vị] thường hay đột nhiên lâm cơn bệnh nặng, bệnh tới như núi đổ, hành hạ khó mà chịu nổi, đến bệnh viện kiểm tra lại không tra ra bệnh, nhưng không biết tại sao bệnh lại không chữa mà khỏi, thực tế là món mà chư vị từng nợ đã thông qua hình thức đó mà được trả rồi. Có lẽ một hôm nào đó, vợ hoặc chồng chư vị vô duyên vô cớ gây sự hoặc phát cáu với chư vị, một việc không đâu cũng biến thành tranh chấp lớn, về sau cảm thấy thế kỳ lạ quá. Làm người luyện công thì chư vị nên hiểu rõ rằng vì sao nảy sinh những việc này, chính là thứ đó đến, đòi chư vị hoàn trả nghiệp ấy. Bấy giờ chư vị cần giữ mình vững vàng, giữ vững tâm tính hoá giải việc đó, trân quý và cảm ơn họ đã giúp chư vị tiêu nghiệp.

打坐時間長了就要腿痛,有的痛的死去活來。天目層次高的人看到,在很痛的時候,從煉功人身體內外有很大一塊黑東西在往下消。打坐的痛是陣痛而且很鑽心,有的人有悟性,就是不把腿拿下來,黑的消去就向白的轉化,轉化為功。煉功人的業力不可能通過打坐和煉功完全消除,還要提高心性與悟性,經受些魔難。重要的是我們做人要善良,我們法輪功善心出的很早,好多人煉功往那兒一坐,無名的流淚,想甚麼都心酸,看誰都苦,就是生出慈悲心來了,你的天性、真正的自我和宇宙特性「真、善、忍」開始溝通了。當你善心出來的時候,你做事就很善了。從你內心到外在表現,一看就很善良,那時誰也不會欺負你了。那時候有人真的欺負你,你那大慈悲心起作用,你不會還手,它是一種力量,它也促使你不會和常人一樣。

Đả toạ thời gian trường liễu tựu yếu thối thống, hữu đích thống đích tử khứ hoạt lai. Thiên mục tầng thứ cao đích nhân khán đáo, tại ngận thống đích thời hậu, tùng luyện công nhân thân thể nội ngoại hữu ngận đại nhất khối hắc đông tây tại vãng hạ tiêu. Đả toạ đích thống thị trận thống nhi thả ngận toàn tâm, hữu đích nhân hữu ngộ tính, tựu thị bất bả thối nã hạ lai, hắc đích tiêu khứ tựu hướng bạch đích chuyển hoá, chuyển hoá vi công. Luyện công nhân đích nghiệp lực bất khả năng thông quá đả toạ hoà luyện công hoàn toàn tiêu trừ, hài yếu đề cao tâm tính dữ ngộ tính, kinh thụ ta ma nạn. Trọng yếu đích thị ngã môn tố nhân yếu thiện lương, ngã môn Pháp Luân Công thiện tâm xuất đích ngận tảo, hảo đa nhân luyện công vãng na nhi nhất toạ, vô danh đích lưu lệ, tưởng thậm ma đô tâm toan, khán thuỳ đô khổ, tựu thị sinh xuất từ bi tâm lai liễu, nhĩ đích thiên tính, chân chính đích tự ngã hoà vũ trụ đặc tính “Chân-Thiện-Nhẫn” khai thuỷ câu thông liễu. Đương nhĩ thiện tâm xuất lai đích thời hậu, nhĩ tố sự tựu ngận thiện liễu. Tùng nhĩ nội tâm đáo ngoại tại biểu hiện, nhất khán tựu ngận thiện lương, na thời thuỳ dã bất hội khi phụ nhĩ liễu. Na thời hậu hữu nhân chân đích khi phụ nhĩ, nhĩ na đại từ bi tâm khởi tác dụng, nhĩ bất hội hoàn thủ, tha thị nhất chủng lực lượng, tha dã xúc sử nhĩ bất hội hoà thường nhân nhất dạng.

Ngồi đả toạ thời gian nhiều lên thì sẽ đau chân, có người cảm thấy đau như chết đi sống lại. Người có thiên mục tầng thứ cao nhìn thấy rằng, khi rất đau, thì từ cả trong và ngoài thân thể người luyện công có một khối lớn màu đen hạ xuống tiêu đi. Cái đau của đả toạ là đau từng trận và làm tâm rất khó chịu, có người có ngộ tính, bèn không tháo ra, [chất] đen tiêu đi thì chuyển hoá thành trắng, [và sẽ] chuyển hoá thành ‘công’. Nghiệp lực của người luyện công là không thể thông qua ngồi đả toạ và luyện công mà tiêu trừ hết, vẫn cần đề cao tâm tính và ngộ tính, nếm trải và chịu đựng những ma nạn đó. Quan trọng là chúng ta làm người là phải thiện lương, Thiện tâm trong Pháp Luân Công chúng ta là xuất ra rất sớm, khá nhiều người luyện công vừa tới kia ngồi [xếp bằng], liền chảy nước mắt vô danh, nghĩ gì cũng thấy tâm cay đắng, thấy rằng ai cũng khổ, đó chính là sinh ra tâm từ bi, thiên tính của chư vị, ‘cái tôi’ chân chính [của chư vị] thuở ban đầu là câu thông với đặc tính “Chân-Thiện-Nhẫn” của vũ trụ. Khi mà Thiện tâm của chư vị xuất ra, thì chư vị làm các việc sẽ rất là Thiện, từ biểu hiện của nội tâm cho tới bên ngoài, hễ nhìn là đã thấy rất thiện lương rồi, bấy giờ không ai bắt nạt chư vị nữa. Bấy giờ nếu có người thật sự bắt nạt chư vị, thì tâm đại từ bi của chư vị khởi tác dụng, chư vị sẽ không đánh trả, nó là một loại lực lượng, nó cũng thúc đẩy để chư vị không như người thường nữa.

當你遇到劫難的時候,那慈悲心會幫助你度過難關,同時我的法身看護著你,保護你的生命,但難必須讓你過。例如我在太原辦班時有一對老倆口來參加我的班急於過馬路,走在馬路中間時,來了一輛小汽車,開的飛快,一下子就把老太太掛倒了,掛出去十多米遠,摔在馬路上。小車跑出去二十多米才停下來。司機跳下車來說一些不好聽的話;車裏坐著的人也說些不大好聽的話。老太太甚麼也沒說,這時想起我講的話了,站起來之後,老太太說:沒事,沒事,哪也沒壞,她就拉著老頭一塊兒的進了禮堂。那時她要說一句,哎呀!我這兒壞了,那兒壞了,你帶我上醫院吧。那可真就壞了,她沒有這麼做。老太太跟我說:老師呀,我知道是怎麼回事,這是幫我消業呢!消了一個大難,消了一塊大業。可想她心性、悟性很好,那麼大歲數,車速那麼快,掛出去那麼遠,狠狠的摔在地上,起來了,心很正。

Đương nhĩ ngộ đáo kiếp nạn đích thời hậu, na từ bi tâm hội bang trợ nhĩ độ quá nan quan, đồng thời ngã đích Pháp thân khán hộ trước nhĩ, bảo hộ nhĩ đích sinh mệnh, đãn nan tất tu nhượng nhĩ quá. Lệ như ngã tại Thái Nguyên biện ban thời hữu nhất đối lão lưỡng khẩu lai tham gia ngã đích ban cấp ư quá mã lộ, tẩu tại mã lộ trung gian thời, lai liễu nhất lượng tiểu khí xa, khai đích phi khoái, nhất hạ tử tựu bả lão thái thái quải đảo liễu, quải xuất khứ thập đa mễ viễn, suất tại mã lộ thượng. Tiểu xa bào xuất khứ nhị thập đa mễ tài đình hạ lai. Ty cơ khiêu hạ xa lai thuyết nhất ta bất hảo thính đích thoại; xa lý toạ trước đích nhân dã thuyết ta bất đại hảo thính đích thoại. Lão thái thái thậm ma dã một thuyết, giá thời tưởng khởi ngã giảng đích thoại liễu, trạm khởi lai chi hậu, lão thái thái thuyết: Một sự, một sự, nả dã một hoại, tha tựu lạp trước lão đầu nhất khối nhi đích tiến liễu lễ đường. Na thời tha yếu thuyết nhất cú, ái nha! Ngã giá nhi hoại liễu, na nhi hoại liễu, nhĩ đới ngã thượng y viện ba. Na khả chân tựu hoại liễu, tha một hữu giá ma tố. Lão thái thái cân ngã thuyết: Lão sư nha, ngã tri đạo thị chẩm ma hồi sự, giá thị bang ngã tiêu nghiệp ni! Tiêu liễu nhất cá đại nạn, tiêu liễu nhất khối đại nghiệp. Khả tưởng tha tâm tính, ngộ tính ngận hảo, na ma đại tuế số, xa tốc na ma khoái, quải xuất khứ na ma viễn, ngoan ngoan đích suất tại địa thượng, khởi lai liễu, tâm ngận chính.

Khi chư vị đụng phải kiếp nạn, thì tâm từ bi ấy sẽ giúp chư vị vượt qua quan [ải] khó khăn ấy, đồng thời Pháp thân của tôi sẽ coi sóc chư vị, bảo hộ sinh mệnh của chư vị, nhưng nạn ấy nhất định là khiến chư vị qua. Ví dụ khi tôi mở lớp ở Thái Nguyên có một đôi vợ chồng cao tuổi tới tham gia lớp của tôi [và khi] vội vàng qua chỗ đường ô-tô, lúc ấy đang ở giữa đường, thì một ô-tô con tới, chạy rất nhanh, lập tức đâm ngã và cuốn lấy bác gái, lôi đi xa hơn mười mét, ngã ngay trên đường. Chiếc xe con này chạy tiếp hơn hai chục mét mới dừng lại được. Lái xe nhảy xuống xe và nói ra những lời khó nghe; người ngồi trong xe cũng nói những lời chẳng dễ nghe lắm. Bác gái cũng không nói gì hết, bấy giờ nhớ lại lời mà tôi giảng, bèn đứng lên, rồi bác gái nói: ‘Không sao, không sao cả, không đâu bị sao cả’, rồi bà cùng ông chồng dắt nhau tới lớp học. Bấy giờ nếu mà bà nói một câu: ‘Úi chà! Chỗ này tôi bị rồi, chỗ kia hỏng rồi, cậu đưa tôi đến bệnh viện đi’. Thế thì có thể thật sự bị rồi, nhưng bà ấy không làm thế. Bác gái ấy nói với tôi rằng: ‘Thưa Thầy, con biết đây là việc gì, đây là giúp con tiêu nghiệp! Tiêu đi một nạn lớn, tiêu mất một cục nghiệp to lớn’. Mà nghĩ xem tâm tính và ngộ tính của bà rất là tốt, tuổi tác cao ngần ấy, xe chạy nhanh như thế, bị lôi đi xa như thế, bị ngã xuống đường mạnh như thế, [vậy mà] đứng lên, tâm rất là ‘chính’.

有時候劫難來時,看起來非常大,簡直是怎麼想怎麼沒路。也許轉了好幾天,突然來路了,突然間事情發生了大轉變,實際上是我們心性提高了,那東西自然就消了。

Hữu thời hậu kiếp nạn lai thời, khán khởi lai phi thường đại, giản trực thị chẩm ma tưởng chẩm ma một lộ. Dã hứa chuyển liễu hảo kỷ thiên, đột nhiên lai lộ liễu, đột nhiên gian sự tình phát sinh liễu đại chuyển biến, thực tế thượng thị ngã môn tâm tính đề cao liễu, na đông tây tự nhiên tựu tiêu liễu.

Đôi lúc khi mà kiếp nạn tới, xem ra to lớn phi thường, quả thực là nghĩ thế nào cũng không có đường [ra]. [Nhưng] có lẽ qua mới có vài ngày, đột nhiên đường lộ ra, đột nhiên sự việc phát sinh chuyển biến lớn, trên thực tế chính là tâm tính chúng ta đề cao lên, thì thứ đó tự nhiên tiêu mất đi.

要提高思想境界就必須要通過世間各種魔難的考驗,在這個過程中你心性真的上去了,穩定了,業也消了,你的魔難也就過去了,功也長了。如果在心性考驗機會中,沒有守住心性,做了錯事,這時你不要灰心,要積極的總結教訓,找差距,在「真、善、忍」上下功夫。下一個檢驗心性的難題可能又要接踵而來。隨著功力的提高,考驗心性的魔難可能來的更猛烈、更突然。你每過一關功力將上長一點;關過不去功就停滯。小考驗小增長;大考驗大增長。望每個煉功人要準備吃大苦,要有迎接大困難的決心和毅力。沒有付出就得不到真功。想舒舒服服的不付出,不吃苦就得功,是沒有這個道理的。心性不根本改好,帶著任何個人執著之心是修不成大覺者的。

Yếu đề cao tư tưởng cảnh giới tựu tất tu yếu thông quá thế gian các chủng ma nạn đích khảo nghiệm, tại giá cá quá trình trung nhĩ tâm tính chân đích thượng khứ liễu, ổn định liễu, nghiệp dã tiêu liễu, nhĩ đích ma nan dã tựu quá khứ liễu, công dã trưởng liễu. Như quả tại tâm tính khảo nghiệm cơ hội trung, một hữu thủ trụ tâm tính, tố liễu thác sự, giá thời nhĩ bất yếu khôi tâm, yếu tích cực đích tổng kết giáo huấn, trảo sai cự, tại “Chân-Thiện-Nhẫn” thượng hạ công phu. Hạ nhất cá kiểm nghiệm tâm tính đích nan đề khả năng hựu yếu tiếp chủng nhi lai. Tuỳ trước công lực đích đề cao, khảo nghiệm tâm tính đích ma nạn khả năng lai đích cánh mãnh liệt, cánh đột nhiên. Nhĩ mỗi quá nhất quan công lực tương thượng trưởng nhất điểm; quan quá bất khứ công tựu đình trệ. Tiểu khảo nghiệm tiểu tăng trưởng; đại khảo nghiệm đại tăng trưởng. Vọng mỗi cá luyện công nhân yếu chuẩn bị ngật đại khổ, yếu hữu nghênh tiếp đại khốn nan đích quyết tâm hoà nghị lực. Một hữu phó xuất tựu đắc bất đáo chân công. Tưởng thư thư phục phục đích bất phó xuất, bất ngật khổ tựu đắc công, thị một hữu giá cá đạo lý đích. Tâm tính bất căn bản cải hảo, đới trước nhậm hà cá nhân chấp trước chi tâm thị tu bất thành Đại Giác Giả đích.

Muốn đề cao cảnh giới tư tưởng thì ắt phải thông qua các loại khảo nghiệm ma nạn ở thế gian, trong quá trình ấy tâm tính chư vị thật sự đi lên rồi, ổn định rồi, [thì] nghiệp cũng tiêu đi rồi, ma nạn của chư vị cũng qua đi rồi, công cũng tăng rồi. Nếu trong cơ hội khảo nghiệm tâm tính, mà không giữ tâm tính vững vàng, làm điều lầm lỗi, thì bấy giờ chư vị không được nản lòng, cần tổng kết một cách tích cực từ bài giáo huấn đó, tìm chỗ kém ở đâu, thêm công phu vào [tu luyện] “Chân-Thiện-Nhẫn”. Một đề [bài] khó kế tiếp để khảo nghiệm tâm tính có thể sẽ sắp tới ngay tiếp theo. Cùng với việc đề cao công lực, thì các ma nạn để khảo nghiệm tâm tính có thể đến một cách mãnh liệt hơn, đột nhiên hơn. Mỗi khi chư vị qua một quan [ải] thì công lực sẽ tăng lên một chút; quan ấy mà không qua được thì công lực đình trệ. Khảo nghiệm nhỏ tăng trưởng ít; khảo nghiệm lớn tăng trưởng nhiều. Mong rằng mỗi người luyện công đều chuẩn bị chịu cái khổ lớn, cần có quyết tâm và nghị lực nghênh tiếp những khó nạn lớn. Không có phó xuất thì không đạt được công chân thật. Nghĩ rằng an nhàn thoải mái không phó xuất gì, không chịu khổ mà đắc công, là không có đạo lý đó đâu. Tâm tính không cải biến thành tốt từ căn bản, vẫn mang bất kể tâm chấp trước nào của người thường thì không tu thành Đại Giác Giả được.

七、招魔

Thất, Chiêu ma

VII. Chiêu ma

招魔是指煉功人在煉功過程中出現的影響煉功的現象或景象,目地是阻止煉功人往高層次上修煉,也可以說是魔來討債。

Chiêu ma thị chỉ luyện công nhân tại luyện công quá trình trung xuất hiện đích ảnh hưởng luyện công đích hiện tượng hoặc cảnh tượng, mục địa thị trở chỉ luyện công nhân vãng cao tầng thứ thượng tu luyện, dã khả dĩ thuyết thị ma lai thảo trái.

Chiêu [dẫn] ma là nói về [việc] người luyện công trong quá trình luyện công thì xuất hiện hiện tượng hoặc cảnh tượng làm ảnh hưởng đến luyện công, mục đích là ngăn trở không để người luyện công tu luyện lên tầng thứ cao, cũng có thể nói là ma tới đòi nợ.

功法修煉到高層次,必然會遇到招魔問題。一個人的一生和祖輩不可避免的會做過一些不好的事,這些不好的事就叫作業力。一個人的根基好不好,就決定他帶的業力多少,就是一個很好的人,也不可能沒有業力。因為你不修煉,所以你體會不到。如果你只為祛病健身,就沒有魔去管你,一旦你往高層次上修煉,它就要管你了。它可以用各種方法來打擾你,目地是不讓你往高層次上修煉,讓你修煉不成。魔的出現方式有多種,有的是以我們日常生活中的現象出現;有的是以另外空間來的信息形式進行干擾,使的你一坐下來就有某種事來打擾,讓你無法入靜,沒法往高層次上修;有時你一打坐就昏昏欲睡或浮想聯翩,無法進入煉功態;有時你一煉功,本來很安靜的環境,突然來了腳步聲、摔門聲、汽車鳴響、電話干擾、各種吵鬧,使你靜不下來。

Công pháp tu luyện đáo cao tầng thứ, tất nhiên hội ngộ đáo chiêu ma vấn đề. Nhất cá nhân đích nhất sinh hoà tổ bối bất khả tỵ miễn đích hội tố quá nhất ta bất hảo đích sự, giá ta bất hảo đích sự tựu khiếu tác nghiệp lực. Nhất cá nhân đích căn cơ hảo bất hảo, tựu quyết định tha đới đích nghiệp lực đa thiểu, tựu thị nhất cá ngận hảo đích nhân, dã bất khả năng một hữu nghiệp lực. Nhân vi nhĩ bất tu luyện, sở dĩ nhĩ thể hội bất đáo. Như quả nhĩ chỉ vi khứ bệnh kiện thân, tựu một hữu ma khứ quản nhĩ, nhất đán nhĩ vãng cao tầng thứ thượng tu luyện, tha tựu yếu quản nhĩ liễu. Tha khả dĩ dụng các chủng phương pháp lai đả nhiễu nhĩ, mục địa thị bất nhượng nhĩ vãng cao tầng thứ thượng tu luyện, nhượng nhĩ tu luyện bất thành. Ma đích xuất hiện phương thức hữu đa chủng, hữu đích thị dĩ ngã môn nhật thường sinh hoạt trung đích hiện tượng xuất hiện; hữu đích thị dĩ lánh ngoại không gian lai đích tín tức hình thức tiến hành can nhiễu, sử đích nhĩ nhất toạ hạ lai tựu hữu mỗ chủng sự lai đả nhiễu, nhượng nhĩ vô pháp nhập tĩnh, một pháp vãng cao tầng thứ thượng tu; hữu thời nhĩ nhất đả toạ tựu hôn hôn dục thuỵ hoặc phù tưởng liên phiên, vô pháp tiến nhập luyện công thái; hữu thời nhĩ nhất luyện công, bản lai ngận an tĩnh đích hoàn cảnh, đột nhiên lai liễu cước bộ thanh, suất môn thanh, khí xa minh hưởng, điện thoại can nhiễu, các chủng sảo náo, sử nhĩ tĩnh bất hạ lai.

Công pháp khi tu luyện tới tầng thứ cao, hẳn sẽ gặp vấn đề ‘chiêu ma’ này. Suốt một đời của một người hoặc là tổ tiên của vị ấy không tránh khỏi làm một số việc bất hảo, những việc bất hảo đó gọi là nghiệp lực. ‘Căn cơ’ một người là tốt hay không, chính là quyết định bởi nghiệp lực người ấy mang theo nhiều hay ít, ngay cả một người rất là tốt, nhưng cũng không thể không có nghiệp lực. Là vì chư vị không tu luyện, nên chư vị không thể nhận ra được [chúng]. Nếu chư vị chỉ để trừ bệnh khoẻ thân, thì không ma nào tới quản chư vị, đến khi chư vị muốn tu luyện lên tầng thứ cao, chúng bèn muốn quản chư vị, chúng có thể dùng tới các loại phương pháp tới quấy nhiễu chư vị, mục đích là không để chư vị tu luyện lên tầng thứ cao, khiến chư vị tu không thành. Phương thức mà ma xuất hiện là có nhiều loại, có [loại] là bằng hiện tượng trong cuộc sống thường ngày của chúng ta để xuất hiện, có [loại] là bằng hình thức tín tức đến từ không gian khác để tiến hành can nhiễu, khiến chư vị hễ vừa ngồi xuống liền có loại việc nào đó đến quấy nhiễu, làm chư vị không cách nào nhập tĩnh, không cách nào tu lên tầng thứ cao; có những lúc chư vị hễ ngồi đả toạ liền trầm trầm muốn ngủ hoặc suy nghĩ miên man, không cách nào nhập vào [trạng] thái luyện công; có những lúc chư vị hễ luyện công, hoàn cảnh vốn vẫn an tĩnh, thì đột nhiên có tiếng bước chân, tiếng sập cửa, tiếng còi ô-tô, có điện thoại can nhiễu, các loại quấy rầy, khiến chư vị không tĩnh xuống được.

還有一種是色魔,煉功人在打坐或夢中,他的面前會出現美男子或美女子,吸引你勾引你,做一些對你刺激性的動作,引誘你的貪戀美色之心。只要你一次過不去,它會逐步升級,引誘你,直到你放棄往高層次上修的想法為止。這一關是很難過的,不少煉功人由此而夭折。希望你們要有精神準備,如果有的人心性守的不夠,一次過不去就要認真總結教訓,它會多次來騷擾你,直到你真正守住了心性,完全去掉了那種執著心為止。這是一大關,必須得過去,否則就不能得道,不能修成。

Hài hữu nhất chủng thị sắc ma, luyện công nhân tại đả toạ hoặc mộng trung, tha đích diện tiền hội xuất hiện mỹ nam tử hoặc mỹ nữ tử, hấp dẫn nhĩ câu dẫn nhĩ, tố nhất ta đối nhĩ thích kích tính đích động tác, dẫn dụ nhĩ đích tham luyến mỹ sắc chi tâm. Chỉ yếu nhĩ nhất thứ quá bất khứ, tha hội trục bộ thăng cấp, dẫn dụ nhĩ, trực đáo nhĩ phóng khí vãng cao tầng thứ thượng tu đích tưởng pháp vi chỉ. Giá nhất quan thị ngận nan quá đích, bất thiểu luyện công nhân do thử nhi yểu chiết. Hy vọng nhĩ môn yếu hữu tinh thần chuẩn bị, như quả hữu đích nhân tâm tính thủ đích bất cú, nhất thứ quá bất khứ tựu yếu nhận chân tổng kết giáo huấn, tha hội đa thứ lai tao nhiễu nhĩ, trực đáo nhĩ chân chính thủ trụ liễu tâm tính, hoàn toàn khứ điệu liễu na chủng chấp trước tâm vi chỉ. Giá thị nhất đại quan, tất tu đắc quá khứ, phủ tắc tựu bất năng đắc Đạo, bất năng tu thành.

Còn có một loại nữa là ma ‘sắc’, người luyện công khi ngồi đả toạ hoặc trong mộng, trước mặt họ xuất hiện con trai đẹp hoặc con gái đẹp, hấp dẫn chư vị quyến rũ chư vị, làm một số động tác kích thích tính [dục] của chư vị, dẫn khởi tâm tham luyến sắc đẹp của chư vị. Chỉ cần chư vị không vượt qua một lần, nó sẽ từng bước thăng cấp, dẫn dụ chư vị, mãi đến khi chư vị từ bỏ ý nghĩ tu luyện lên tầng thứ cao mới thôi. Quan [ải] này rất khó vượt qua, không ít người luyện công vì điều này mà sớm chấm dứt. Mong chư vị có chuẩn bị tinh thần, nếu có người tâm tính không đủ vững vàng, một lần không qua thì hãy nghiêm chỉnh học bài giáo huấn này, nó sẽ nhiều lần quấy rối chư vị, cho đến khi chư vị giữ vững tâm tính, hoàn toàn vứt bỏ tâm chấp trước loại ấy thì mới thôi. Đây là một quan [ải] lớn, nhất định phải vượt qua, nếu không thì không thể đắc Đạo, không thể tu thành.

另一種魔的形式是在煉功或睡夢中,突然看到一些可怕的面孔,惡的很,很真切,或拿著刀要殺人,但它只是嚇唬人,它真的砍也砍不上,因為師父已在煉功人體外給他下了防護罩,砍不到。它嚇唬人的目地是不讓你煉功。這些東西都是一個層次、一個階段的表現,很快就會跳過去,幾天、一個星期或幾個星期。就看心性有多高,看你對這個事情怎麼看待。

Lánh nhất chủng ma đích hình thức thị tại luyện công hoặc thuỵ mộng trung, đột nhiên khán đáo nhất ta khả phạ đích diện khổng, ác đích ngận, ngận chân thiết, hoặc nã trước đao yếu sát nhân, đãn tha chỉ thị hách hổ nhân, tha chân đích khảm dã khảm bất thượng, nhân vi Sư phụ dĩ tại luyện công nhân thể ngoại cấp tha hạ liễu phòng hộ tráo, khảm bất đáo. Tha hách hổ nhân đích mục địa thị bất nhượng nhĩ luyện công. Giá ta đông tây đô thị nhất cá tầng thứ, nhất cá giai đoạn đích biểu hiện, ngận khoái tựu hội khiêu quá khứ, kỷ thiên, nhất cá tinh kỳ hoặc kỷ cá tinh kỳ. Tựu khán tâm tính hữu đa cao, khán nhĩ đối giá cá sự tình chẩm ma khán đãi.

Một loại hình thức nữa của ma là khi luyện công hoặc khi ngủ mơ, đột nhiên nhìn thấy một số bộ mặt đáng sợ, rất hung ác, trông rất thật, hoặc cầm dao sắp giết người, nhưng nó chỉ là hù doạ người, nó thật sự tới chặt chém cũng không chém được, là vì Sư phụ đã đặt lồng phòng hộ bên ngoài [thân] thể người luyện công, chém không tới. Nó hù doạ người có mục đích là không để chư vị luyện công. Những thứ đó đều là biểu hiện ở một tầng thứ ấy, ở một giai đoạn ấy, [người luyện công] rất nhanh sẽ nhảy vượt qua, [trải qua] mấy hôm, một tuần hoặc hoặc vài tuần. Là để xem tâm tính cao bao nhiêu, xem chư vị nhìn nhận và đối đãi việc này như thế nào.

八、根基與悟性

Bát, Căn cơ dữ ngộ tính

VIII. Căn cơ và ngộ tính

根基是指一個人先天所帶來的白色物質,就是德這種有形物質,帶的多了根基必然就好。根基好的人容易歸真,容易悟道,因為他的思想沒有障礙,一聽到要學氣功,一聽到修煉的東西,他就產生了興趣,他就願意去學,能和宇宙溝通。正如老子所說:「上士聞道,勤而行之;中士聞道,若存若亡;下士聞道,大笑之,不笑不足以為道」。容易歸真悟道的人就屬於「上士」者。相反,黑色物質多的人,根基差的人在他的體外形成一種屏障,使他不能接受好的東西。如果接觸到好的東西的時候,它會促使他不相信,實際上這就是業的作用。

Căn cơ thị chỉ nhất cá nhân tiên thiên sở đới lai đích bạch sắc vật chất, tựu thị đức giá chủng hữu hình vật chất, đới đích đa liễu căn cơ tất nhiên tựu hảo. Căn cơ hảo đích nhân dung dị quy chân, dung dị ngộ Đạo, nhân vi tha đích tư tưởng một hữu chướng ngại, nhất thính đáo yếu học khí công, nhất thính đáo tu luyện đích đông tây, tha tựu sản sinh liễu hứng thú, tha tựu nguyện ý khứ học, năng hoà vũ trụ câu thông. Chính như Lão Tử sở thuyết: “Thượng sỹ văn Đạo, cần nhi hành chi; trung sỹ văn Đạo, nhược tồn nhược vong; hạ sỹ văn Đạo, đại tiếu chi, bất tiếu bất túc dĩ vi đạo”. Dung dị quy chân ngộ Đạo đích nhân tựu thuộc ư “thượng sỹ” giả. Tương phản, hắc sắc vật chất đa đích nhân, căn cơ sai đích nhân tại tha đích thể ngoại hình thành nhất chủng bình chướng, sử tha bất năng tiếp thụ hảo đích đông tây. Như quả tiếp xúc đáo hảo đích đông tây đích thời hậu, tha hội xúc sử tha bất tương tín, thực tế thượng giá tựu thị nghiệp đích tác dụng.

‘Căn cơ’ là nói về vật chất màu trắng mà người ta mang theo khi sinh ra[3], chính là ‘đức’, loại vật chất hữu hình ấy, mang nhiều [đức] thì tất nhiên căn cơ là tốt. Người có căn cơ tốt dễ quy chân, dễ ngộ Đạo, là vì tư tưởng của họ không có chướng ngại, hễ nghe tới học khí công, hễ nghe tới những điều tu luyện, thì họ liền nảy sinh hứng thú, họ nguyện ý đi học, có thể câu thông với vũ trụ. Chính như điều mà Lão Tử từng thuyết: “Thượng sỹ văn Đạo, cần nhi hành chi; trung sỹ văn Đạo, nhược tồn nhược vong, hạ sỹ văn Đạo, đại tiếu chi, bất tiếu bất túc dĩ vi Đạo”. Người mà dễ quy chân và ngộ Đạo là thuộc về kẻ “thượng sỹ”. Trái lại, người có nhiều vật chất màu đen, người có căn cơ kém thì ở ngoài [thân] thể của họ có hình thành một lớp chắn, khiến họ không thể tiếp thụ những thứ tốt. Nếu như tiếp xúc với thứ tốt thì khi đó nó sẽ thúc đẩy khiến họ không tin theo, trên thực tế đây là tác hại của nghiệp lực.

[3] tiên thiên là để chỉ là cái gì nguyên vốn có, trời ban, sinh ra là như thế rồi.

談到根基必然涉及悟性問題。一說到悟,有人就以為悟就是聰明。常人講的聰明、猴精的人離我們講的修煉實在相差太遠了,這種聰明人往往不容易開悟,他只看重現實物質世界,甚麼也不吃虧,甚麼好處都不撒手。特別是有個別人,自以為學問大,有知識,很聰明,把修煉看作是天方夜譚。煉功修心性,對他來說不可思議,認為煉功人都是傻子,是迷信。我們講的悟,不是指聰明,而是指人性的歸真,做一個好人,符合宇宙特性。根基決定一個人的悟性,根基好,悟性也會好。根基決定悟性,悟性也不完全受根基制約。根基再好,理解差,沒悟到也不行。有的人根基不太好,但他悟性好,就能往上修。我們是普度眾生,看悟性不看根基。儘管你帶的不好的東西挺多,只要你有決心往上修,你這一念之出實際就是正念。有這想法,你也就只不過比別人多付出一點,最終還是可以修成的。

Đàm đáo căn cơ tất nhiên thiệp cập ngộ tính vấn đề. Nhất thuyết đáo ngộ, hữu nhân tựu dĩ vi ngộ tựu thị thông minh. Thường nhân giảng đích thông minh, hầu tinh đích nhân ly ngã môn giảng đích tu luyện thực tại tương sai thái viễn liễu, giá chủng thông minh nhân vãng vãng bất dung dị khai ngộ, tha chỉ khán trọng hiện thực vật chất thế giới, thậm ma dã bất ngật khuy, thậm ma hảo xứ đô bất tát thủ. Đặc biệt thị hữu cá biệt nhân, tự dĩ vi học vấn đại, hữu tri thức, ngận thông minh, bả tu luyện khán tác thị Thiên Phương Dạ Đàm. Luyện công tu tâm tính, đối tha lai thuyết bất khả tư nghị, nhận vi luyện công nhân đô thị xoạ tử, thị mê tín. Ngã môn giảng đích ngộ, bất thị chỉ thông minh, nhi thị chỉ nhân tính đích quy chân, tố nhất cá hảo nhân, phù hợp vũ trụ đặc tính. Căn cơ quyết định nhất cá nhân đích ngộ tính, căn cơ hảo, ngộ tính dã hội hảo. Căn cơ quyết định ngộ tính, ngộ tính dã bất hoàn toàn thụ căn cơ chế ước. Căn cơ tái hảo, lý giải sai, một ngộ đáo dã bất hành. Hữu đích nhân căn cơ bất thái hảo, đãn tha ngộ tính hảo, tựu năng vãng thượng tu. Ngã môn thị phổ độ chúng sinh, khán ngộ tính bất khán căn cơ. Tận quản nhĩ đới đích bất hảo đích đông tây đĩnh đa, chỉ yếu nhĩ hữu quyết tâm vãng thượng tu, nhĩ giá nhất niệm chi xuất thực tế tựu thị chính niệm. Hữu giá tưởng pháp, nhĩ dã tựu chỉ bất quá tỷ biệt nhân đa phó xuất nhất điểm, tối chung hài thị khả dĩ tu thành đích.

Bàn về ‘căn cơ’ ắt động chạm tới vấn đề ‘ngộ tính’. Hễ nói tới ‘ngộ’, có người liền cho rằng ‘ngộ’ nghĩa là ‘thông minh’. Người ‘thông minh’ hoặc ‘khôn khéo’ mà người thường nói đến ấy thực ra là cách rất xa với tu luyện mà chúng ta giảng, người thông minh loại này thông thường không dễ khai ngộ, họ chỉ coi trọng thế giới vật chất hiện thực, cái gì cũng không chịu thiệt, cái gì tốt cũng không chịu buông tay. Nhất là có một số người cá biệt, tự cho rằng có học vấn cao, có trí thức, rất thông minh, [và] coi tu luyện như chuyện [hư cấu] Nghìn Lẻ Một Đêm. Luyện công tu tâm tính, đối với họ mà nói là quá khó tin, họ cho rằng những người luyện công đều là kẻ ngốc, là mê tín. ‘Ngộ’ mà chúng ta giảng, không phải là ‘thông minh’ kia, mà là nói về sự quy chân của [bản] tính người ta, làm một người tốt, phù hợp với đặc tính vũ trụ. Căn cơ quyết định ngộ tính của cá nhân, căn cơ tốt, thì ngộ tính cũng tốt. Căn cơ quyết định ngộ tính, ngộ tính cũng không hoàn toàn chịu chế ước của căn cơ. Căn cơ dù tốt đến đâu, [nhưng] lý giải kém, ngộ không ra thì vẫn là không được. Có người căn cơ không tốt lắm, nhưng ngộ tính của họ tốt, có thể tu lên. Chúng ta là ‘phổ độ chúng sinh’, xét ngộ tính chứ không xét căn cơ. Cho dù chư vị mang theo nhiều thứ xấu, nhưng chỉ cần chư vị quyết tâm tu lên, thì niệm ấy của chư vị xuất ra trên thực tế đó là chính niệm. Có ý nghĩ ấy, chư vị cũng chỉ bất quá [cần] phó xuất nhiều hơn một chút so với người khác thôi, cuối cùng vẫn có thể tu thành.

煉功人的身體已經是純淨的了,出功以後身體是不能有病的,因為體內的高能量物質已不允許黑色物質存在了。但有的人就是不相信,老是認為自己有病,說我怎麼這麼難受啊!咱們說你得的是功,你得那麼好的東西,還能不難受嗎?修煉嘛,就是要相對付出的。實際上那都是表面的東西,對你身體毫無影響,看上去好像是病,根本就不是病,就靠你自己去悟了。煉功人不但要能吃苦中苦,還得悟性好。有的人遇到麻煩事也不去悟,我在這裏講高層次,怎麼高標準要求自己,但他還是混同於常人,他甚至不能使自己處在真正煉功人狀態去煉功,也不相信自己會處在高層次。

Luyện công nhân đích thân thể dĩ kinh thị thuần tịnh đích liễu, xuất công dĩ hậu thân thể thị bất năng hữu bệnh đích, nhân vi thể nội đích cao năng lượng vật chất dĩ bất duẫn hứa hắc sắc vật chất tồn tại liễu. Đãn hữu đích nhân tựu thị bất tương tín, lão thị nhận vi tự kỷ hữu bệnh, thuyết ngã chẩm ma giá ma nan thụ a! Cha môn thuyết nhĩ đắc đích thị công, nhĩ đắc na ma hảo đích đông tây, hài năng bất nan thụ ma? Tu luyện ma, tựu thị yếu tương đối phó xuất đích. Thực tế thượng na đô thị biểu diện đích đông tây, đối nhĩ thân thể hào vô ảnh hưởng, khán thượng khứ hảo tượng thị bệnh, căn bản tựu bất thị bệnh, tựu kháo nhĩ tự kỷ khứ ngộ liễu. Luyện công nhân bất đãn yếu năng ngật khổ trung khổ, hài đắc ngộ tính hảo. Hữu đích nhân ngộ đáo ma phiền sự dã bất khứ ngộ, ngã tại giá lý giảng cao tầng thứ, chẩm ma cao tiêu chuẩn yêu cầu tự kỷ, đãn tha hài thị hỗn đồng ư thường nhân, tha thậm chí bất năng sử tự kỷ xứ tại chân chính luyện công nhân trạng thái khứ luyện công, dã bất tương tín tự kỷ hội xứ tại cao tầng thứ.

Thân thể người luyện công đã là thuần tịnh rồi, sau khi xuất công thì thân thể không thể có bệnh, vì vật chất cao năng lượng bên trong [thân] thể đã không cho phép vật chất màu đen tồn tại nữa. Nhưng có những người không tin, vẫn cứ tưởng rằng mình có bệnh, nói ‘sao mà tôi khó chịu thế này!’ Chúng ta nói điều chư vị đắc được là ‘công’, chư vị đắc được những thứ tốt đến thế, còn có thể khó chịu sao? Tu luyện mà, chính là cần phó xuất một cách tương ứng. Trên thực tế đó đều là những thứ bề mặt, không ảnh hưởng chút gì tới thân thể chư vị, xem ra dường như là bệnh, [nhưng] hoàn toàn không phải bệnh, ấy là cần dựa vào chư vị tự mình ngộ. Người luyện công không chỉ cần chịu khổ trong khổ, mà còn phải có ngộ tính tốt. Có người khi gặp việc phiền não vẫn không ngộ [ra], chúng ta ở đây giảng tầng thứ cao, lấy tiêu chuẩn cao để yêu cầu tự mình như thế nào, nhưng họ vẫn tự lẫn mình cùng như người thường, họ thậm chí không thể tự đặt mình vào trạng thái của người luyện công mà tu luyện, cũng không tin rằng mình sẽ ở tầng thứ cao.

高層次講悟是指開悟。悟,有頓悟和漸悟之分。頓悟是指整個修煉過程都是鎖著煉的。當你走完修煉全過程後,心性得到提高之後,到了最後一瞬間,功能全部炸出來,天目一瞬間開到最高層次,思維可以接觸到另外空間高級生命,一下子看到整個宇宙各個空間各個單元世界的真相,並和他們有了溝通,能夠施展大神通。頓悟這條路最難走,歷代都是挑選根基相當高的人當徒弟,歷代都是單傳功法。一般人受不了啊!我是走了頓悟這條路的。

Cao tầng thứ giảng ngộ thị chỉ khai ngộ. Ngộ, hữu đốn ngộ hoà tiệm ngộ chi phân. Đốn ngộ thị chỉ chỉnh cá tu luyện quá trình đô thị toả trước luyện đích. Đương nhĩ tẩu hoàn tu luyện toàn quá trình hậu, tâm tính đắc đáo đề cao chi hậu, đáo liễu tối hậu nhất thuấn gian, công năng toàn bộ tạc xuất lai, thiên mục nhất thuấn gian khai đáo tối cao tầng thứ, tư duy khả dĩ tiếp xúc đáo lánh ngoại không gian cao cấp sinh mệnh, nhất hạ tử khán đáo chỉnh cá vũ trụ các cá không gian các cá đơn nguyên thế giới đích chân tướng, tịnh hoà tha môn hữu liễu câu thông, năng cú thi triển đại thần thông. Đốn ngộ giá điều lộ tối nan tẩu, lịch đại đô thị khiêu tuyển căn cơ tương đương cao đích nhân đương đồ đệ, lịch đại đô thị đơn truyền công pháp. Nhất ban nhân thụ bất liễu a! Ngã thị tẩu liễu đốn ngộ giá điều lộ đích.

‘Ngộ’ được giảng ở tầng thứ cao là ‘khai ngộ’. Ngộ, có phân biệt ‘đốn ngộ’ và ‘tiệm ngộ’. Đốn ngộ là nói về toàn bộ quá trình tu luyện đều luyện khi bị khoá. Sau khi chư vị đi hết quá trình tu luyện rồi, sau khi tâm tính đề cao rồi, rồi tới thời khắc cuối cùng, công năng toàn bộ nổ xuất ra, thiên mục chỉ trong nháy mắt đạt tầng thứ cao nhất, tư duy có thể tiếp xúc với các sinh mệnh cao cấp ở không gian khác, ngay tức khắc nhìn thấy chân tướng của các không gian và các thế giới đơn nguyên ở toàn thể vũ trụ, đồng thời còn [có thể] câu thông với họ, có thể thi triển thần thông lớn. Con đường đốn ngộ này là khó đi nhất, các thế hệ trước đây đều là chọn người có căn cơ rất cao làm đệ tử, thế hệ trước đều là công pháp đơn truyền. Một người bình thường sẽ không chịu nổi đâu! Tôi là đã đi con đường đốn ngộ này.

我現在傳給大家的屬於漸悟的東西。它在修煉過程中,該出甚麼功能就出甚麼功能,但也不是絕對出了功能就給你用。當你心性還沒達到一定層次,把握不住自己,容易幹壞事時,功能暫時不給你用,但終究會給你的。通過修煉,層次會逐漸提高,逐漸認識宇宙的真理,也像頓悟一樣,最後達到圓滿。漸悟這一條路較好走,沒有危險性。難的是修煉過程你都看見了,你更應該嚴格要求自己。

Ngã hiện tại truyền cấp đại gia đích thuộc ư tiệm ngộ đích đông tây. Tha tại tu luyện quá trình trung, cai xuất thậm ma công năng tựu xuất thậm ma công năng, đãn dã bất thị tuyệt đối xuất liễu công năng tựu cấp nhĩ dụng. Đương nhĩ tâm tính hài một đạt đáo nhất định tầng thứ, bả ác bất trụ tự kỷ, dung dị cán hoại sự thời, công năng tạm thời bất cấp nhĩ dụng, đãn chung cứu hội cấp nhĩ đích. Thông quá tu luyện, tầng thứ hội trục tiệm đề cao, trục tiệm nhận thức vũ trụ đích chân lý, dã tượng đốn ngộ nhất dạng, tối hậu đạt đáo viên mãn. Tiệm ngộ giá nhất điều lộ giảo hảo tẩu, một hữu nguy hiểm tính. Nan đích thị tu luyện quá trình nhĩ đô khán kiến liễu, nhĩ cánh ưng cai nghiêm cách yêu cầu tự kỷ.

Hiện nay tôi cấp cho mọi người là những điều thuộc về tiệm ngộ. Nó trong quá trình tu luyện, nên xuất công năng nào thì là xuất công năng ấy, nhưng không có tuyệt đối rằng xuất công năng nào thì liền cấp cho chư vị dùng. Khi tâm tính chư vị chưa đạt tới một tầng thứ nhất định, giữ mình chưa vững vàng, dễ phạm điều xấu, thì công năng là tạm thời không cho chư vị dùng, nhưng cuối cùng sẽ cấp cho chư vị. Thông qua tu luyện, tầng thứ sẽ dần dần đề cao, dần dần nhận thức được chân tướng của vũ trụ, cũng như đốn ngộ là cuối cùng cũng đạt viên mãn. Con đường tiệm ngộ dễ đi hơn, không có tính nguy hiểm. Cái khó là quá trình tu luyện chư vị đều nhìn thấy, [nên] chư vị càng phải nghiêm túc yêu cầu bản thân mình.

九、清靜心

Cửu, Thanh tĩnh tâm

IX. Tâm thanh tĩnh

有些人煉功靜不下來,在探尋入靜的方法。有人問我:老師啊,我煉功為甚麼靜不下來呢。你教我甚麼辦法啊,採用甚麼手法啊,使我打坐能靜下來。我說你怎麼能靜的下來呢!神仙來教你方法你都靜不下來。為甚麼呢?因為你自身的心不清靜。人生活在這個社會中,七情六慾,方方面面的個人利益,自身的甚至親朋好友的你都掛在心上,腦子裏佔的比重太大,擺的位置相當高,打坐煉功時能靜的下來嗎?人為的去壓制它,而它自個兒就往出翻。

Hữu ta nhân luyện công tĩnh bất hạ lai, tại thám tầm nhập tĩnh đích phương pháp. Hữu nhân vấn ngã: Lão sư a, ngã luyện công vi thậm ma tĩnh bất hạ lai ni. Nhĩ giáo ngã thậm ma biện pháp a, thái dụng thậm ma thủ pháp a, sử ngã đả toạ năng tĩnh hạ lai. Ngã thuyết nhĩ chẩm ma năng tĩnh đích hạ lai ni! Thần Tiên lai giáo nhĩ phương pháp nhĩ đô tĩnh bất hạ lai. Vi thậm ma ni? Nhân vi nhĩ tự thân đích tâm bất thanh tĩnh. Nhân sinh hoạt tại giá cá xã hội trung, thất tình lục dục, phương phương diện diện đích cá nhân lợi ích, tự thân đích thậm chí thân bằng hảo hữu đích nhĩ đô quải tại tâm thượng, não tử lý chiếm đích tỷ trọng thái đại, bài đích vị trí tương đương cao, đả toạ luyện công thời năng tĩnh đích hạ lai ma? Nhân vi đích khứ áp chế tha, nhi tha tự cá nhi tựu vãng xuất phiên.

Một số người luyện công không tĩnh lại được, và đang tìm kiếm phương pháp nhập tĩnh. Có người hỏi tôi: ‘Thưa Thầy, con luyện công vì sao mà không tĩnh lại được. Thầy dạy cho con biện pháp nào đó, chọn dùng một thủ pháp nào đó, khiến con ngồi đả toạ có thể tĩnh lại được’. Tôi nói chư vị làm sao có thể tĩnh lại được! Thần Tiên tới dạy chư vị các phương pháp thì chư vị cũng không tĩnh lại được. Tại sao? Là vì tự thân chư vị tâm không thanh tĩnh. Người sinh sống ở xã hội này, thất tình lục dục, lợi ích cá nhân về đủ mọi phương diện, những thứ của mình và thậm chí của cả bạn bè thân quyến cũng được chư vị đặt trong tâm, chiếm một tỷ trọng lớn trong não, đặt ở vị trí khá là cao, khi ngồi đả toạ luyện công liệu có thể tĩnh lại không? Cố ý áp chế [nó], mà tự nó ở đó sẽ ào xuất ra.

佛教修法中講「戒、定、慧」。戒,就是要放棄那些執著的東西。有採用念佛號的,要一心不亂的去念,使自己的思想達到一念代萬念的狀態。但它可是一種功夫,而不是一種方法。不信你去念,保證嘴裏念著佛號,腦子裏又翻騰起別的東西來了。最早西藏喇嘛教念佛號一天要念幾十萬遍,念一個星期。念的昏頭脹腦,最後腦子裏甚麼都沒有了,一念代萬念了。那是一種功夫,你不一定做的了。也有些功法教你意守丹田、數數或者眼睛視物等方法,實際上這些都不能使你絕對的靜下來。煉功人得有一顆清靜的心,得把個人利益捨一捨,把那顆貪慾之心放下來。

Phật giáo tu pháp trung giảng “Giới, Định, Huệ”. Giới, tựu thị yếu phóng khí na ta chấp trước đích đông tây. Hữu thái dụng niệm Phật hiệu đích, yếu nhất tâm bất loạn đích khứ niệm, sử tự kỷ đích tư tưởng đạt đáo nhất niệm đại vạn niệm đích trạng thái. Đãn tha khả thị nhất chủng công phu, nhi bất thị nhất chủng phương pháp. Bất tín nhĩ khứ niệm, bảo chứng chuỷ lý niệm trước Phật hiệu, não tử lý hựu phiên đằng khởi biệt đích đông tây lai liễu. Tối tảo Tây Tạng lạt-ma giáo niệm Phật hiệu nhất thiên yếu niệm kỷ thập vạn biến, niệm nhất cá tinh kỳ. Niệm đích hôn đầu trướng não, tối hậu não tử lý thậm ma đô một hữu liễu, nhất niệm đại vạn niệm liễu. Na thị nhất chủng công phu, nhĩ bất nhất định tố đích liễu. Dã hữu ta công pháp giáo nhĩ ý thủ đan điền, sổ số hoặc giả nhãn tình thị vật đẳng phương pháp, thực tế thượng giá ta đô bất năng sử nhĩ tuyệt đối đích tĩnh hạ lai. Luyện công nhân đắc hữu nhất khoả thanh tĩnh đích tâm, đắc bả cá nhân lợi ích xả nhất xả, bả na khoả tham dục chi tâm phóng hạ lai.

Trong pháp tu của Phật giáo giảng “Giới-Định-Huệ”. Giới, chính là cần vứt bỏ những thứ chấp trước kia. Có người sử dụng niệm Phật hiệu, cần ‘nhất tâm bất loạn’ mà niệm, khiến tư tưởng của mình đạt tới trạng thái một niệm thay vạn niệm. Nhưng đó là một loại công phu, chứ không phải là một loại phương pháp. Nếu không tin chư vị thử niệm đi, bảo đảm là trên miệng đang niệm Phật hiệu, mà trong đầu nổi lên liên miên các thứ. Ngay từ đầu Lạt-ma giáo Tây Tạng niệm Phật hiệu là phải mỗi ngày niệm mấy trăm vạn lượt, niệm cả một tuần. Niệm đến đầu não mê mụ đi, cuối cùng trong đầu không còn gì nữa, một niệm đã thay cho vạn niệm rồi. Đó là một loại công phu, chư vị không nhất định làm nổi. Cũng có một số công pháp dạy phương pháp rằng chư vị đặt ý đan điền, đếm số hoặc mắt nhìn vật, v.v., trên thực tế những cái đó đều không thể khiến chư vị tĩnh xuống một cách tuyệt đối được đâu. Người luyện công cần phải có cái tâm thanh tĩnh, phải xả bỏ dần những lợi ích cá nhân, buông bỏ tâm tham muốn dục vọng đi.

實際上能不能靜下來、定下來,反映了一個人功夫的高低,層次的高低。一坐下就能靜下來,這是層次的體現。暫時靜不下來、做不到不要緊,你可以在修煉過程中慢慢去做到。心性是慢慢提高的,功是慢慢長的。不把個人的切身利益和慾望放淡,功是無法往上長的。

Thực tế thượng năng bất năng tĩnh hạ lai, định hạ lai, phản ánh liễu nhất cá nhân công phu đích cao đê, tầng thứ đích cao đê. Nhất toạ hạ tựu năng tĩnh hạ lai, giá thị tầng thứ đích thể hiện. Tạm thời tĩnh bất hạ lai, tố bất đáo bất yếu khẩn, nhĩ khả dĩ tại tu luyện quá trình trung mạn mạn khứ tố đáo. Tâm tính thị mạn mạn đề cao đích, công thị mạn mạn trưởng đích. Bất bả cá nhân đích thiết thân lợi ích hoà dục vọng phóng đạm, công thị vô pháp vãng thượng trưởng đích.

Trên thực tế có thể tĩnh lại hay không, định lại hay không, [ấy] là phản ánh một người có công phu cao hay thấp, tầng thứ cao hay thấp. Hễ ngồi toạ liền có thể tĩnh lại, đó là thể hiện của tầng thứ. Tạm thời không tĩnh lại được, làm không được thì cũng đừng sốt ruột, chư vị có thể dần dần làm được qua quá trình tu luyện. Tâm tính là dần dần đề cao, công là dần dần tăng trưởng. Nếu chẳng coi nhẹ hết thảy lợi ích và dục vọng cá nhân, thì công sẽ không cách nào tăng trưởng.

煉功人每時每刻都要高標準要求自己。社會上各種複雜的現象,許許多多低級、不健康的東西,七情六慾的東西,無時無刻不在干擾著煉功人。電視、電影、文藝作品中宣傳的東西,它是引導你去做常人中的強者,做更為現實的常人。你超脫不了這些東西,你與煉功人的心性、心境差距就越大,你所得到的功就越少。煉功人要少或不接觸那些低級的不健康的東西,應做到視而不見,聽而不聞,不為別人所動,不動心。我常說,常人的心是打動不了我的,誰說我一句好,我不會為之高興;誰罵我一句不好,我也不會為之生氣。人們之間和常人之間再嚴重的心性干擾對我不起作用。煉功人要把一切所得的利益看的淡淡的,甚麼都不放在心上,那時你的悟道之心才算是成熟的。沒有對名利的強求之心,把名利地位看作是無所謂的東西,你就不會煩惱,不生氣,永遠處在心理平衡狀態。甚麼都放的下,自然就會清靜。

Luyện công nhân mỗi thời mỗi khắc đô yếu cao tiêu chuẩn yêu cầu tự kỷ. Xã hội thượng các chủng phức tạp đích hiện tượng, hứa hứa đa đa đê cấp, bất kiện khang đích đông tây, thất tình lục dục đích đông tây, vô thời vô khắc bất tại can nhiễu trước luyện công nhân. Điện thị, điện ảnh, văn nghệ tác phẩm trung tuyên truyền đích đông tây, tha thị dẫn đạo nhĩ khứ tố thường nhân trung đích cường giả, tố cánh vi hiện thực đích thường nhân. Nhĩ siêu thoát bất liễu giá ta đông tây, nhĩ dữ luyện công nhân đích tâm tính, tâm cảnh sai cự tựu việt đại, nhĩ sở đắc đáo đích công tựu việt thiểu. Luyện công nhân yếu thiểu hoặc bất tiếp xúc na ta đê cấp đích bất kiện khang đích đông tây, ưng tố đáo thị nhi bất kiến, thính nhi bất vấn, bất vi biệt nhân sở động, bất động tâm. Ngã thường thuyết, thường nhân đích tâm thị đả động bất liễu ngã đích, thuỳ thuyết ngã nhất cú hảo, ngã bất hội vi chi cao hứng; thuỳ mạ ngã nhất cú bất hảo, ngã dã bất hội vi chi sinh khí. Nhân môn chi gian hoà thường nhân chi gian tái nghiêm trọng đích tâm tính can nhiễu đối ngã bất khởi tác dụng. Luyện công nhân yếu bả nhất thiết sở đắc đích lợi ích khán đích đạm đạm đích, thậm ma đô bất phóng tại tâm thượng, na thời nhĩ đích ngộ Đạo chi tâm tài toán thị thành thục đích. Một hữu đối danh lợi đích cưỡng cầu chi tâm, bả danh lợi địa vị khán tác thị vô sở vị đích đông tây, nhĩ tựu bất hội phiền não, bất sinh khí, vĩnh viễn xứ tại tâm lý bình hành trạng thái. Thậm ma đô phóng đích hạ, tự nhiên tựu hội thanh tĩnh.

Người luyện công mỗi thời mỗi khắc đều cần lấy tiêu chuẩn cao mà yêu cầu tự mình. Các loại hiện tượng phức tạp ở xã hội, rất nhiều thứ cấp thấp, không lành mạnh, những thứ thất tình lục dục, không lúc nào là không can nhiễu người tu luyện. Những thứ quảng bá trong truyền hình, điện ảnh, và các tác phẩm văn nghệ, chúng là dẫn dắt người ta làm ‘kẻ mạnh’ nơi người thường, làm người thường càng vì cái hiện thực này. Chư vị mà không siêu thoát khỏi những thứ ấy, thì chư vị càng ngày càng cách xa với tâm tính và tâm cảnh của người luyện công, công mà chư vị đắc ngày càng ít đi. Người, luyện công cần [giảm] thiểu hoặc không tiếp xúc với những thứ cấp thấp, không lành mạnh, nên làm được ‘thị nhi bất kiến’, ‘thính nhi bất văn’[4], không động [tâm] vì người khác, bất động tâm. Tôi thường nói, tâm của người thường không đả động được tôi, ai nói lời tốt về tôi, tôi sẽ không vì thế mà cao hứng; ai mạ [lỵ] tôi không tốt, tôi cũng sẽ không vì thế mà tức giận, can nhiễu tâm tính giữa người với nhau hoặc giữa những người thường thì dù nghiêm trọng đến đâu cũng không khởi tác dụng đối với tôi. Người luyện công cần coi thật nhẹ nhàng hết thảy những thứ lợi ích đắc được, không để gì trong tâm cả, bấy giờ cái tâm ngộ Đạo của chư vị mới được tính là trưởng thành chín chắn. Không có tâm cưỡng cầu về danh lợi, coi danh lợi địa vị như chẳng là gì đáng kể, [thì] chư vị không phiền não, không tức giận, vĩnh viễn ở trạng thái tâm lý bình ổn. Cái gì cũng buông bỏ hết, thì tự nhiên sẽ thanh tĩnh.

[4] thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn: nhìn mà [như] không nhìn thấy, nghe mà [như] không nghe thấy.

我把大法講給你們了,五套功法都教給你們了,給你們調理好了身體,給你們身上下了「法輪」、「氣機」,還有我的法身保護你們。該給你們的全給你們了。在辦班期間是看我的,今後就看你們的了,師父領進門,修行在個人。只要你們參透大法,精心體悟,時時守住心性,勤於實修,能吃苦中之苦,能忍難忍之事,我想你一定會修煉成功的。

Ngã bả Đại Pháp giảng cấp nhĩ môn liễu, ngũ sáo công pháp đô giáo cấp nhĩ môn liễu, cấp nhĩ môn điều lý hảo liễu thân thể, cấp nhĩ môn thân thượng hạ liễu “Pháp Luân”, “khí cơ”, hài hữu ngã đích Pháp thân bảo hộ nhĩ môn. Cai cấp nhĩ môn đích toàn cấp nhĩ môn liễu. Tại biện ban kỳ gian thị khán ngã đích, kim hậu tựu khán nhĩ môn đích liễu, Sư phụ lĩnh tiến môn, tu hành tại cá nhân. Chỉ yếu nhĩ môn tham thấu Đại Pháp, tinh tâm thể ngộ, thời thời thủ trụ tâm tính, cần ư thực tu, năng ngật khổ trung chi khổ, năng nhẫn nan nhẫn chi sự, ngã tưởng nhĩ nhất định hội tu luyện thành công đích.

Tôi đã giảng Đại Pháp cho chư vị rồi, năm bài công pháp đều dạy cho chư vị rồi, điều chỉnh tốt thân thể cho chư vị rồi, cài lên thân cho chư vị “Pháp Luân” và “khí cơ”, còn có Pháp thân của tôi bảo hộ chư vị. Những gì cần cấp cho chư vị thì đều cấp cho chư vị rồi. Trong thời gian của lớp học thì trông vào tôi, từ nay về sau là trông vào [bản thân] chư vị. ‘Sư phụ lĩnh tiến môn, tu hành tại cá nhân’[5]. Chừng nào chư vị còn học thấu Đại Pháp, tinh tâm thể ngộ, mọi lúc đều giữ tâm tính vững vàng, cần cù thực tu, có thể chịu đựng khổ trong khổ, có thể nhẫn cả những việc khó nhẫn, [thì] tôi nghĩ rằng chư vị nhất định sẽ tu luyện thành công.

[5] Sư phụ lĩnh tiến môn, tu hành tại cá nhân: Sư phụ dẫn vào cửa, tu hành ở tự cá nhân bản thân mình.

功修有路心為徑
大法無邊苦作舟

Công tu hữu lộ tâm vi kính
Đại Pháp vô biên khổ tác chu

Công tu hữu lộ tâm vi kính
Đại Pháp vô biên khổ tác chu[6]

[6] Tạm dịch: Tu luyện có đường tâm là tắt, Đại Pháp vô biên khổ làm thuyền.


 

Chương IV • Các bài công pháp Pháp Luân Công

第四章 • 法輪功功法

Đệ tứ chương • Pháp Luân Công công pháp

Chương IV • Các bài công pháp Pháp Luân Công

法輪功是一種佛家修煉的特殊方法,有其不同於一般佛家修煉方法的獨到之處。因為本功法是上乘修煉大法,過去要求有極高心性者或大根器之人所學的特殊的強化修煉法,所以難於普及。但為了使更多的煉功之人得到提高,了解本法門,同時又滿足廣大有志於修煉者的要求,所以將本功法整理出一套適合普及的修煉方法傳出。即使這樣,他也已經大大超出一般功法所學的東西與層次了。

Pháp Luân Công thị nhất chủng Phật gia tu luyện đích đặc thù phương pháp, hữu kỳ bất đồng ư nhất ban Phật gia tu luyện phương pháp đích độc đáo chi xứ. Nhân vi bản công pháp thị thượng thừa tu luyện đại pháp, quá khứ yêu cầu hữu cực cao tâm tính giả hoặc đại căn khí chi nhân sở học đích đặc thù đích cường hoá tu luyện pháp, sở dĩ nan ư phổ cập. Đãn vi liễu sử cánh đa đích luyện công chi nhân đắc đáo đề cao, liễu giải bản pháp môn, đồng thời hựu mãn túc quảng đại hữu chí ư tu luyện giả đích yêu cầu, sở dĩ tương bản công pháp chỉnh lý xuất nhất sáo thích hợp phổ cập đích tu luyện phương pháp truyền xuất. Tức sử giá dạng, Tha dã dĩ kinh đại đại siêu xuất nhất ban công pháp sở học đích đông tây dữ tầng thứ liễu.

Pháp Luân Công là một phương pháp đặc thù của tu luyện Phật gia, có những chỗ độc đáo riêng của mình khác với các phương pháp tu luyện Phật gia thông thường. Là vì công pháp này là đại pháp tu luyện thượng thừa, quá khứ [là] pháp tu luyện cường hoá đặc thù mà yêu cầu cái học của người có tâm tính cực cao hoặc người đại căn cơ, do đó khó mà phổ cập. Nhưng để khiến nhiều người luyện công hơn nữa được đề cao, hiểu rõ được pháp môn này, đồng thời cũng thoả mãn yêu cầu của đông đảo người có chí tu luyện, nên [tôi] lấy công pháp này chỉnh lý thành một bộ phương pháp tu luyện thích hợp cho phổ cập để truyền ra. Ngay cả là như vậy, Nó cũng vượt rất rất xa về những điều sở học và tầng thứ so với các công pháp thông thường.

修煉法輪功者不但可以快速增長功力和功能,而且會在很短的時間裏煉出威力無比的法輪來。法輪形成以後,平時在小腹處自動旋轉不停,不斷的從宇宙中採集、演化能量,最後在修煉者本體中轉化為功,從而達到法煉人的目地。

Tu luyện Pháp Luân Công giả bất đãn khả dĩ khoái tốc tăng trưởng công lực hoà công năng, nhi thả hội tại ngận đoản đích thời gian lý luyện xuất uy lực vô tỷ đích Pháp Luân lai. Pháp Luân hình thành dĩ hậu, bình thời tại tiểu phúc xứ tự động toàn chuyển bất đình, bất đoạn đích tùng vũ trụ trung thái tập, diễn hoá năng lượng, tối hậu tại tu luyện giả bản thể trung chuyển hoá vi công, tùng nhi đạt đáo Pháp luyện nhân đích mục địa.

Người tu luyện Pháp Luân Công không chỉ có thể nhanh chóng tăng trưởng công lực và công năng, mà còn sẽ trong một thời gian rất ngắn mà luyện xuất ra một Pháp Luân uy lực không gì sánh được. Sau khi Pháp Luân hình thành rồi, lúc bình thường sẽ tự động xoay chuyển không ngừng ở chỗ bụng dưới, không ngừng thâu thập và diễn hoá năng lượng từ vũ trụ, cuối cùng chuyển hoá thành ‘công’ ở trong bản thể của người tu luyện, từ đó đạt được mục đích ‘Pháp luyện người’.

本功法由五套動作組成,即:佛展千手法、法輪樁法、貫通兩極法、法輪周天法和神通加持法。

Bản công pháp do ngũ sáo động tác tổ thành, tức: Phật Triển Thiên Thủ pháp, Pháp Luân Trang pháp, Quán Thông Lưỡng Cực pháp, Pháp Luân Chu Thiên pháp hoà Thần Thông Gia Trì pháp.

Bộ công pháp này do năm bài động tác hợp thành, đó là: Phật Triển Thiên Thủ pháp, Pháp Luân Trang pháp, Quán Thông Lưỡng Cực pháp, Pháp Luân Chu Thiên pháp, và Thần Thông Gia Trì pháp.

一、佛展千手法

Nhất. Phật Triển Thiên Thủ pháp

I. Phật Triển Thiên Thủ pháp

功理:「佛展千手法」核心就是疏展,使百脈皆通。對於初學氣功者來說,通過煉功後可迅速得氣;對於煉功有素者來說可迅速得到提高。這套功法一上來就要求百脈皆通,使煉功者站在一個很高的層次在煉了。本功法動作比較簡單,因為大道至簡至易,動作雖簡單,卻在宏觀上控制著整個功法所要煉出的東西。學煉此功時,會感到身體發熱,能量場很強的特殊感受,原因是展開和疏通全身所有氣之通道所致。其目地是打通氣塞的地方,暢通無阻,調動體內和皮下之氣強烈運動,大量吸收宇宙中的能量,同時可使煉功者很快進入氣功能量場的狀態之中。本功法作為法輪功的基礎功法來煉,每當煉功時一般先修煉此功法,是一種強化修煉方法之一。

Công lý: “Phật Triển Thiên Thủ pháp” hạch tâm tựu thị sơ triển, sử bách mạch giai thông. Đối ư sơ học khí công giả lai thuyết, thông quá luyện công hậu khả tấn tốc đắc khí; đối ư luyện công hữu tố giả lai thuyết khả tấn tốc đắc đáo đề cao. Giá sáo công pháp nhất thượng lai tựu yêu cầu bách mạch giai thông, sử luyện công giả trạm tại nhất cá ngận cao đích tầng thứ tại luyện liễu. Bản công pháp động tác tỷ giảo giản đơn, nhân vi Đại Đạo chí giản chí dị, động tác tuy giản đơn, khước tại hoành quan thượng khống chế trước chỉnh cá công pháp sở yếu luyện xuất đích đông tây. Học luyện thử công thời, hội cảm đáo thân thể phát nhiệt, năng lượng trường ngận cường đích đặc thù cảm thụ, nguyên nhân thị triển khai hoà sơ thông toàn thân sở hữu khí chi thông đạo sở trí. Kỳ mục địa thị đả thông khí tắc đích địa phương, sướng thông vô trở, điều động thể nội hoà bì hạ chi khí cường liệt vận động, đại lượng hấp thu vũ trụ trung đích năng lượng, đồng thời khả sử luyện công giả ngận khoái tiến nhập khí công năng lượng trường đích trạng thái chi trung. Bản công pháp tác vi Pháp Luân Công đích cơ sở công pháp lai luyện, mỗi đương luyện công thời nhất ban tiên tu luyện thử công pháp, thị nhất chủng cường hoá tu luyện phương pháp chi nhất.

Công lý: Cốt lõi của “Phật Triển Thiên Thủ pháp” là duỗi ra, khiến tất cả các mạch đều thông. Đối với người mới học khí công mà nói, có thể rất nhanh chóng đắc khí thông qua luyện công; đối với người có kinh nghiệm luyện công mà nói thì có thể nhanh chóng đạt được đề cao. Bài công pháp này ngay từ đầu yêu cầu ‘bách mạch giai thông’, để người luyện công luyện ở một tầng thứ rất cao. Động tác của công pháp này khá đơn giản, là vì Đại Đạo là chí giản chí dị, động tác tuy đơn giản, nhưng là ở hoành quan mà khống chế chỉnh thể những thứ mà công pháp cần luyện ra. Khi học và luyện công này, sẽ cảm thấy thân thể nóng lên, cảm thụ đặc thù của trường năng lượng rất mạnh, nguyên nhân là triển khai và khai thông toàn bộ thông đạo khí toàn thân mà thành như thế. Mục đích của nó là đả thông những chỗ khí bị tắc, [trở nên] thông suốt không trở ngại, điều động làm cho khí ở trong thân thể và ở dưới da vận động mạnh mẽ, hấp thu một lượng lớn năng lượng vũ trụ, đồng thời có thể khiến người luyện công rất nhanh tiến nhập vào trạng thái ở trong trường năng lượng. Bài công pháp này được luyện như bài công pháp cơ sở của Pháp Luân Công, mỗi khi luyện công thì thông thường tu luyện bài công pháp này trước, [đây] là một trong những phương pháp cường hoá tu luyện.

訣:

Quyết:

Quyết[1]:

身神合一,動靜隨機;
頂天獨尊,千手佛立。

Thân thần hợp nhất, động tĩnh tuỳ cơ
Đỉnh thiên độc tôn, thiên thủ Phật lập.

Shēnshén héyī, dòngjìng suíjī;
Dǐngtiān dúzūn, qiānshǒu Fó lì.

[1] quyết: trong sách này tạm hiểu là bài khẩu quyết, nhẩm đọc (mặc niệm) một lần trước mỗi bài công pháp. Chú ý: do đặc điểm của khẩu quyết cũng như các câu chú khác, học viên cần nghe trực tiếp tiếng Hán và phát âm tiếng Hán cũng như lặp theo phát âm Hán (có trong băng tiếng nhạc nền bài tập).


Hình 1.1

預備勢——全身放鬆,鬆而不懈,雙腳與肩同寬,自然站立,兩腿稍微彎曲,膝胯兩處成滑溜狀態;下頦微收,舌抵上顎,牙齒微微離縫,嘴唇閉上,雙目微閉,面帶祥和之意。在煉功中會感到自己很高大。

Dự bị thế——Toàn thân phóng túng, tông nhi bất giải, song cước dữ kiên đồng khoan, tự nhiên trạm lập, lưỡng thối sảo vi loan khúc, tất khố lưỡng xứ thành hoạt lưu trạng thái; hạ hài vi thu, thiệt để thượng ngạc, nha xỉ vi vi ly phùng, chuỷ thần bế thượng, song mục vi bế, diện đới tường hoà chi ý. Tại luyện công trung hội cảm đáo tự kỷ ngận cao đại.

Thế dự bị: Toàn thân thả lỏng, lỏng nhưng không oải, hai chân giang rộng bằng vai, đứng thẳng tự nhiên, hai chân hơi cong một chút, đầu gối và háng trạng thái lỏng tự nhiên; hàm dưới hơi thu, lưỡi chạm hàm trên, hàm răng hơi hở một tí, môi miệng khép lại, hai mắt hơi nhắm, nét mặt mang ý an hoà. Khi luyện công sẽ cảm thấy bản thân rất là cao lớn.

兩手結印——雙手抬起,手心向上。兩大拇指指尖輕輕接觸,其餘各四指合攏並重疊,男左手在上,女右手在上,構成似橢圓形狀,置於小腹處。兩大臂微向前,兩肘架起來,使腋窩空開,(如圖一之一)。

Lưỡng thủ kết ấn——Song thủ đài khởi, thủ tâm hướng thượng. Lưỡng đại mẫu chỉ chỉ tiêm khinh khinh tiếp xúc, kỳ dư các tứ chỉ hợp long tịnh trùng điệp, nam tả thủ tại thượng, nữ hữu thủ tại thượng, cấu thành tự thoả viên hình trạng, trí ư tiểu phúc xứ. Lưỡng đại tý vi hướng tiền, lưỡng trửu giá khởi lai, sử dịch oa không khai, (như đồ nhất chi nhất).

Hai tay kết ấn: Nâng hai tay lên, lòng tay ngửa ra. Hai đầu ngón tay cái nhẹ nhàng nối tiếp nhau, từng bộ bốn ngón tay khác xếp chồng lên nhau, nam tay trái ở trên, nữ tay phải ở trên, tạo thành tựa như hình bầu dục, đặt ở chỗ bụng dưới. Hai bắp tay hơi hướng phía trước, hai cùi chỏ chếch lên, khiến chỗ nách có khoảng không, (như hình 1.1).

     
Hình 1.2 và hình 1.3

彌勒伸腰——以結印起勢,以手印勢抬起,隨著手的抬高,兩腿逐漸伸直,當手抬到頭前時,結印鬆開,並逐漸向上轉掌,到達頭頂時,手心向上,十指相對,指尖相距二十至二十五釐米,(如圖一之二)。與此同時,頭向上頂,雙腳下踩,身體挺直,兩手掌根用力上舉,全身逐漸抻直,約抻二至三秒鐘,全身立即放鬆。特別膝胯兩處要恢復成滑溜狀態。

Di Lặc thân yêu——Dĩ kết ấn khởi thế, dĩ thủ ấn thế đài khởi, tuỳ trước thủ đích đài cao, lưỡng thối trục tiệm thân trực, đương thủ đài đáo đầu tiền thời, kết ấn tùng khai, tịnh trục tiệm hướng thượng chuyển chưởng, đáo đạt đầu đỉnh thời, thủ tâm hướng thượng, thập chỉ tương đối, chỉ tiêm tương cự nhị thập chí nhị thập ngũ ly mễ, (như đồ nhất chi nhị). Dữ thử đồng thời, đầu hướng thượng đỉnh, song cước hạ thải, thân thể đĩnh trực, lưỡng thủ chưởng căn dụng lực thượng cử, toàn thân trục tiệm thân trực, ước thân nhị chí tam miểu chung, toàn thân lập tức phóng túng. Đặc biệt tất khố lưỡng xứ yếu khôi phục thành hoạt lưu trạng thái.

Di Lặc duỗi lưng: Từ thế ‘kết ấn’, khi giữ thủ ấn đưa lên, thuận theo bàn tay đưa lên, hai chân dần dần duỗi thẳng, khi bàn tay lên tới chỗ trước mặt, tháo kết ấn ra, vẫn dần dần xoay lòng bàn tay hướng lên, khi tới vị trí phía trên đầu, lòng tay hướng lên, 10 ngón chỉ vào nhau, khoảng cách giữa các ngón tay khoảng 20~25cm (như hình 1.2). Đồng thời lúc ấy, dựng đầu thẳng lên, hai chân dẫm xuống, thân thể căng thẳng, đặt lực vào hai gốc bàn tay để đẩy lên, toàn thân dần dần kéo căng thẳng, ước chừng khoảng 2~3 giây đồng hồ, sau đó toàn thân lập tức buông chùng. Đặc biệt là chỗ đầu gối và háng khôi phục lại trạng thái thả lỏng tự nhiên.

如來灌頂——接上式做,兩手同時向外轉掌一百四十度以手成「漏斗狀」,伸腕落掌,(如圖一之三)。雙掌下落對著胸部,手距胸部約十釐米的距離,繼續向小腹處運動,(如圖一之四)。

Như Lai quán đỉnh——Tiếp thượng thức tố, lưỡng thủ đồng thời hướng ngoại chuyển chưởng nhất bách tứ thập độ dĩ thủ thành “lậu đấu trạng”, thân oản lạc chưởng, (như đồ nhất chi tam). Song chưởng hạ lạc đối trước hung bộ, thủ cự hung bộ ước thập ly mễ đích cự ly, kế tục hướng tiểu phúc xứ vận động, (như đồ nhất chi tứ).

Như Lai quán đỉnh: Tiếp theo thế trước, đồng thời xoay hai bàn tay ra ngoài cổ tay tạo góc 140° “hình cái phễu”, duỗi cổ tay và đưa bàn tay xuống, (như hình 1.3). Khi hai tay xuống xoay vào trước ngực, lòng bàn tay cách ngực khoảng 10cm, và tiếp tục chuyển động tới chỗ bụng dưới (như hình 1.4).

     
Hình 1.4 và hình 1.5

雙手合十——手到小腹後,緊接著提起兩手到胸前「合十」(如圖一之五)。「合十」時,手指與手指,掌根與掌根緊貼,手心空開,兩肘架起來,兩小臂成一直線。(兩手除「合十」、「結印」外,均為「蓮花掌」,下同。)

Song thủ hợp thập——Thủ đáo tiểu phúc hậu, khẩn tiếp trước đề khởi lưỡng thủ đáo hung tiền “hợp thập” (như đồ nhất chi ngũ). “hợp thập” thời, thủ chỉ dữ thủ chỉ, chưởng căn dữ chưởng căn khẩn thiếp, thủ tâm không khai, lưỡng trửu giá khởi lai, lưỡng tiểu tý thành nhất trực tuyến. (lưỡng thủ trừ “hợp thập”, “kết ấn” ngoại, quân vi “liên hoa chưởng”, hạ đồng.)

Hai tay hợp thập[2]: Bàn tay ở chỗ bụng dưới rồi, lập tức đưa lên và hai tay “hợp thập” trước ngực (như hình 1.5). Khi “hợp thập”, khép chặt giữa các ngón tay với nhau và giữa hai gốc lòng bàn tay với nhau, [còn] trung tâm lòng bàn tay là có khoảng không, cùi chỏ chếch ra, hai cẳng tay tạo thành hình chữ nhất[3]. (Ngoài lúc hai tay ở thế “hợp thập” và “kết ấn” ra, thì đều là tay “liên hoa chưởng”[4], phía dưới đây cũng như thế).

[2] song thủ hợp thập: hai tay làm thế “hợp thập”.

[3] tạo thành hình chữ nhất: hiểu là lập thành đường thẳng.

[4] liên hoa chưởng: bàn tay sen, bàn tay mở tự nhiên với các ngón tay thẳng, thả lỏng và không chạm nhau, ngón giữa để thẳng và hơi nhíu vào phía trong lòng bàn tay; “liên hoa chưởng” là được duy trì trong suốt các bài công pháp, trừ lúc hai tay chạm nhau như “kết ấn” hoặc “hợp thập” (theo chú thích của bản dịch tiếng Anh).

     
Hình 1.6 và hình 1.7

掌指乾坤——由「合十」起勢。兩掌鬆開,其間隔約二至三釐米,同時開始轉掌,男左手(女右手)向胸部轉,右手向胸外轉,形成左手在上,右手在下與小臂成「一」字形狀,(如圖一之六)。接著,左小臂向左斜上方展開,掌心向下,手的高度與頭部等高即可;右手仍在胸前,掌心向上。隨著左手逐漸到位,全身逐漸抻直,頭向上頂,腳向下踩。左手向左斜上方抻直,右手在胸前,隨大臂向外抻,(如圖一之七)。約抻二至三秒鐘,全身立即放鬆。左手再恢復到胸前與右手成「合十」狀態。然後再轉掌,右手(女左)在上,左手在下(如圖一之八)展開。右手重複左手動作,即右小臂向右斜上方展開,掌心向下,手的高度與頭部等高即可;左手仍在胸前,掌心向上。抻後(如圖一之九)全身立即放鬆。手收回後,在胸前「合十」(如圖一之五)。

Chưởng chỉ càn khôn——Do “hợp thập” khởi thế. Lưỡng chưởng tùng khai, kỳ gián cách ước nhị chí tam ly mễ, đồng thời khai thuỷ chuyển chưởng, nam tả thủ (nữ hữu thủ) hướng hung bộ chuyển, hữu thủ hướng hung ngoại chuyển, hình thành tả thủ tại thượng, hữu thủ tại hạ dữ tiểu tý thành “nhất” tự hình trạng, (như đồ nhất chi lục). Tiếp trước, tả tiểu tý hướng tả tà thượng phương triển khai, chưởng tâm hướng hạ, thủ đích cao độ dữ đầu bộ đẳng cao tức khả; hữu thủ nhưng tại hung tiền, chưởng tâm hướng thượng. Tuỳ trước tả thủ trục tiệm đáo vị, toàn thân trục tiệm thân trực, đầu hướng thượng đỉnh, cước hướng hạ thải. Tả thủ hướng tả tà thượng phương thân trực, hữu thủ tại hung tiền, tuỳ đại tý hướng ngoại thân, (như đồ nhất chi thất). Ước thân nhị chí tam miểu chung, toàn thân lập tức phóng túng. Tả thủ tái khôi phúc đáo hung tiền dữ hữu thủ thành “hợp thập” trạng thái. Nhiên hậu tái chuyển chưởng, hữu thủ (nữ tả) tại thượng, tả thủ tại hạ (như đồ nhất chi bát) triển khai. Hữu thủ trùng phục tả thủ động tác, tức hữu tiểu tý hướng hữu tà thượng phương triển khai, chưởng tâm hướng hạ, thủ đích cao độ dữ đầu bộ đẳng cao tức khả; tả thủ nhưng tại hung tiền, chưởng tâm hướng thượng. Thân hậu (như đồ nhất chi cửu) toàn thân lập tức phóng túng. Thủ thu hồi hậu, tại hung tiền “hợp thập” (như đồ nhất chi ngũ).

Chưởng chỉ càn khôn[5]: Bắt đầu từ thế “hợp thập”. Hai bàn tay tách ra, cách nhau chừng 2~3cm, đồng thời bắt đầu xoay bàn tay, nam tay trái (nữ tay phải) xoay hướng vào ngực, tay phải hướng ra ngoài ngực, hình thành tay trái ở trên, tay phải ở dưới và cẳng tay giống hình chữ “nhất” (nữ thì trái phải ngược lại), (như hình 1.6) Tiếp theo, cẳng tay trái duỗi thẳng chếch lên bên trái, bàn tay úp xuống, độ cao bàn tay ngang với đầu thì dừng; tay phải đặt chỗ trước ngực, bàn tay ngửa lên. Thuận theo khi tay trái dần dần tới vị trí, thì toàn thân cũng dần dần căng thẳng, đầu dựng lên, chân dẫm xuống. Tay trái duỗi thẳng phía chếch bên trái, tay phải ở trước ngực, bắp tay thẳng hướng phía ngoài (như hình 1.7). Duỗi khoảng 2~3 giây đồng hồ, rồi toàn thân lập tức buông chùng, tay trái lại thu về chỗ trước ngực và cùng với tay phải thành trạng thái “hợp thập”. Sau đó lại xoay bàn tay, triển khai tay phải (nữ tay trái) ở trên, tay trái ở dưới (như hình 1.8). Tay phải lặp lại động tác vừa rồi của tay trái, tức là cẳng tay duỗi chếch sang bên phải, bàn tay úp xuống, bàn tay có độ cao ngang đầu; tay trái vẫn ở chỗ trước ngực, bàn tay ngửa lên. Sau khi duỗi căng xong (như hình 1.9) toàn thân lập tức buông chùng. Thu tay về sau đó hai tay “hợp thập” trước ngực (như hình 1.5)

[5] chưởng chỉ càn khôn: bàn tay chỉ càn khôn, tay chỉ trời tay chỉ đất (diễn nghĩa bề mặt chữ).

     
Hình 1.8 và hình 1.9

金猴分身——由「合十」起勢。兩手由胸前拉開向兩側伸展,與肩成「一」字形狀,全身逐漸抻直,頭往上頂,腳往下踩,兩手往兩邊用力,四面分掙力(如圖一之十),約抻二至三秒鐘,全身立即放鬆,兩手恢復到胸前「合十」。

Kim hầu phân thân——Do “hợp thập” khởi thế. Lưỡng thủ do hung tiền lạp khai hướng lưỡng trắc thân triển, dữ kiên thành “nhất” tự hình trạng, toàn thân trục tiệm thân trực, đầu vãng thượng đỉnh, cước vãng hạ thải, lưỡng thủ vãng lưỡng biên dụng lực, tứ diện phân tránh lực (như đồ nhất chi thập), ước thân nhị chí tam miểu chung, toàn thân lập tức phóng túng, lưỡng thủ khôi phục đáo hung tiền “hợp thập”.

Kim hầu phân thân[6]: Bắt đầu từ thế “hợp thập”. Hai tay từ vị trí trước ngực tách khỏi nhau và duỗi sang hai bên, cùng với vai tạo thành hình chữ “nhất”, toàn thân dần dần căng thẳng, đầu dựng lên, chân đạp xuống, hai tay dùng lực căng sang hai bên, lực kéo ra bốn phía (như hình 1.10), kéo căng khoảng 2~3 giây đồng hồ, rồi toàn thân lập tức buông chùng, hai tay trở về “hợp thập” trước ngực.

[6] Kim hầu phân thân: khỉ vàng phân [tách] thân [thể].

     
Hình 1.10 và hình 1.11

雙龍下海——由「合十」起勢,兩手一邊分開,一邊向前下方伸展。當兩臂分開平行、伸直時,與大腿之間的夾角約為三十度(如圖一之十一)。全身逐漸抻直,頭向上頂,腳向下踩,約抻二至三秒鐘,全身立即放鬆,手收回後,在胸前「合十」。

Song long hạ hải——Do “hợp thập” khởi thế, lưỡng thủ nhất biên phân khai, nhất biên hướng tiền hạ phương thân triển. Đương lưỡng tý phân khai bình hành, thân trực thời, dữ đại thối chi gian đích giáp giác ước vi tam thập độ (như đồ nhất chi thập nhất). Toàn thân trục tiệm thân trực, đầu hướng thượng đỉnh, cước hướng hạ thải, ước thân nhị chí tam miểu chung, toàn thân lập tức phóng túng, thủ thu hồi hậu, tại hung tiền “hợp thập”.

Song long hạ hải[7]: Bắt đầu từ thế “hợp thập”, hai tay vừa tách nhau ra, vừa duỗi ra phía trước. Khi hai tay tách ra để song song và duỗi thẳng, thì tạo một góc khoảng 30° so với bắp chân (như hình 1.11). Toàn thân dần dần kéo thẳng, đầu dựng lên, chân đạp xuống, kéo căng khoảng 2~3 giây đồng hồ, sau đó toàn thân lập tức buông lỏng, thu tay trở về, và “hợp thập” trước ngực.

[7] song long hạ hải: hai rồng xuống biển.

菩薩扶蓮——由「合十」起勢。兩手一邊分開,一邊向身體兩側斜下方伸展。手到體側時,兩臂伸直,與大腿間的夾角成三十度左右,(如圖一之十二)。此時,全身逐漸抻直,手指尖向下用力,然後,全身立即放鬆,兩手恢復到胸前「合十」。

Bồ Tát phù liên——Do “hợp thập” khởi thế. Lưỡng thủ nhất biên phân khai, nhất biên hướng thân thể lưỡng trắc tà hạ phương thân triển. Thủ đáo thể trắc thời, lưỡng tý thân trực, dữ đại thối gian đích giáp giác thành tam thập độ tả hữu, (như đồ nhất chi thập nhị). Thử thời, toàn thân trục tiệm thân trực, thủ chỉ tiêm hướng hạ dụng lực, nhiên hậu, toàn thân lập tức phóng túng, lưỡng thủ khôi phục đáo hung tiền “hợp thập”.

Bồ Tát phù liên[8]: Bắt đầu từ thế “hợp thập”. Hai tay vừa tách nhau ra, vừa duỗi chếch sang hai bên thân. Khi tay tới tư thế chếch chếch, thì hai tay duỗi thẳng, lập thành góc khoảng 30° so với bắp chân (như hình 1.12). Bấy giờ, toàn thân dần dần căng thẳng, các ngón tay dùng lực kéo xuống, sau đó, toàn thân lập tức buông lỏng, hai tay trở về “hợp thập” trước ngực.

[8] Bồ Tát phù liên: Bồ Tát vịn hoa sen.

     
Hình 1.12 và hình 1.13

羅漢背山——由「合十」起勢。兩手一邊分開,一邊向體後伸展,同時兩掌心轉向後方。當兩手到體側時,兩手腕逐漸鉤起;手過體後,手腕成四十五度角(如圖一之十三)。全身逐漸抻直,手到位後,頭向上頂,腳往下踩,身體正直,約抻二至三秒鐘,全身立即放鬆。再收回兩手,恢復到胸前「合十」。

La Hán bối sơn——Do “hợp thập” khởi thế. Lưỡng thủ nhất biên phân khai, nhất biên hướng thể hậu thân triển, đồng thời lưỡng chưởng tâm chuyển hướng hậu phương. Đương lưỡng thủ đáo thể trắc thời, lưỡng thủ oản trục tiệm câu khởi; thủ quá thể hậu, thủ oản thành tứ thập ngũ độ giác (như đồ nhất chi thập tam). Toàn thân trục tiệm thân trực, thủ đáo vị hậu, đầu hướng thượng đỉnh, cước vãng hạ thải, thân thể chính trực, ước thân nhị chí tam miểu chung, toàn thân lập tức phóng túng. Tái thu hồi lưỡng thủ, khôi phục đáo hung tiền “hợp thập”.

La Hán bối sơn[9]: Bắt đầu từ thế “hợp thập”. Hai tay vừa tách nhau ra, vừa duỗi về phía sau thân, đồng thời hai lòng bàn tay hướng về phía sau. Khi hai tay tới chỗ hai bên thân, thì dần dần cong hai cổ tay lên; khi tay tới tư thế, thì cổ tay làm thành [so với thân] một góc 45° (như hình 1.13). Toàn thân dần dần duỗi thẳng, khi tay tới vị trí, thì đầu dựng lên, chân dẫm xuống, thân thể thẳng lên, trong khoảng 2~3 giây đồng hồ, rồi toàn thân lập tức buông chùng. Hai tay thu trở về, khôi phục thế “hợp thập” trước ngực.

[9] La Hán bối sơn: La Hán vác núi.

          
Hình 1.14, hình 1.15, và hình 1.16

金剛排山——由「合十」起勢。兩手一邊分開,一邊向前方以立掌推出,指尖向上,臂與肩同高。當臂伸直後,用力一抻,頭往上頂,腳往下踩,身體挺直(如圖一之十四)。約抻二至三秒鐘,全身立即放鬆,兩手恢復到胸前「合十」。

Kim Cương bài sơn——Do “hợp thập” khởi thế. Lưỡng thủ nhất biên phân khai, nhất biên hướng tiền phương dĩ lập chưởng suy xuất, chỉ tiêm hướng thượng, tý dữ kiên đồng cao. Đương tý thân trực hậu, dụng lực nhất thân, đầu vãng thượng đỉnh, cước vãng hạ thải, thân thể đĩnh trực (như đồ nhất chi thập tứ). Ước thân nhị chí tam miểu chung, toàn thân lập tức phóng túng, lưỡng thủ khôi phục đáo hung tiền “hợp thập”.

Kim Cương bài sơn[10]: Bắt đầu từ thế “hợp thập”. Hai tay vừa tách nhau ra, vừa đẩy bàn tay dựng lên ra phía trước, ngón chỉ lên trên, cánh tay cao ngang bằng vai. Khi tay duỗi thẳng, thì dùng lực căng ra, đầu dựng lên, chân dẫm xuống, thân thể căng thẳng (như hình 1.14). Khoảng chừng 2~3 giây đồng hồ, toàn thân lập tức buông chùng, hai tay trở về “hợp thập” trước ngực.

[10] Kim Cương bài sơn: Kim Cương đẩy núi.

疊扣小腹——由「合十」起勢。兩手緩緩下落,並將掌心轉向腹部,當手到小腹處時,兩手重疊,男左手在裏,女右手在裏,手心對手背。手與手、手與小腹之間約有三釐米的距離,疊扣時間一般四十至一百秒(如圖一之十五)。

Điệp khấu tiểu phúc——Do “hợp thập” khởi thế. Lưỡng thủ hoãn hoãn hạ lạc, tịnh tương chưởng tâm chuyển hướng phúc bộ, đương thủ đáo tiểu phúc xứ thời, lưỡng thủ trùng điệp, nam tả thủ tại lý, nữ hữu thủ tại lý, thủ tâm đối thủ bối. Thủ dữ thủ, thủ dữ tiểu phúc chi gian ước hữu tam ly mễ đích cự ly, điệp khấu thời gian nhất ban tứ thập chí nhất bách miểu (như đồ nhất chi thập ngũ).

Điệp khấu tiểu phúc[11]: Bắt đầu từ thế “hợp thập”. Hai tay chầm chậm đưa xuống, lòng bàn tay hướng vào chỗ bụng dưới, khi bàn tay tới chỗ bụng dưới thì hai tay xếp chồng, nam tay trái ở trong, nữ tay phải ở trong, tâm của lòng bàn tay thẳng với nhau. Giữa các bàn tay và giữa bàn tay và bụng dưới có một khoảng cách khoảng 3cm, thời gian ‘điệp khấu’ xếp chồng này thông thường cỡ 40~100 giây đồng hồ (như hình 1.15).

[11] Điệp khấu tiểu phúc: [hai tay] xếp trùng điệp ở chỗ bụng dưới.

收勢——兩手結印(如圖一之十六)。

Thu thế——Lưỡng thủ kết ấn (như đồ nhất chi thập lục).

Thu thế: Hai tay kết ấn (như hình 1.16).

二、法輪樁法

Nhị. Pháp Luân Trang pháp

II. Pháp Luân Trang pháp

功理:本功法是法輪功的第二套功法,屬於靜樁法。由四個抱輪動作組成,動作比較單調,而且每一個動作又要求煉很長時間。初學站樁的人,開始煉功時兩臂會很沉、很酸,但煉後馬上會感到身體輕鬆,沒有幹活後的疲勞感覺。隨著時間的加長,煉功次數的增加,在雙臂間會出現「法輪」在旋轉。常煉法輪樁法可使全身全部灌通,增加功力。「法輪樁法」屬於增慧、提高層次、加持神通的全修方法,功雖簡單,但所煉的東西是很多、很全面的。本功法動作要自然,自己知道在煉功,不要晃動,有小動是正常的。本功法和法輪功的其它功法一樣,煉完後不收功,因為法輪是常轉不能收停的,煉功每個動作的時間要求因人而異,越長越好。

Công lý: Bản công pháp thị Pháp Luân Công đích đệ nhị sáo công pháp, thuộc ư tĩnh trang pháp. Do tứ cá bão luân động tác tổ thành, động tác tỷ giảo đơn điệu, nhi thả mỗi nhất cá động tác hựu yêu cầu luyện ngận trường thời gian. Sơ học trạm trang đích nhân, khai thuỷ luyện công thời lưỡng tý hội ngận trầm, ngận toan, đãn luyện hậu mã thượng hội cảm đáo thân thể khinh tông, một hữu cán hoạt hậu đích bì lao cảm giác. Tuỳ trước thời gian đích gia trường, luyện công thứ sổ đích tăng gia, tại song tý gian hội xuất hiện “Pháp Luân” tại toàn chuyển. Thường luyện Pháp Luân trang pháp khả sử toàn thân toàn bộ quán thông, tăng gia công lực. “Pháp Luân Trang pháp” thuộc ư tăng huệ, đề cao tầng thứ, gia trì thần thông đích toàn tu phương pháp, công tuy giản đơn, đãn sở luyện đích đông tây thị ngận đa, ngận toàn diện đích. Bản công pháp động tác yếu tự nhiên, tự kỷ tri đạo tại luyện công, bất yếu hoảng động, hữu tiểu động thị chính thường đích. Bản công pháp hoà Pháp Luân Công đích kỳ tha công pháp nhất dạng, luyện hoàn hậu bất thu công, nhân vi Pháp Luân thị thường chuyển bất năng thu đình đích, luyện công mỗi cá động tác đích thời gian yêu cầu nhân nhân nhi dị, việt trường việt hảo.

Công lý: Bài công pháp này là bài công pháp thứ hai của Pháp Luân Công, thuộc về bài đứng tĩnh. Do bốn động tác ‘bão luân’ ôm bánh xe cấu thành, động tác khá đơn điệu, nhưng mỗi động tác yêu cầu luyện với thời gian rất lâu. Người mới học ‘trạm trang’, lúc mới bắt đầu luyện công thì hai tay sẽ rất nặng, rất nhức mỏi, nhưng luyện xong sẽ lập tức cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, không có cảm giác mệt mỏi như sau khi làm việc. Thuận theo việc gia tăng thời gian, gia tăng số lần luyện công, nơi hai tay sẽ xuất hiện “Pháp Luân” xoay chuyển. Thường luyện bài Pháp Luân Trang pháp sẽ khiến toàn thân toàn bộ quán thông, tăng gia công lực. “Pháp Luân Trang pháp” là thuộc về công pháp tu đủ cả tăng huệ, đề cao tầng thứ, và gia trì thần thông; công tuy đơn giản nhưng những thứ được luyện xuất ra là rất nhiều và rất toàn diện. Bài công pháp này động cần tác tự nhiên, chính tự mình biết rằng đang luyện công, không được lắc động, [tuy nhiên] có lay động một chút thì cũng là bình thường. Bài công pháp này cũng giống như các bài công pháp khác của Pháp Luân Công, khi luyện xong không hề thu công, là vì Pháp Luân là thường chuyển và không thể thu dừng, luyện công thì yêu cầu về thời gian mỗi động tác là tuỳ theo từng người, càng lâu càng tốt.

訣:

Quyết:

Quyết:

生慧增力,容心輕體;
似妙似悟,法輪初起。

Sinh huệ tăng lực, dung tâm khinh thể;
Tự diệu tự ngộ, Pháp Luân sơ khởi.

Shēng huì zēng lì, róng xīn qīng tǐ,
Shì miào shì wù, Fǎlún chū qǐ.

     
Hình 2.1 và hình 2.2

預備勢——全身放鬆,鬆而不懈,雙腳與肩同寬,自然站立,兩腿稍微彎曲,膝胯兩處成滑溜狀態;下頦微收,舌抵上顎,牙齒微微離縫,嘴唇閉上,雙目微閉,面帶祥和之意。

Dự bị thế——Toàn thân phóng túng, tông nhi bất giải, song cước dữ kiên đồng khoan, tự nhiên trạm lập, lưỡng thối sảo vi loan khúc, tất khố lưỡng xứ thành hoạt lưu trạng thái; hạ hài vi thu, thiệt để thượng ngạc, nha xỉ vi vi ly phùng, chuỷ thần bế thượng, song mục vi bế, diện đới tường hoà chi ý.

Thế dự bị: Toàn thân thả lỏng, lỏng nhưng không oải, hai chân giang rộng bằng vai, đứng thẳng tự nhiên, hai chân hơi cong một chút, đầu gối và háng trạng thái lỏng tự nhiên; cằm dưới hơi thu, lưỡi đặt hàm trên, hàm răng cách nhau một tí, môi miệng khép lại, hai mắt hơi nhắm, nét mặt mang ý an hoà.

雙手結印(如圖二之一)。

Song thủ kết ấn (như đồ nhị chi nhất).

Hai tay kết ấn (như hình 2.1)

頭前抱輪——由結印起勢。兩手由腹前緩緩抬起,隨之鬆開結印。當兩手抬到頭前時,手掌掌心對著面部,高度與眉平齊,十指指尖相對,指間距約十五釐米,兩臂抱圓,全身放鬆(如圖二之二)。

Đầu tiền bão luân——Do kết ấn khởi thế. Lưỡng thủ do phúc tiền hoãn hoãn đài khởi, tuỳ chi tông khai kết ấn. Đương lưỡng thủ đài đáo đầu tiền thời, thủ chưởng chưởng tâm đối trước diện bộ, cao độ dữ my bình tề, thập chỉ chỉ tiêm tương đối, chỉ gian cự ước thập ngũ ly mễ, lưỡng tý bão viên, toàn thân phóng túng (như đồ nhị chi nhị).

Đầu tiền bão luân[12]: Bắt đầu từ thế kết ấn. Hai tay từ chỗ trước bụng dưới chầm chậm đưa lên, rồi tháo kết ấn. Khi hai bàn tay tới phía trước mặt, thì lòng bàn tay hướng vào trước mặt, ngang độ cao với lông mày, mười ngón tay chỉ vào nhau, khoảng cách khoảng 15cm, cánh tay ôm tròn, toàn thân buông lỏng (như hình 2.2).

[12] Đầu tiền bão luân: ôm (bão) bánh xe (luân) trước đầu, trước mặt (đầu tiền).

     
Hình 2.3 và hình 2.4

腹前抱輪——兩手由「頭前抱輪」狀態緩緩下落,姿勢不變,一直落到小腹處,手距小腹約為十釐米,兩肘架起來,腋窩空開,手心朝上,十指指尖相對,指間距約十釐米,兩臂抱圓(如圖二之三)。

Phúc tiền bão luân——Lưỡng thủ do “đầu tiền bão luân” trạng thái hoãn hoãn hạ lạc, tư thế bất biến, nhất trực lạc đáo tiểu phúc xứ, thủ cự tiểu phúc ước vi thập ly mễ, lưỡng trửu giá khởi lai, dịch oa không khai, thủ tâm triều thượng, thập chỉ chỉ tiêm tương đối, chỉ gian cự ước thập ly mễ, lưỡng tý bão viên (như đồ nhị chi tam).

Phúc tiền bão luân[13]: Hai tay từ trạng thái “đầu tiền bão luân” từ tốn hạ xuống, [khi] giữ nguyên thế tay, [mà] hạ một mạch xuống chỗ bụng dưới, tay cách bụng dưới khoảng 10cm, cùi trỏ chếch lên, mở khoảng không ở chỗ nách, lòng bàn tay hướng lên trên, mười ngón chỉ vào nhau, khoảng cách giữa các ngón khoảng 10cm, cánh tay ôm tròn (như hình 2.3).

[13] Phúc tiền bão luân: ôm bánh xe trước bụng.

頭頂抱輪——由「腹前抱輪」起勢,姿勢不變,兩手緩緩舉到頭頂,做頭頂抱輪。兩手十指相對,手心向下,指間距為二十至三十釐米,兩臂抱成圓形,兩肩、臂、肘、手腕全是放鬆的(如圖二之四)。

Đầu đỉnh bão luân——Do “phúc tiền bão luân” khởi thế, tư thế bất biến, lưỡng thủ hoãn hoãn cử đáo đầu đỉnh, tố đầu đỉnh bão luân. Lưỡng thủ thập chỉ tương đối, thủ tâm hướng hạ, chỉ gian cự vi nhị thập chí tam thập ly mễ, lưỡng tý bão thành viên hình, lưỡng kiên, tý, trửu, thủ oản toàn thị phóng túng đích (như đồ nhị chi tứ).

Đầu đỉnh bão luân[14]: Bắt đầu từ thế “phúc tiền bão luân”, giữ nguyên thế tay, hai tay từ tốn đưa lên đỉnh đầu, ôm bánh xe trên đỉnh đầu. Hai tay có mười ngón chỉ vào nhau, bàn tay úp xuống, cách nhau khoảng 20~30cm, hai tay ôm thành hình tròn, hai vai, cánh tay, khuỷu tay, cổ tay toàn bộ thả lỏng (như hình 2.4).

[14] Đầu đỉnh bão luân: ôm bánh xe trên đỉnh đầu.

     
Hình 2.5 và hình 2.6

兩側抱輪——兩手由「頭頂抱輪」下落,直達頭部兩側,手掌心對向雙耳,兩肩放鬆,小臂豎直,手與耳之間距離不要太近(如圖二之五)。

Lưỡng trắc bão luân——Lưỡng thủ do “đầu đỉnh bão luân” hạ lạc, trực đạt đầu bộ lưỡng trắc, thủ chưởng tâm đối hướng song nhĩ, lưỡng kiên phóng túng, tiểu tý thụ trực, thủ dữ nhĩ chi gian cự ly bất yếu thái cận (như đồ nhị chi ngũ).

Lưỡng trắc bão luân[15]: Hai tay hạ xuống từ “đầu đỉnh bão luân”, một mạch cho tới hai bên đầu, lòng bàn tay hướng vào hai tai, hai vai buông lỏng, cẳng tay dựng thẳng, không để tay quá gần tai (như hình 2.5).

[15] Lưỡng trắc bão luân: ôm bánh xe hai bên.

疊扣小腹——兩手由「兩側抱輪」下落,直達小腹處成疊扣狀態(如圖二之六)。兩手結印收勢。

Điệp khấu tiểu phúc——Lưỡng thủ do “lưỡng trắc bão luân” hạ lạc, trực đạt tiểu phúc xứ thành điệp khấu trạng thái (như đồ nhị chi lục). Lưỡng thủ kết ấn thu thế.

Điệp khấu tiểu phúc: Hai tay hạ xuống từ thế “lưỡng trắc bão luân”, cho đến chỗ bụng dưới và thành trạng thái điệp khấu tiểu phúc (như hình 2.6). [Sau một lúc] hai tay thu thế về “kết ấn”.

三、貫通兩極法

Tam. Quán Thông Lưỡng Cực pháp

III. Quán Thông Lưỡng Cực pháp

功理:本功法是將宇宙之氣和體內之氣混合貫通之法,吐納量大,使煉功者可在極短時間內,將身體內部病氣、黑氣排出體外,再納入大量宇宙之氣,淨化身體,早日進入「淨白體」狀態。同時,此功還可在沖灌中「開頂」,也能在沖灌中打開腳下人體通道。

Công lý: Bản công pháp thị tương vũ trụ chi khí hoà thể nội chi khí hỗn hợp quán thông chi pháp, thổ nạp lượng đại, sử luyện công giả khả tại cực đoản thời gian nội, tương thân thể nội bộ bệnh khí, hắc khí bài xuất thể ngoại, tái nạp nhập đại lượng vũ trụ chi khí, tịnh hoá thân thể, tảo nhật tiến nhập “tịnh bạch thể” trạng thái. Đồng thời, thử công hài khả tại xung quán trung “khai đỉnh”, dã năng tại xung quán trung đả khai cước hạ nhân thể thông đạo.

Công lý: Bài công pháp này là [công] pháp lấy khí vũ trụ và khí trong [thân] thể hỗn hợp quán thông [với nhau], đưa ra nạp vào những lượng lớn, khiến người luyện công trong một thời gian cực ngắn, đưa khí bệnh khí đen trong thân thể bài xuất ra ngoài [thân] thể, rồi nhập lượng lớn khí vũ trụ, tịnh hoá thân thể, sớm tiến nhập vào trạng thái “tịnh bạch thể”. Đồng thời, công này còn có thể “khai đỉnh” trong khi xung quán, cũng có thể đánh khai ra đường thông ở dưới chân trong khi xung quán.

煉功前意想一下自己是兩根高大的空桶子,頂天立地,高大無比。體內之氣隨手上下而動,沖出頭頂,直達宇宙最上之極處;下沖之氣從一隻腳下沖出,沖到宇宙最下之極處。然後氣隨手動,從兩極返回體內,再從反方向發出,往返共九次。當沖灌第九次時,左(女右)手在上極處等待右(女左)手提上來。然後同時向下發出灌入下極處後收回,經過身體向上沖灌,往返九次後把氣收回。收回後,在小腹處順時針推轉法輪,將體外之氣旋回體內,然後結定印,煉完後收式不收功。

Luyện công tiền ý tưởng nhất hạ tự kỷ thị lưỡng căn cao đại đích không dũng tử, đỉnh thiên lập địa, cao đại vô tỷ. Thể nội chi khí tuỳ thủ thượng hạ nhi động, xung xuất đầu đỉnh, trực đạt vũ trụ tối thượng chi cực xứ; hạ xung chi khí tùng nhất chích cước hạ xung xuất, xung đáo vũ trụ tối hạ chi cực xứ. Nhiên hậu khí tuỳ thủ động, tùng lưỡng cực phản hồi thể nội, tái tùng phản phương hướng phát xuất, vãng phản cộng cửu thứ. Đương xung quán đệ cửu thứ thời, tả (nữ hữu) thủ tại thượng cực xứ đẳng đãi hữu (nữ tả) thủ đề thượng lai. Nhiên hậu đồng thời hướng hạ phát xuất quán nhập hạ cực xứ hậu thu hồi, kinh quá thân thể hướng thượng xung quán, vãng phản cửu thứ hậu bả khí thu hồi. Thu hồi hậu, tại tiểu phúc xứ thuận thời châm suy chuyển Pháp Luân, tương thể ngoại chi khí toàn hồi thể nội, nhiên hậu kết định ấn, luyện hoàn hậu thu thức bất thu công.

Trước lúc luyện công ý tưởng một chút rằng tự mình [như] là hai thùng rỗng rất cao lớn, sừng sững giữa trời đất, cao lớn không gì sánh được[16]. Khí bên trong [thân] thể thuận theo tay mà [chuyển] động lên xuống, xung lên khỏi đỉnh đầu, trực tiếp tới cực nơi cao nhất của vũ trụ; khí xung xuống sẽ qua từng chân mà xung ra, xung tới cực nơi thấp nhất của vũ trụ. Sau đó khí theo tay mà [chuyển] động, từ hai cực mà quay về trong [thân] thể, rồi lại xuất ra theo hướng ngược lại, lặp lại như thế chín lần. Khi xung quán tới lần thứ chín, thì tay trái (nữ tay phải) ở cực trên mà đợi tay phải (nữ tay trái) đưa lên. Sau đó [hai tay] đồng thời quay về hạ xuống quán nhập vào chỗ cực nơi thấp, [rồi lại] qua thân thể mà xung quán lên, sau khi lặp lại chín lần thì thu khí trở về. Sau khi thu trở lại, thì ở chỗ bụng dưới mà xoay chuyển Pháp Luân theo chiều kim đồng hồ, làm cho khí bên ngoài [thân] thể xoay trở về bên trong [thân] thể, sau đó kết ‘định ấn’[17], luyện công xong thì thu thế chứ không thu công.

[16] đỉnh thiên lập địa, cao đại vô tỷ: tạm dịch là sừng sững giữa trời đất, cao lớn không gì sánh được.

[17] kết định ấn cũng gọi là kết ấn, như hình 3.8.

訣:

Quyết:

Quyết:

淨化本體,法開頂底;
心慈意猛,通天徹地。

Tịnh hoá bản thể, Pháp khai đỉnh để;
Tâm từ ý mãnh, thông thiên triệt địa.

Jìnghuà běntǐ, Fǎ kāi dǐng dǐ;
Xīn cí yì měng, tōngtiān chè dì.

     
Hình 3.1 và hình 3.2

預備勢——全身放鬆,鬆而不懈,雙腳與肩同寬,自然站立,兩腿稍微彎曲,膝胯兩處成滑溜狀態;下頦微收,舌抵上顎,牙齒微微離縫,嘴唇閉上,雙目微閉,面帶祥和之意。雙手結印、合十。

Dự bị thế——Toàn thân phóng túng, tông nhi bất giải, song cước dữ kiên đồng khoan, tự nhiên trạm lập, lưỡng thối sảo vi loan khúc, tất khố lưỡng xứ thành hoạt lưu trạng thái; hạ hài vi thu, thiệt để thượng ngạc, nha xỉ vi vi ly phùng, chuỷ thần bế thượng, song mục vi bế, diện đới tường hoà chi ý. Song thủ kết ấn, hợp thập.

Thế dự bị: Toàn thân thả lỏng, lỏng nhưng không oải, hai chân giang rộng bằng vai, đứng thẳng tự nhiên, hai chân hơi cong chùng một chút, đầu gối và háng trạng thái buông lỏng tự nhiên; cằm dưới hơi thu, lưỡi đặt hàm trên, răng hơi mở một chút, môi miệng khép lại, hai mắt hơi nhắm, nét mặt mang ý an hoà. Hai tay kết ấn, [sau đó] hợp thập.

單手沖灌——由「合十」起勢。做單手上沖下灌動作,手隨體外氣機緩緩而動,體內之氣隨手上下而動。男先左手向上,(如圖三之一),女先右手向上。手從頭側前方緩緩上沖,沖出頭頂;同時,右(女左)手緩緩下灌,然後,與另一隻手交換沖灌(如圖三之二)。兩手掌心對著身體,與身體保持十釐米的距離。做時全身要放鬆,手一上一下算一次,沖灌共九次。

Đơn thủ xung quán——Do “hợp thập” khởi thế. Tố đơn thủ thượng xung hạ quán động tác, thủ tuỳ thể ngoại khí cơ hoãn hoãn nhi động, thể nội chi khí tuỳ thủ thượng hạ nhi động. Nam tiên tả thủ hướng thượng, (như đồ tam chi nhất), nữ tiên hữu thủ hướng thượng. Thủ tùng đầu trắc tiền phương hoãn hoãn thượng xung, xung xuất đầu đỉnh; đồng thời, hữu (nữ tả) thủ hoãn hoãn hạ quán, nhiên hậu, dữ lánh nhất chích thủ giao hoán xung quán (như đồ tam chi nhị). Lưỡng thủ chưởng tâm đối trước thân thể, dữ thân thể bảo trì thập ly mễ đích cự ly. Tố thời toàn thân yếu phóng túng, thủ nhất thượng nhất hạ toán nhất thứ, xung quán cộng cửu thứ.

Đơn thủ xung quán[18]: Bắt đầu từ thế “hợp thập”. Làm động tác từng tay xung lên quán xuống, tay [di] động theo khí cơ bên ngoài [thân] thể, khí ở trong [thân] thể là động theo tay lên xuống. Nam đưa tay trái lên trước, (như hình 3.1), nữ đưa tay phải lên trước. Tay từ chỗ bên cạnh phía trước mặt mà từ từ xung lên, xung lên khỏi đỉnh đầu; đồng thời thì tay phải (nữ tay trái) từ từ quán xuống, sau đó, hai tay đổi chỗ cho nhau mà xung quán (như hình 3.2). Lòng bàn tay hướng vào thân thể, duy trì khoảng cách tới thân thể khoảng 10cm. Khi làm [động tác] cần thả lỏng toàn thân, tay đưa lên một lần rồi đưa xuống một lần thì tính là một lần [xung quán], xung quán tổng cộng chín lần.

[18] Đơn thủ xung quán: xung (lên) quán (xuống) từng tay.

          
Hình 3.3, hình 3.4, và hình 3.5

雙手沖灌——當單手沖灌做到第九遍,即左手(女右手)在上時,另一隻手提上來,就是說,兩手都處在上沖的位置(如圖三之三),然後雙手同時向下沖灌(如圖三之四)。雙手沖灌時,手掌心對著身體,離身體十釐米,一上一下算一次,共沖灌九次。

Song thủ xung quán——Đương đơn thủ xung quán tố đáo đệ cửu biến, tức tả thủ (nữ hữu thủ) tại thượng thời, lánh nhất chích thủ đề thượng lai, tựu thị thuyết, lưỡng thủ đô xứ tại thượng xung đích vị trí (như đồ tam chi tam), nhiên hậu song thủ đồng thời hướng hạ xung quán (như đồ tam chi tứ). Song thủ xung quán thời, thủ chưởng tâm đối trước thân thể, ly thân thể thập ly mễ, nhất thượng nhất hạ toán nhất thứ, cộng xung quán cửu thứ.

Song thủ xung quán[19]: Khi đơn thủ xung quán tới lần thứ chín tức là tay trái (nữ tay phải) đang ở trên, thì đưa tay kia lên theo, nghĩa là, hai tay đều ở vị trí xung lên (như hình 3.3), sau đó hai tay đồng thời xung quán xuống (như hình 3.4). Khi hai tay xung quán, lòng bàn tay hướng vào thân thể, cách thân thể 10cm, mỗi lần lên và xuống thì tính là một lần [xung quán], tổng cộng xung quán chín lần.

[19] song thủ xung quán hoặc đồng thời xung quán: hai tay đồng thời xung lên hoặc quán xuống.

          
Hình 3.6, hình 3.7, và hình 3.8

雙手推動法輪——在完成第九次時,兩手從頭上經過頭、胸往小腹處下落,一直落到小腹處,在小腹處推動法輪(如圖三之五、三之六、三之七)。男左手在裏,女右手在裏,手與手之間、手與小腹之間距離約為四釐米,向順時針方向推轉法輪四次,將體外之能量旋回體內。推轉法輪時雙手不要超出小腹範圍。

Song thủ suy động Pháp Luân——Tại hoàn thành đệ cửu thứ thời, lưỡng thủ tùng đầu thượng kinh quá đầu, hung vãng tiểu phúc xứ hạ lạc, nhất trực lạc đáo tiểu phúc xứ, tại tiểu phúc xứ suy động Pháp Luân (như đồ tam chi ngũ, tam chi lục, tam chi thất). Nam tả thủ tại lý, nữ hữu thủ tại lý, thủ dữ thủ chi gian, thủ dữ tiểu phúc chi gian cự ly ước vi tứ ly mễ, hướng thuận thời châm phương hướng suy chuyển Pháp Luân tứ thứ, tương thể ngoại chi năng lượng toàn hồi thể nội. Suy chuyển Pháp Luân thời song thủ bất yếu siêu xuất tiểu phúc phạm vi.

Song thủ suy động Pháp Luân[20]: Khi hoàn thành lần thứ chín, hai tay từ trên đỉnh đầu đi [xuống] qua mặt và ngực hướng tới chỗ bụng dưới, khi tới chỗ bụng dưới, thì ở chỗ bụng dưới mà đẩy động Pháp Luân (như hình 3.5, 3.6, và 3.7). Nam tay trái ở bên trong, nữ tay phải ở bên trong, giữa tay với nhau và giữa tay với bụng dưới là cách nhau khoảng 4cm, thuận theo chiều kim đồng hồ mà xoay chuyển Pháp Luân bốn vòng, đem năng lượng ngoài [thân] thể toàn bộ xoay trở về trong [thân] thể. Khi xoay chuyển Pháp Luân thì hai tay không được ra khỏi phạm vi bụng dưới.

[20] song thủ suy động Pháp Luân: hai tay đẩy động Pháp Luân (diễn nghĩa bề mặt).

兩手結印(如圖三之八)。

Lưỡng thủ kết ấn (như đồ tam chi bát).

Hai tay kết ấn (như hình 3.8).

四、法輪周天法

Tứ, Pháp Luân Chu Thiên pháp

IV. Pháp Luân Chu Thiên pháp

功理:此法是使人體能量大面積流動,不是一條脈或幾條脈在走,而是從人體的陰面整面循環到陽面,往復不停,遠遠的超出了一般通脈法,或大、小周天。本功法屬法輪功的中層功法。在前三套功法的基礎上,通過煉此功法可以很快打開全身氣脈(其中包括大周天),由上而下漸漸通遍全身。本功法的最大特點是用「法輪」的旋轉來糾正人體的不正確的狀態,使人體小宇宙歸為初始狀態,達到全身氣脈暢通無阻。煉到此狀態時,在世間法的修煉中已達到很高的層次了,大根器者可進入大法中修煉了。此時,功力和神通會大增。煉時,手隨氣機而動,動作要緩、慢、圓。

Công lý: Thử pháp thị sử nhân thể năng lượng đại diện tích lưu động, bất thị nhất điều mạch hoặc kỷ điều mạch tại tẩu, nhi thị tùng nhân thể đích âm diện chỉnh diện tuần hoàn đáo dương diện, vãng phục bất đình, viễn viễn đích siêu xuất liễu nhất ban thông mạch pháp, hoặc đại, tiểu chu thiên. Bản công pháp thuộc Pháp Luân Công đích trung tầng công pháp. Tại tiền tam sáo công pháp đích cơ sở thượng, thông quá luyện thử công pháp khả dĩ ngận khoái đả khai toàn thân khí mạch (kỳ trung bao quát đại chu thiên), do thượng nhi hạ tiệm tiệm thông biến toàn thân. Bản công pháp đích tối đại đặc điểm thị dụng “Pháp Luân” đích toàn chuyển lai củ chính nhân thể đích bất chính xác đích trạng thái, sử nhân thể tiểu vũ trụ quy vi sơ thuỷ trạng thái, đạt đáo toàn thân khí mạch sướng thông vô trở. Luyện đáo thử trạng thái thời, tại thế gian pháp đích tu luyện trung dĩ đạt đáo ngận cao đích tầng thứ liễu, đại căn khí giả khả tiến nhập đại pháp trung tu luyện liễu. Thử thời, công lực hoà thần thông hội đại tăng. Luyện thời, thủ tuỳ khí cơ nhi động, động tác yếu hoãn, mạn, viên.

Công lý: Bài [công] pháp này là khiến năng lượng [thân] thể người ta lưu động ở diện rộng, không phải một đường mạch hoặc vài đường mạch đang chạy, mà là từ mặt âm của [thân] thể toàn diện tuần hoàn sang mặt dương, rồi quay lại lặp lại không ngừng, vượt rất rất xa khỏi cách thông mạch thông thường, hoặc đại chu thiên hay tiểu chu thiên. Bài công pháp này thuộc về bài công pháp tầng trung trong Pháp Luân Công. Trên cơ sở ba bài công pháp trước, thông qua luyện bài công pháp này có thể nhanh chóng đả khai các khí mạch toàn thân (trong đó gồm cả đại chu thiên), từ trên xuống dưới dần dần thông khắp toàn thân. Đặc điểm lớn nhất của bài công pháp này là dùng sự xoay chuyển của “Pháp Luân” để chỉnh lại trạng thái không đúng đắn của [thân] thể người, khiến tiểu vũ trụ của nhân thể được quy về trạng thái nguyên sơ, đạt được khí mạch toàn thân thông suốt không trở ngại. Khi luyện tới trạng thái đó, là đã đạt tới tầng thứ rất cao trong tu luyện ‘thế gian pháp’, người đại căn khí có thể tiến nhập vào tu luyện Đại Pháp. Bấy giờ, công lực và thần thông sẽ tăng mạnh. Khi luyện, tay [di] động theo khí cơ, động tác cần ‘hoãn mạn viên’.

訣:

Quyết:

Quyết:

旋法至虛,心清似玉;
返本歸真,悠悠似起。

Toàn Pháp chí hư, tâm thanh tự ngọc;
Phản bổn quy chân, du du tự khởi.

Xuánfǎ zhì xū, xīn qīng sì yù;
Fǎnběn guīzhēn, yōuyōu shì qǐ.

     
Hình 4.1 và hình 4.2

預備勢——全身放鬆,鬆而不懈,雙腳與肩同寬,自然站立,兩腿稍微彎曲,膝胯兩處成滑溜狀態;下頦微收,舌抵上顎,牙齒微微離縫,嘴唇閉上,雙目微閉,面帶祥和之意。

Dự bị thế——Toàn thân phóng túng, tông nhi bất giải, song cước dữ kiên đồng khoan, tự nhiên trạm lập, lưỡng thối sảo vi loan khúc, tất khố lưỡng xứ thành hoạt lưu trạng thái; hạ hài vi thu, thiệt để thượng ngạc, nha xỉ vi vi ly phùng, chuỷ thần bế thượng, song mục vi bế, diện đới tường hoà chi ý.

Thế dự bị: Toàn thân thả lỏng, lỏng nhưng không oải, hai chân giang rộng bằng vai, đứng thẳng tự nhiên, hai chân hơi chùng một chút, đầu gối và háng trạng thái lỏng tự nhiên; hàm dưới hơi thu, lưỡi đặt hàm trên, hàm răng hơi hở một tí, môi miệng ngậm lại, hai mắt hơi nhắm, nét mặt mang ý an hoà.

雙手結印、合十。

Song thủ kết ấn, hợp thập.

Hai tay kết ấn, [sau đó] hợp thập.

兩手一邊解除「合十」狀態,一邊向小腹部位下落,同時,轉兩掌心對向身體。手與身體的距離約十釐米,越過小腹向兩腿間下伸,沿兩腿的內側下來,同時彎腰下蹲,(如圖四之一)。當兩手指尖接近地面時,手從腳尖、腳外側一直劃過到腳後跟外側(如圖四之二)。

Lưỡng thủ nhất biên giải trừ “hợp thập” trạng thái, nhất biên hướng tiểu phúc bộ vị hạ lạc, đồng thời, chuyển lưỡng chưởng tâm đối hướng thân thể. Thủ dữ thân thể đích cự ly ước thập ly mễ, việt quá tiểu phúc hướng lưỡng thối gian hạ thân, diên lưỡng thối đích nội trắc hạ lai, đồng thời loan yêu hạ tồn, (như đồ tứ chi nhất). Đương lưỡng thủ chỉ tiêm tiếp cận địa diện thời, thủ tùng cước tiêm, cước ngoại trắc nhất trực hoạch quá đáo cước hậu cân ngoại trắc (như đồ tứ chi nhị).

Hai tay vừa tháo khỏi trạng thái “hợp thập”, vừa hạ xuống phía chỗ bụng dưới, đồng thời xoay lòng bàn tay hướng vào thân thể. Bàn tay cách thân thể khoảng 10cm, vượt qua chỗ bụng dưới và duỗi xuống chỗ giữa hai chân, xuống theo mé trong hai chân, đồng thời khom lưng ngồi xuống, (như hình 4.1). Khi hai đầu các ngón tay gần chạm mặt đất, bàn tay từ chỗ đầu ngón chân, qua bên ngoài chân mà vạch một [vòng cung] bên ngoài ra phía sau chân (như hình 4.2).

          
Hình 4.3, hình 4.4, và hình 4.5

     
Hình 4.6 và hình 4.7

然後,兩手腕微曲,從腳後跟處逐漸順腿後側向上提起(如圖四之三),兩手一邊從背後向上提一邊直腰,(如圖四之四)。在整個法輪周天法中,兩手不要接觸身體任何部位,否則,兩手上的能量會收回體內。當兩手到達不能上提為止,攥空拳(如圖四之五),再從腋窩處掏過來,兩臂在胸前大交叉(哪個臂在上,哪個臂在下,沒有特別要求,隨個人習慣自定,男女無分別)(如圖四之六),鬆開兩拳,兩掌在肩上(有間隙)。緊接著雙掌順兩臂的陽面拉到兩手腕處時,變兩掌掌心相對,即外手大拇指轉向上,內手大拇指轉向下,掌間距離約三至四釐米,此時,手與臂成「一」字形狀,(如圖四之七)。接著握球擰掌,即外手變內手,內手變外手。然後,兩手一邊沿著小臂陰面和大臂陰面推進,一邊向上舉起並過頭部,(如圖四之八)。兩手過頭後,兩手成交叉狀態,並繼續向大椎處運動(如圖四之九)。兩手由交叉分開,指尖向下,與背部的能量接上,再將兩手平行的從頭上運動過來到胸前,(如圖四之十)。這樣為一個周天的循環,共做九次。完成九次後,兩手經過胸前往小腹處下落。

Nhiên hậu, lưỡng thủ oản vi khúc, tùng cước hậu cân xứ trục tiệm thuận thối hậu trắc hướng thượng đề khởi (như đồ tứ chi tam), lưỡng thủ nhất biên tùng bối hậu hướng thượng đề nhất biên trực yêu, (như đồ tứ chi tứ). Tại chỉnh cá Pháp Luân Chu Thiên pháp trung, lưỡng thủ bất yếu tiếp xúc thân thể nhậm hà bộ vị, phủ tắc, lưỡng thủ thượng đích năng lượng hội thu hồi thể nội. Đương lưỡng thủ đáo đạt bất năng thượng đề vi chỉ, toản không quyền (như đồ tứ chi ngũ), tái tùng dịch oa xứ đào quá lai, lưỡng tý tại hung tiền đại giao xoa (nả cá tý tại thượng, nả cá tý tại hạ, một hữu đặc biệt yêu cầu, tuỳ cá nhân tập quán tự định, nam nữ vô phân biệt) (như đồ tứ chi lục), túng khai lưỡng quyền, lưỡng chưởng tại kiên thượng (hữu gián khích). Khẩn tiếp trước song chưởng thuận lưỡng tý đích dương diện lạp đáo lưỡng thủ oản xứ thời, biến lưỡng chưởng chưởng tâm tương đối, tức ngoại thủ đại mẫu chỉ chuyển hướng thượng, nội thủ đại mẫu chỉ chuyển hướng hạ, chưởng gian cự ly ước tam chí tứ ly mễ, thử thời, thủ dữ tý thành “nhất” tự hình trạng, (như đồ tứ chi thất). Tiếp trước ác cầu ninh chưởng, tức ngoại thủ biến nội thủ, nội thủ biến ngoại thủ. Nhiên hậu, lưỡng thủ nhất biên diên trước tiểu tý âm diện hoà đại tý âm diện suy tiến, nhất biên hướng thượng cử khởi tịnh quá đầu bộ, (như đồ tứ chi bát). Lưỡng thủ quá đầu hậu, lưỡng thủ thành giao xoa trạng thái, tịnh kế tục hướng đại truỳ xứ vận động (như đồ tứ chi cửu). Lưỡng thủ do giao xoa phân khai, chỉ tiêm hướng hạ, dữ bối bộ đích năng lượng tiếp thượng, tái tương lưỡng thủ bình hành đích tùng đầu thượng vận động quá lai đáo hung tiền, (như đồ tứ chi thập). Giá dạng vi nhất cá chu thiên đích tuần hoàn, cộng tố cửu thứ. Hoàn thành cửu thứ hậu, lưỡng thủ kinh quá hung tiền vãng tiểu phúc xứ hạ lạc.

Sau đó, hai cổ tay hơi cong lên, từ phía sau chân từ từ đi lên dọc theo phía sau chân (như hình 4.3), vừa đưa hai tay lên sau lưng vừa thẳng eo lên, (như hình 4.4). Trong toàn bộ bài Pháp Luân Chu Thiên pháp, hai bàn tay không được chạm vào bất kể chỗ nào trên thân thể, nếu không, năng lượng trên tay sẽ thu vào trong [thân] thể. Khi hai tay tới chỗ mà không thể đưa lên hơn nữa, thì tay nắm không (như hình 4.5)[21], rồi rút tay qua chỗ nách, hay tay giao nhau trước ngực (không có yêu cầu đặc biệt tay nào ở trên tay nào ở dưới, tuỳ thói quen cá nhân mà quyết định, không phân biệt nam nữ) (như hình 4.6), buông nắm tay ra, hai bàn tay ở trên vai (có khoảng cách). [Đưa bàn tay] theo sát mặt dương của cánh tay[22] và tới chỗ cổ tay, [sau đó] hai tâm lòng bàn tay đối nhau, bàn tay ngoài có ngón cái hướng lên, bàn tay trong có ngón cái hướng xuống, hai bàn tay cách nhau khoảng 3~4cm, lúc đó bàn tay và cẳng tay làm thành hình chữ “nhất”, (như hình 4.7). Tiếp theo là ‘tay xoay quả cầu’[23], khiến bàn tay ngoài trở thành bàn tay trong, tay trong thành tay ngoài. Sau đó hai bàn tay vừa dẫn theo mặt âm của cẳng tay và bắp tay, vừa đưa [tay] lên vòng qua đầu, (như hình 4.8). Sau khi qua đầu thì hai tay ở trạng thái giao nhau, vẫn tiếp tục di động hướng tới phía sống lưng (như hình 4.9). Hai bàn tay tách khỏi thế giao nhau, ngón tay hướng xuống, tiếp [nối] với năng lượng ở bộ phận lưng, tiếp tục với hai tay song song di chuyển qua đỉnh đầu và tới trước ngực, (như hình 4.10). Như thế là một lần tuần hoàn chu thiên, [làm] tổng cộng chín lần. Sau khi hoàn thành lần thứ chín, hai bàn tay đi qua chỗ trước ngực mà xuống tới chỗ bụng dưới.

[21] tay nắm không hiểu là tay nắm thành hình nắm đấm, nhưng không chặt, bên trong có khoảng không.

[22] Bản tiếng Anh diễn giải mặt dương của cánh tay là mặt ngoài (outer side), còn mặt âm là mặt phía trong (inner side) của cánh tay.

[23] tay xoay quả cầu: xoay xoay hai bàn tay đối diện nhau tựa như đang xoay một quả bóng ở giữa.

          
Hình 4.8, hình 4.9, và hình 4.10

疊扣小腹,兩手結印。

Điệp khẩu tiểu phúc, lưỡng thủ kết ấn.

Điệp khấu tiểu phúc, [sau đó] hai tay kết ấn.

五、神通加持法

Ngũ, Thần Thông Gia Trì pháp

V. Thần Thông Gia Trì pháp

功理:「神通加持法」屬法輪功的靜功修煉法,是用「佛」之手印轉「法輪」加持神通(包括功能)與功力的多項同修功法。本法屬中層以上功法,原屬秘煉之法。為了滿足有一定基礎者的要求,特將此功法傳出,使其傳度有緣之士。本功法要求在盤坐中煉,最好用雙盤,採用單盤也可以。修煉時氣流比較強,體外的能量場比較大。動作是隨著師父所下的氣機而行,起手時心隨意動。加持神通時,意空、潛意識微微在兩掌。掌心會有熱、重、電麻,似有物等感覺。但不要用意追求,隨其自然。盤坐時間要求越長越好,可根據功底而定,時間越長,強度越大,出功越快。煉功時,(甚麼也不想,沒有任何意念)漸漸入靜,由似靜非定的動功狀態漸漸入定。但主意識知道自己在煉功。

Công lý: “Thần Thông Gia Trì pháp” thuộc Pháp Luân Công đích tĩnh công tu luyện pháp, thị dụng “Phật” chi thủ ấn chuyển “Pháp Luân” gia trì thần thông (bao quát công năng) dữ công lực đích đa hạng đồng tu công pháp. Bản pháp thuộc trung tầng dĩ thượng công pháp, nguyên thuộc bí luyện chi pháp. Vi liễu mãn túc hữu nhất định cơ sở giả đích yêu cầu, đặc tương thử công pháp truyền xuất, sử kỳ truyền độ hữu duyên chi sĩ. Bản công pháp yêu cầu tại bàn toạ trung luyện, tối hảo dụng song bàn, thái dụng đơn bàn dã khả dĩ. Tu luyện thời khí lưu tỷ giảo cường, thể ngoại đích năng lượng trường tỷ giảo đại. Động tác thị tuỳ trước Sư phụ sở hạ đích khí cơ nhi hành, khởi thủ thời tâm tuỳ ý động. Gia trì thần thông thời, ý không, tiềm ý thức vi vi tại lưỡng chưởng. Chưởng tâm hội hữu nhiệt, trọng, điện ma, tự hữu vật đẳng cảm giác. Đãn bất yếu dụng ý truy cầu, tuỳ kỳ tự nhiên. Bàn toạ thời gian yêu cầu việt trường việt hảo, khả căn cứ công để nhi định, thời gian việt trường, cường độ việt đại, xuất công việt khoái. Luyện công thời, (thậm ma dã bất tưởng, một hữu nhậm hà ý niệm) tiệm tiệm nhập tĩnh, do tự tĩnh phi định đích động công trạng thái tiệm tiệm nhập định. Đãn chủ ý thức tri đạo tự kỷ tại luyện công.

Công lý: “Thần Thông Gia Trì pháp” là thuộc về pháp tu luyện tĩnh công của Pháp Luân Công, là công pháp mà dùng thủ ấn của “Phật” xoay chuyển “Pháp Luân” gia trì thần thông (gồm cả công năng) và đồng [thời] tu luyện nhiều hạng công lực. Bài pháp này thuộc về công pháp trung tầng trở lên, nguyên là thuộc về pháp ‘bí luyện’[24]. Vì để thoả mãn yêu cầu của những người đã có cơ sở nhất định, [tôi] đặc biệt truyền xuất bài công pháp này ra, truyền ra độ những người có duyên. Bài công pháp này yêu cầu luyện trong khi ngồi xếp bằng, tốt nhất là ngồi song bàn, dùng đơn bàn cũng khả dĩ[25]. Khi tu luyện thì dòng khí khá mạnh mẽ, trường năng lượng ngoài [thân] thể khá to lớn. Động tác được làm thuận theo khí cơ mà Sư phụ đã cài, khi di động tay thì tâm động theo ý[26]. Khi gia trì thần thông, thì ‘ý không’, tiềm ý thức hơi hơi ở tại hai bàn tay. Lòng bàn tay sẽ có cảm giác nhiệt, nặng, điện tê, tựa như có vật, v.v. Nhưng không được dùng ý truy cầu, hãy ‘tuỳ kỳ tự nhiên’. Thời gian ngồi xếp bằng yêu cầu càng lâu càng tốt, mà căn cứ theo công mà định[27], thời gian càng lâu, cường độ càng lớn, xuất công càng nhanh. Khi luyện công, (không suy nghĩ gì hết, không có bất kể ý niệm gì) thì dần dần nhập tĩnh, từ trạng thái của động công là ‘tự tĩnh phi định’[28] mà dần dần nhập định. Nhưng chủ ý thức biết rằng mình đang luyện công.

[24] bí luyện chi pháp: hiểu là công pháp nguyên dùng trong tu luyện bí mật, không phổ cập.

[25] bàn toạ: ngồi xếp bằng; đơn bàn: ngồi xếp đơn với một chân ở trên chân kia; song bàn: ngồi xếp đôi với hai chân chéo lên nhau (đây là diễn nghĩa bề mặt chữ, bàn → cái bàn, cái khay).

[26] tâm tuỳ ý động: tạm dịch là tâm động theo ý.

[27] căn cứ công đê nhi định: tuỳ theo công phu, sự thuần thục, sức bỏ ra, sức chịu đựng mà định, tạm dịch là căn cứ theo công mà định (diễn giải theo bản tiếng Anh).

[28] tự tĩnh phi định: tựa như tĩnh, không phải định.

訣:

Quyết:

Quyết:

有意無意,印隨機起;
似空非空,動靜如意。

Hữu ý vô ý, ấn tuỳ cơ khởi;
Tự không phi không, động tĩnh như ý.

Yǒuyì wúyì, yìn suíjī qǐ;
Shì kōng fēi kōng, dòngjìng rúyì

     
Hình 5.1 và hình 5.2

兩手結印——盤腿打坐,全身放鬆,鬆而不懈,腰直頸正,下頦微收,舌抵上顎,牙齒微微離縫,嘴唇閉上,雙眼微閉,心生慈悲,面帶祥和之意。兩手「結印」置小腹處,漸漸入靜(如圖五之一)。

Lưỡng thủ kết ấn——Bàn thối đả toạ, toàn thân phóng túng, tông nhi bất giải, yêu trực cảnh chính, hạ hài vi thu, thiệt để thượng ngạc, nha xỉ vi vi ly phùng, chuỷ thần bế thượng, song nhãn vi bế, tâm sinh từ bi, diện đới tường hoà chi ý. Lưỡng thủ “kết ấn” trí tiểu phúc xứ, tiệm tiệm nhập tĩnh (như đồ ngũ chi nhất).

Hai tay kết ấn: Xếp bằng đả toạ, toàn thân thả lỏng, lỏng nhưng không oải, lưng ngay cổ thẳng, hàm dưới hơi thu, lưỡi đặt hàm trên, hàm răng hơi hở một tí, môi miệng ngậm lại, hai mắt hơi nhắm, tâm sinh ‘từ bi’, nét mặt mang ý an hoà. Hai tay “kết ấn” ở chỗ bụng dưới, dần dần nhập tĩnh (như hình 5.1).

     
Hình 5.3 và hình 5.4

手印之一——(起手時,心隨意動,隨著師父所下的氣機而行,要求緩、慢、圓)兩手從「結印」狀態中緩緩上舉,到達頭前方時逐漸向上翻掌,當兩手心向上時,手也到達頂點(如圖五之二),接著兩手分開,在頭頂劃弧,向兩側轉動,一直轉到頭側前方,(如圖五之三)。緊接著,兩手緩緩下落,兩肘儘量內靠,兩手掌心朝上,指尖朝前,(如圖五之四)。然後,兩手腕一邊伸直,一邊在胸前交叉通過。男左手在外行,女右手在外行(如圖五之五),在兩手交叉通過成「一」字形時,在外之手,手腕向外側轉,一邊翻掌心向上,劃大半個圓弧,變成掌心朝上,指尖朝後,手有一定力度;在內之手交叉通過後,手心逐漸轉向下方,直至伸直,手、臂並轉成掌心朝外,手、臂在身體的正斜下方與身體成三十度夾角,(如圖五之六)。

Thủ ấn chi nhất——(Khởi thủ thời, tâm tuỳ ý động, tuỳ trước Sư phụ sở hạ đích khí cơ nhi hành, yêu cầu hoãn, mạn, viên) lưỡng thủ tùng “kết ấn” trạng thái trung hoãn hoãn thượng cử, đáo đạt đầu tiền phương thời trục tiệm hướng thượng phiên chưởng, đương lưỡng thủ tâm hướng thượng thời, thủ dã đáo đạt đỉnh điểm (như đồ ngũ chi nhị), tiếp trước lưỡng thủ phân khai, tại đầu đỉnh hoạch hồ, hướng lưỡng trắc chuyển động, nhất trực chuyển đáo đầu trắc tiền phương, (như đồ ngũ chi tam). Khẩn tiếp trước, lưỡng thủ hoãn hoãn hạ lạc, lưỡng trửu tận lượng nội kháo, lưỡng thủ chưởng tâm triều thượng, chỉ tiêm triều tiền, (như đồ ngũ chi tứ). Nhiên hậu, lưỡng thủ oản nhất biên thân trực, nhất biên tại hung tiền giao xoa thông quá. Nam tả thủ tại ngoại hành, nữ hữu thủ tại ngoại hành (như đồ ngũ chi ngũ), tại lưỡng thủ giao xoa thông quá thành “nhất” tự hình thời, tại ngoại chi thủ, thủ oản hướng ngoại trắc chuyển, nhất biên phiên chưởng tâm hướng thượng, hoạch đại bán cá viên hồ, biến thành chưởng tâm triều thượng, chỉ tiêm triều hậu, thủ hữu nhất định lực độ; tại nội chi thủ giao xoa thông quá hậu, thủ tâm trục tiệm chuyển hướng hạ phương, trực chí thân trực, thủ, tý tịnh chuyển thành chưởng tâm triều ngoại, thủ, tý tại thân thể đích chính tà hạ phương dữ thân thể thành tam thập độ giáp giác, (như đồ ngũ chi lục).

Thủ ấn thứ nhất: (Khi di chuyển tay, tâm động theo ý, thuận theo khí cơ mà Sư phụ đã cài cho mà làm, cần ‘hoãn mạn viên’) Hai tay từ trạng thái “kết ấn” đưa lên một cách từ tốn, khi tới chỗ trước mặt thì từ từ xoay bàn tay lên, cùng lúc khi tâm lòng bàn tay hướng lên, thì tay cũng tới chỗ cao nhất (như hình 5.2), tiếp đó hai tay tách ra, ở đỉnh đầu vẽ một đường cong, chuyển động sang hai bên, một mạch chuyển tới chỗ trước mặt, (như hình 5.3). Ngay tiếp đó, hai tay từ từ hạ xuống, cùi chỏ hướng hết mức vào trong, hai lòng bàn tay hướng lên, ngón tay chỉ ra phía trước, (như hình 5.4). Sau đó, vừa duỗi hai cổ tay ra, vừa giao nhau ở chỗ trước ngực. Nam tay trái vận hành bên ngoài, nữ tay phải ở bên ngoài (như hình 5.5), khi hai tay giao nhau tạo thành hình chữ “nhất”, thì tay ở phía ngoài, cổ tay xoay hướng phía ngoài, vừa xoay cho lòng bàn tay hướng lên, vừa vạch một nửa hình tròn, và trở thành lòng bàn tay hướng lên, ngón tay chỉ ra phía sau, tay là có lực độ nhất định; [còn] tay phía trong thì sau khi giao nhau, lòng bàn tay từ từ chuyển hướng phía dưới, duỗi [tay] thẳng hết ra, bàn tay và cánh tay chuyển động sao cho lòng bàn tay hướng ra ngoài, bàn tay và cánh tay nghiêng xuống dưới thành một góc khoảng 30° so với thân thể, (như hình 5.6).

     
Hình 5.5 và hình 5.6

手印之二——接(圖五之六)勢做,左手(在上之手)從裏走,右手一邊轉掌心朝內一邊上行,動作只是手印一的左右交換,手位相反(如圖五之七)。

Thủ ấn chi nhị——Tiếp (đồ ngũ chi lục) thế tố, tả thủ (tại thượng chi thủ) tùng lý tẩu, hữu thủ nhất biên chuyển chưởng tâm triều nội nhất biên thượng hành, động tác chỉ thị thủ ấn nhất đích tả hữu giao hoán, thủ vị tương phản (như đồ ngũ chi thất).

Thủ ấn thứ hai: Tiếp theo tư thế trước (hình 5.6), tay trái (tay ở phía trên) đi ở phía trong, tay phải vừa xoay lòng bàn tay hướng vào trong vừa đưa lên, động tác chỉ là như thủ ấn thứ nhất với tay trái và phải đổi nhau, vị trí của tay là tương phản lại (như hình 5.7).

     
Hình 5.7 và hình 5.8

手印之三——男右手(女左手)手腕一邊伸直,掌心對向身體,通過在胸前交叉後,手心轉向下,直到前斜下方小腿處,臂要伸直;男左手(女右手)轉掌心朝內,一邊上行,通過交叉後,一邊翻掌,一邊向左(女右)肩前方運動,手到位後,手心向上,指尖朝前(如圖五之八)。

Thủ ấn chi tam——Nam hữu thủ (nữ tả thủ) thủ oản nhất biên thân trực, chưởng tâm đối hướng thân thể, thông quá tại hung tiền giao xoa hậu, thủ tâm chuyển hướng hạ, trực đáo tiền tà hạ phương tiểu thối xứ, tý yếu thân trực; nam tả thủ (nữ hữu thủ) chuyển chưởng tâm triều nội, nhất biên thượng hành, thông quá giao xoa hậu, nhất biên phiên chưởng, nhất biên hướng tả (nữ hữu) kiên tiền phương vận động, thủ đáo vị hậu, thủ tâm hướng thượng, chỉ tiêm triều tiền (như đồ ngũ chi bát).

Thủ ấn thứ ba: Nam tay phải (nữ tay trái) vừa duỗi cổ tay, lòng bàn tay [xoay] hướng vào thân thể, sau khi đi qua chỗ giao nhau trước ngực, thì lòng bàn tay hướng xuống, một mạch đi chếch xuống tới chỗ cẳng chân, cần duỗi thẳng tay; nam tay trái (nữ tay phải) xoay cho lòng bàn tay hướng vào trong, vừa đi lên, sau khi đi qua chỗ giao nhau, thì vừa xoay cổ tay vừa chuyển về phía vai trái (nữ vai phải), khi tay tới vị trí, thì lòng bàn tay hướng lên, ngón tay chỉ về phía trước (như hình 5.8).

     
Hình 5.9 và hình 5.10

手印之四——與手印三交換手勢而已,男左手(女右手)在內行,男右手(女左手)在外行,動作只是左右換手,手位相反(如圖五之九)。前四個手印,動作是連貫的,沒有停頓。

Thủ ấn chi tứ——Dữ thủ ấn tam giao hoán thủ thế nhi dĩ, nam tả thủ (nữ hữu thủ) tại nội hành, nam hữu thủ (nữ tả thủ) tại ngoại hành, động tác chỉ thị tả hữu hoán thủ, thủ vị tương phản (như đồ ngũ chi cửu). Tiền tứ cá thủ ấn, động tác thị liên quán đích, một hữu đình đốn.

Thủ ấn thứ tư: Như thủ ấn thứ ba với hai tay đổi nhau, nam tay trái (nữ tay phải) di chuyển bên trong, nam tay phải (nữ tay trái) di chuyển bên ngoài, động tác chỉ là hai tay trái phải đổi nhau, vị trí tay là tương phản (như hình 5.9). Trong bốn thủ ấn đầu tiên này, động tác là liên tục, không dừng nghỉ.

加持球狀神通——接「手印之四」做。上手在內行,下手在外行,男右手逐漸轉掌,手心向胸部下來。男左手(女右手)上提,當兩小臂到達胸前成「一」字形時(如圖五之十)。兩手一邊向兩邊拉開,(如圖五之十一)一邊轉手心向下,當兩手到達膝外側上方時,手的高度與腰平齊,小臂與手腕是平的,兩臂放鬆(如圖五之十二)。此式是把體內的神通打在手上來加持,是呈球狀的神通。加持神通時,掌心會有熱、重、電麻、似有物等感覺,但不要用意追求,隨其自然。此式做的時間越長越好,直到不能堅持為止。

Gia trì cầu trạng thần thông——Tiếp “thủ ấn chi tứ” tố. Thượng thủ tại nội hành, hạ thủ tại ngoại hành, nam hữu thủ trục tiệm chuyển chưởng, thủ tâm hướng hung bộ hạ lai. Nam tả thủ (nữ hữu thủ) thượng đề, đương lưỡng tiểu tý đáo đạt hung tiền thành “nhất” tự hình thời (như đồ ngũ chi thập). Lưỡng thủ nhất biên hướng lưỡng biên lạp khai, (như đồ ngũ chi thập nhất) nhất biên chuyển thủ tâm hướng hạ, đương lưỡng thủ đáo đạt tất ngoại trắc thượng phương thời, thủ đích cao độ dữ yêu bình tề, tiểu tý dữ thủ oản thị bình đích, lưỡng tý phóng túng (như đồ ngũ chi thập nhị). Thử thức thị bả thể nội đích thần thông đả tại thủ thượng lai gia trì, thị trình cầu trạng đích thần thông. Gia trì thần thông thời, chưởng tâm hội hữu nhiệt, trọng, điện ma, tự hữu vật đẳng cảm giác, đãn bất yếu dụng ý truy cầu, tuỳ kỳ tự nhiên. Thử thức tố đích thời gian việt trường việt hảo, trực đáo bất năng kiên trì vi chỉ.

Gia trì thần thông hình cầu: Làm tiếp theo “thủ ấn thứ tư”. Tay bên trên di chuyển ở trong, tay bên dưới di chuyển ở ngoài, nam tay phải từ từ xoay tay, lòng bàn tay hạ xuống hướng vào ngực. Nam tay trái (nữ tay phải) đưa lên, khi hai cẳng tay tới trước ngực thì thành hình chữ “nhất” (như hình 5.10). Hai bàn tay vừa tách ra đi sang hai bên, (như hình 5.11) vừa xoay lòng bàn tay úp xuống dưới, khi hai bàn tay ra ngoài đầu gối, thì tay có độ cao ngang eo, cẳng tay và cổ tay để ngang [song song mặt đất], hai cánh tay thả lỏng (như hình 5.12). Tư thế này là đem thần thông trong [thân] thể đưa ra bàn tay để gia trì, là thần thông với dạng hình cầu. Khi gia trì thần thông, thì lòng bàn tay sẽ có cảm giác nhiệt, nặng, điện tê, tựa như có vật, v.v., nhưng không được dùng ý truy cầu, [hãy] tuỳ kỳ tự nhiên. Thực hiện tư thế này càng lâu càng tốt, một mạch cho đến khi không thể kiên trì mới thôi.

     
Hình 5.11 và hình 5.12

加持柱狀神通——接上式。右(女左)手一邊轉手心向上,一邊向小腹處運動,手到位後,手心向上在小腹部位;在右手動作的同時,左(女右)手一邊抬起,一邊向下頦處運動,手心仍向下,手的高度與下頦平齊,小臂與手是平的。此時,兩手掌心相對,定式(如圖五之十三),這是加持柱狀神通,如掌手雷之類。做到自己覺的不能堅持為止。然後,上手從前方劃一半圓形,落於小腹處;同時,下手上提,並翻手心向下,抬到下頦處,(如圖五之十四)。臂與肩平,兩手掌心相對。這也是加持柱狀神通,只是手勢相反。做的時間到臂累的不能堅持為準。

Gia trì trụ trạng thần thông——Tiếp thượng thức. Hữu (nữ tả) thủ nhất biên chuyển thủ tâm hướng thượng, nhất biên hướng tiểu phúc xứ vận động, thủ đáo vị hậu, thủ tâm hướng thượng tại tiểu phúc bộ vị; tại hữu thủ động tác đích đồng thời, tả (nữ hữu) thủ nhất biên đài khởi, nhất biên hướng hạ hài xứ vận động, thủ tâm nhưng hướng hạ, thủ đích cao độ dữ hạ hài bình tề, tiểu tý dữ thủ thị bình đích. Thử thời, lưỡng thủ chưởng tâm tương đối, định thức (như đồ ngũ chi thập tam), giá thị gia trì trụ trạng thần thông, như chưởng thủ lôi chi loại. Tố đáo tự kỷ giác đích bất năng kiên trì vi chỉ. Nhiên hậu, thượng thủ tùng tiền phương hoạch nhất bán viên hình, lạc ư tiểu phúc xứ; đồng thời, hạ thủ thượng đề, tịnh phiên thủ tâm hướng hạ, đài đáo hạ hài xứ, (như đồ ngũ chi thập tứ). Tý dữ kiên bình, lưỡng thủ chưởng tâm tương đối. Giá dã thị gia trì trụ trạng thần thông, chỉ thị thủ thế tương phản. Tố đích thời gian đáo tý luỵ đích bất năng kiên trì vi chuẩn.

Gia trì thần thông hình trụ: Tiếp theo tư thế trên. Tay phải (nữ tay trái) vừa xoay lòng bàn tay hướng lên, vừa chuyển động về phía bụng dưới, khi tay tới vị trí, thì lòng bàn tay ngửa lên tại vị trí bụng dưới; đồng thời với động tác của tay phải, thì tay trái (nữ tay phải) vừa đưa lên, vừa chuyển động về phía cằm dưới, lòng bàn tay úp xuống, bàn tay có độ cao ngang với cằm, cẳng tay và cổ tay để ngang [song song mặt đất]. Bấy giờ, tâm của hai lòng bàn tay là đối vào nhau, định [lại ở] tư thế [này] (như hình 5.13), đây là ‘gia trì thần thông hình trụ’, những loại như ‘chưởng thủ lôi’[29]. Làm cho tới khi cảm thấy mình không thể kiên trì được nữa thì thôi. Sau đó, tay bên trên vạch ra phía trước một nửa hình tròn, rơi vào chỗ bụng dưới; trong lúc đó, tay phía dưới đi lên, đồng thời xoay lòng bàn tay ngửa lên, đạt tới chỗ hàm dưới, (như hình 5.14). Tay cao bằng vai, hai lòng bàn tay đối vào nhau. Đây cũng là gia trì thần thông hình trụ, chỉ là đảo lại tư thế tay. Thực hiện thời gian cho đến khi mỏi không thể kiên trì nữa là được.

[29] chưởng thủ lôi: bàn tay sấm sét.

     
Hình 5.13 và hình 5.14

靜功修煉——接上式,然後,上手從前方劃一半圓形落於小腹處,兩手成結印狀態(如圖五之十五),進入靜功修煉。入定,時間越長越好。

Tĩnh công tu luyện——Tiếp thượng thức, nhiên hậu, thượng thủ tùng tiền phương hoạch nhất bán viên hình lạc ư tiểu phúc xứ, lưỡng thủ thành kết ấn trạng thái (như đồ ngũ chi thập ngũ), tiến nhập tĩnh công tu luyện. Nhập định, thời gian việt trường việt hảo.

Tu luyện tĩnh công: Tiếp theo tư thế trên, sau đó, tay trên vạch một nửa hình tròn ra phía trước và rơi vào chỗ bụng dưới, hai tay trở thành trạng thái kết ấn (như hình 5.15), tiến nhập vào tu luyện tĩnh công. Nhập định, thời gian càng lâu càng tốt.

     
Hình 5.15 và hình 5.16

收勢——雙手「合十」(如圖五之十六),出定,解除盤坐狀態。

Thu thế——Song thủ “hợp thập” (như đồ ngũ chi thập lục), xuất định, giải trừ bàn toạ trạng thái.

Thu thế: Hai tay “hợp thập” (như hình 5.16), xuất định, giải trừ trạng thái ngồi xếp bằng.

修煉法輪功的一些基本要求和注意事項

Tu luyện Pháp Luân Công đích nhất ta cơ bản yêu cầu hoà chú ý sự hạng

Một số yêu cầu cơ bản và điều cần chú ý của tu luyện Pháp Luân Công

一、法輪功的五套功法,可以依次煉,也可以任意選煉。但是,一般要求先煉第一套,而且煉上三遍為宜。當然,不煉第一套也可先煉其他各套。每一套都可單獨煉。

Nhất, Pháp Luân Công đích ngũ sáo công pháp, khả dĩ y thứ luyện, dã khả dĩ nhậm ý tuyển luyện. Đãn thị, nhất ban yêu cầu tiên luyện đệ nhất sáo, nhi thả luyện thượng tam biến vi nghi. Đương nhiên, bất luyện đệ nhất sáo dã khả tiên luyện kỳ tha các sáo. Mỗi nhất sáo đô khả đơn độc luyện.

1. Năm bài công pháp Pháp Luân Công, có thể luyện theo thứ tự [như trên], cũng có thể tuỳ ý chọn mà luyện. Nhưng thông thường yêu cầu luyện bài số 1 trước, ngoài ra luyện [liền] ba lần là thích hợp. Tất nhiên, không luyện bài số 1 thì cũng có thể luyện bài khác trước. Mỗi bài đều có thể luyện riêng lẻ.

二、動作要準確,節奏要清楚,手和臂要圓滑,上下、前後、左右,都要「緩、慢、圓」的隨氣機而行。不要過快,也不要過慢。

Nhị, Động tác yếu chuẩn xác, tiết tấu yếu thanh sở, thủ hoà tý yếu viên hoạt, thượng hạ, tiền hậu, tả hữu, đô yếu “hoãn, mạn, viên” đích tuỳ khí cơ nhi hành. Bất yếu quá khoái, dã bất yếu quá mạn.

2. Động tác cần phải chuẩn xác, tiết tấu rõ ràng, bàn tay và cánh tay cần mềm mại, khi lên xuống, trước sau, trái phải thì đều cần “hoãn mạn viên” thuận theo khí cơ mà làm. Không được nhanh quá, cũng không được chậm quá.

三、在煉功中必須以主意識控制自己。法輪功是修煉主意識的,不要有意的去追求晃動,如有晃動就要控制住,必要時,可以睜開眼睛。

Tam, Tại luyện công trung tất tu dĩ chủ ý thức khống chế tự kỷ. Pháp Luân Công thị tu luyện chủ ý thức đích, bất yếu hữu ý đích khứ truy cầu hoảng động, như hữu hoảng động tựu yếu khống chế trụ, tất yếu thời, khả dĩ tranh khai nhãn tình.

3. Trong luyện công phải lấy chủ ý thức khống chế bản thân mình. Pháp Luân Công là tu luyện chủ ý thức, không được cố ý truy cầu những lắc động, nếu có lắc động thì cần giữ vững [không cho dao động], khi cần thiết, có thể mở to mắt ra.

四、全身放鬆。特別是膝胯要放鬆,站的太直,氣脈是不通暢的。

Tứ, Toàn thân phóng túng. Đặc biệt thị tất khố yếu phóng túng, trạm đích thái trực, khí mạch thị bất thông sướng đích.

4. Toàn thân thả lỏng. Đặc biệt là chỗ đầu gối và háng cần buông lỏng, [nếu] đứng quá thẳng, mạch khí sẽ không thông thoáng.

五、煉功中,動作要輕鬆自然,舒展大方,柔中有剛,連貫自如,既有一定力度,又不死板僵硬。這樣做動作,功效明顯。

Ngũ, Luyện công trung, động tác yếu khinh tùng tự nhiên, thư triển đại phương, nhu trung hữu cương, liên quán tự như, ký hữu nhất định lực độ, hựu bất tử bản cương ngạnh. Giá dạng tố động tác, công hiệu minh hiển.

5. Khi luyện công, động tác cần nhẹ nhàng tự nhiên, rộng rãi khoáng đãng, trong nhu có cương, liền mạch như ý, đã có lực độ nhất định, mà lại không ngay đơ cứng ngắc. Làm các động tác như thế, công hiệu sẽ hiển lộ rõ ràng.

六、每當煉功結束時,「只收勢,不收功」,只做「結印」動作即可,結印畢,收勢完。不要用意念去收功,因為法輪是不能停轉的。

Lục, Mỗi đương luyện công kết thúc thời, “chỉ thu thế, bất thu công”, chỉ tố “kết ấn” động tác tức khả, kết ấn tất, thu thế hoàn. Bất yếu dụng ý niệm khứ thu công, nhân vi Pháp Luân thị bất năng đình chuyển đích.

6. Mỗi khi luyện công kết thúc, “chỉ thu thế, không thu công”, chỉ làm động tác “kết ấn” là được rồi, kết ấn xong là thu thế xong. Không được dùng ý niệm để thu công, vì Pháp Luân là không thể ngừng xoay chuyển.

七、久病體弱者,可根據實際情況少煉,或者任選一套修煉。不能煉動功可以打坐。煉功一般不宜間斷。

Thất, Cửu bệnh thể nhược giả, khả căn cứ thực tế tình huống thiểu luyện, hoặc giả nhậm tuyển nhất sáo tu luyện. Bất năng luyện động công khả dĩ đả toạ. Luyện công nhất ban bất nghi gian đoạn.

7. Người bệnh lâu thân yếu, có thể căn cứ theo tình huống thực tế mà luyện ít hơn, hoặc chọn một bài nào đó mà tu luyện. Không thể luyện động tác thì có thể ngồi đả toạ. Luyện công thông thường là không nên gián đoạn.

八、煉功的場地、時間和方向沒有特別要求,但要求場地要清潔、環境要安靜。

Bát, Luyện công đích trường địa, thời gian hoà phương hướng một hữu đặc biệt yêu cầu, đãn yêu cầu trường địa yếu thanh khiết, hoàn cảnh yếu an tĩnh.

8. Địa điểm, thời gian, và phương hướng luyện công là không có yêu cầu đặc biệt, nhưng yêu cầu nơi luyện công cần thanh khiết, hoàn cảnh cần an tĩnh.

九、煉此功不帶意念,不會出偏。但不要摻和著別的功法,如果煉功時加進其它功法,法輪是會變形的。

Cửu, Luyện thử công bất đới ý niệm, bất hội xuất thiên. Đãn bất yếu sam hoà trước biệt đích công pháp, như quả luyện công thời gia tiến kỳ tha công pháp, Pháp Luân thị hội biến hình đích.

9. Luyện công này là không mang ý niệm, sẽ không xuất thiên [sai]. Nhưng không được thêm lẫn vào công pháp khác, nếu khi luyện công mà thêm vào công pháp khác, thì Pháp Luân sẽ biến hình.

十、煉功時實在靜不下來,可以念師父的名字,久而久之自然就靜下來了。

Thập, Luyện công thời thực tại tĩnh bất hạ lai, khả dĩ niệm Sư phụ đích danh tự, cửu nhi cửu chi tự nhiên tựu tĩnh hạ lai liễu.

10. Khi luyện công mà không tĩnh xuống được, có thể niệm tên của Sư phụ, dần dần sẽ tự nhiên tĩnh xuống được.

十一、煉功時會遇到一些魔難,魔難是還「業」的一種方式。每個人都有「業」,身體出現不舒服時,不要認為是有病。為了消「業」,給修煉掃清道路,魔難來的要快、要提前。

Thập nhất, Luyện công thời hội ngộ đáo nhất ta ma nạn, ma nạn thị hoàn “nghiệp” đích nhất chủng phương thức. Mỗi cá nhân đô hữu “nghiệp”, thân thể xuất hiện bất thư phục thời, bất yếu nhận vi thị hữu bệnh. Vi liễu tiêu “nghiệp”, cấp tu luyện tảo thanh đạo lộ, ma nạn lai đích yếu khoái, yếu đề tiền.

11. Khi luyện công sẽ gặp một số ma nạn, ma nạn là một loại phương thức trả “nghiệp”. Mỗi người đều có “nghiệp”, khi thân thể xuất hiện không thoải mái, thì không được tưởng đó là bệnh. Vì tiêu “nghiệp”, quét sạch con đường cho tu luyện, thì ma nạn sẽ tới nhanh hơn, sớm hơn.

十二、打坐時盤不上腿,可以先坐在椅子邊上煉功,也能收到同樣的效果。但是,作為煉功人,必須要能盤腿,時間久了慢慢的總會盤的上的。

Thập nhị, Đả toạ thời bàn bất thượng thối, khả dĩ tiên toạ tại kỷ tử biên thượng luyện công, dã năng thu đáo đồng dạng đích hiệu quả. Đãn thị, tác vi luyện công nhân, tất tu yếu năng bàn thối, thời gian cửu liễu mạn mạn đích tổng hội bàn đích thượng đích.

12. Khi ngồi đả toạ mà không chéo chân lên được, có thể trước hãy tạm ngồi ở mép ghế để luyện công, cũng có thể tu được hiệu quả đồng dạng. Nhưng, là người luyện công, ắt phải có thể ngồi xếp bằng, thời gian lâu dần sẽ rốt cuộc cũng chéo chân lên được.

十三、在煉靜功中,如看到圖象,或者一些景象,不要去理睬它,仍煉自己的功。如有驚嚇現象干擾時,或者受到甚麼威脅時,要立即想到:我有法輪功老師保護,甚麼都不怕;或者喊李老師的名字,繼續煉功。

Thập tam, Tại luyện tĩnh công trung, như khán đáo đồ tượng, hoặc giả nhất ta cảnh tượng, bất yếu khứ lý thải tha, nhưng luyện tự kỷ đích công. Như hữu kinh hách hiện tượng can nhiễu thời, hoặc giả thụ đáo thậm ma uy hiếp thời, yếu lập tức tưởng đáo: Ngã hữu Pháp Luân Công Lão sư bảo hộ, thậm ma đô bất phạ; hoặc giả hám lý Lão sư đích danh tự, kế tục luyện công.

13. Khi luyện tĩnh công, nếu nhìn thấy các hình ảnh hoặc một số cảnh tượng, thì không được đi chú ý tới chúng, mà cứ luyện công của mình. Nếu có hiện tượng kinh khiếp làm can nhiễu, hoặc khi phải chịu uy hiếp nào đó, thì cần lập tức nghĩ: ‘ta có Thầy của Pháp Luân Công bảo hộ, không sợ gì cả’; hoặc hô tên của Thầy, cứ tiếp tục luyện công.


 

Chương V • Trả lời nghi vấn

第五章 • 答疑

Đệ ngũ chương • Đáp nghi

Chương V • Trả lời nghi vấn

一、法輪和法輪功

Nhất, Pháp Luân hoà Pháp Luân Công

I. Pháp Luân và Pháp Luân Công

弟子:法輪是由甚麼構成的?

Đệ tử: Pháp Luân thị do thậm ma cấu thành đích?

Đệ tử: Pháp Luân do gì cấu thành?

師:法輪是一種高能量物質構成的靈體,自己會轉化功,不存在我們這個空間。

Sư: Pháp Luân thị nhất chủng cao năng lượng vật chất cấu thành đích linh thể, tự kỷ hội chuyển hoá công, bất tồn tại ngã môn giá cá không gian.

Thầy: Pháp Luân là một loại linh thể cấu thành từ vật chất cao năng lượng, tự mình chuyển hoá công, không tồn tại ở không gian này của chúng ta.

弟子:法輪是啥樣的?

Đệ tử: Pháp Luân thị xá dạng đích?

Đệ tử: Pháp Luân [trông] như thế nào?

師:法輪的顏色只能說是金黃色的,咱們這個空間還沒有這種顏色。圈的底是非常鮮豔的大紅色;外圈底是橙黃的;有兩位紅黑太極是道家的;有兩位紅藍太極是先天大道的,這是兩種不同的東西。「卍」字符是金黃色的。天目層次低的人看到的就像電扇那樣轉,若能看清楚是相當好看的,會使煉功人的修煉更加勇猛精進。

Sư: Pháp Luân đích nhan sắc chỉ năng thuyết thị kim hoàng sắc đích, cha môn giá cá không gian hài một hữu giá chủng nhan sắc. Khuyên đích để thị phi thường tiên diễm đích đại hồng sắc; ngoại khuyên để thị tranh hoàng đích; hữu lưỡng vị hồng hắc Thái Cực thị Đạo gia đích; hữu lưỡng vị hồng lam Thái Cực thị Tiên Thiên Đại Đạo đích, giá thị lưỡng chủng bất đồng đích đông tây. “Vạn” tự phù thị kim hoàng sắc đích. Thiên mục tầng thứ đê đích nhân khán đáo đích tựu tượng điện phiến na dạng chuyển, nhược năng khán thanh sở thị tương đương hảo khán đích, hội sử luyện công nhân đích tu luyện cánh gia dũng mãnh tinh tấn.

Thầy: Màu sắc của Pháp Luân chỉ có thể nói đó là màu vàng kim, không gian này của chúng ta không có loại màu sắc đó. Nền của hình tròn là màu đỏ hết sức tươi sáng; nền của hình tròn ngoài là màu da cam; có hai Thái Cực màu đỏ-đen là Đạo gia; có hai Thái Cực đỏ-xanh lam là Tiên Thiên Đại Đạo; chúng là những điều khác nhau. Phù [hiệu] chữ vạn “” là màu vàng kim. Người có thiên mục tầng thứ thấp nhìn thấy là xoay xoay như quạt điện, nếu có thể thấy được rõ ràng thì sẽ trông thấy rất đẹp, sẽ khiến người luyện công tu luyện dũng mãnh tinh tấn hơn.

弟子:法輪初期在甚麼位置?以後在甚麼位置?

Đệ tử: Pháp Luân sơ kỳ tại thậm ma vị trí? Dĩ hậu tại thậm ma vị trí?

Đệ tử: Ban đầu Pháp Luân ở vị trí nào? Sau đó là ở vị trí nào?

師:我真正給大家的法輪只有一個,在小腹部位上,也就是我們說煉丹守丹部位,他的位置是不變的。有人能看到許許多多的法輪在轉,那是我的法身在給你調整身體時外用的。

Sư: Ngã chân chính cấp đại gia đích Pháp Luân chỉ hữu nhất cá, tại tiểu phúc bộ vị thượng, dã tựu thị ngã môn thuyết luyện đan thủ đan bộ vị, Tha đích vị trí thị bất biến đích. Hữu nhân năng khán đáo hứa hứa đa đa đích Pháp Luân tại chuyển, na thị ngã đích Pháp thân tại cấp nhĩ điều chỉnh thân thể thời ngoại dụng đích.

Thầy: Pháp Luân mà tôi chân chính cấp cho chư vị là chỉ có một cái, ở chỗ bụng dưới, cũng chính là vị trí mà chúng ta gọi là luyện đan giữ đan, vị trí của Nó không thay đổi. Có người có thể nhìn thấy rất nhiều Pháp Luân đang xoay chuyển, đó là Pháp thân của tôi sử dụng bên ngoài để điều chỉnh thân thể cho chư vị.

弟子:煉功,能煉出法輪來嗎?能煉出多少?這和老師給的有甚麼不同?

Đệ tử: Luyện công, năng luyện xuất Pháp Luân lai ma? Năng luyện xuất đa thiểu? Giá hoà Lão sư cấp đích hữu thậm ma bất đồng?

Đệ tử: Luyện công, có thể luyện xuất ra Pháp Luân không? Có thể luyện xuất ra bao nhiêu? Cái này có gì khác với cái mà Thầy cấp cho?

師:煉功能煉出法輪來,當你功力不斷加深時,法輪就會越來越多,法輪都是一樣的,只是在小腹部的法輪不到處動,那是根。

Sư: Luyện công năng luyện xuất Pháp Luân lai, đương nhĩ công lực bất đoạn gia thâm thời, Pháp Luân tựu hội việt lai việt đa, Pháp Luân đô thị nhất dạng đích, chỉ thị tại tiểu phúc bộ đích Pháp Luân bất đáo xứ động, na thị căn.

Thầy: Luyện công có thể luyện xuất ra Pháp Luân, khi công lực của chư vị không ngừng thâm sâu hơn, Pháp Luân sẽ càng ngày càng nhiều, Pháp Luân đều cùng một dạng, chỉ là Pháp Luân ở vị trí bụng dưới sẽ không di động các nơi, đó là gốc.

弟子:怎樣體察法輪的存在和旋轉?

Đệ tử: Chẩm dạng thể sát Pháp Luân đích tồn tại hoà toàn chuyển?

Đệ tử: Làm thế nào cảm nhận biết được sự tồn tại và xoay chuyển của Pháp Luân?

師:不用去體驗,有的人很敏感,他會感到法輪在轉。在法輪剛下上初期,你可能會感到體內有些不適應,腹痛,有東西在動,有熱的感覺等等。等順應過來以後,就沒有感覺了。但是有功能的人能看到,就像胃一樣,你不會感到胃在動。

Sư: Bất dụng khứ thể nghiệm, hữu đích nhân ngận mẫn cảm, tha hội cảm đáo Pháp Luân tại chuyển. Tại Pháp Luân cương hạ thượng sơ kỳ, nhĩ khả năng hội cảm đáo thể nội hữu ta bất thích ứng, phúc thống, hữu đông tây tại động, hữu nhiệt đích cảm giác đẳng đẳng. Đẳng thuận ưng quá lai dĩ hậu, tựu một hữu cảm giác liễu. Đãn thị hữu công năng đích nhân năng khán đáo, tựu tượng vị nhất dạng, nhĩ bất hội cảm đáo vị tại động.

Thầy: Không cần đi thể nghiệm, có người rất mẫn cảm, họ sẽ cảm thấy Pháp Luân đang xoay. Ban đầu mới cài Pháp Luân, chư vị có thể sẽ cảm thấy trong [thân] thể có gì đó không thích ứng, đau bụng, có gì đó đang động, có cảm giác nóng, v.v. Qua một thời gian thích ứng rồi, thì không còn cảm giác nữa. Nhưng người có công năng là có thể nhìn thấy, chính là tựa như dạ dày của chư vị, chư vị sẽ không cảm thấy dạ dày đang động.

弟子:法輪圖上的法輪旋轉方向和學員證(指北京第一、二期)上的不一樣,聽課用的學員證上法輪是逆時針轉的,為甚麼?

Đệ tử: Pháp Luân đồ thượng đích Pháp Luân toàn chuyển phương hướng hoà học viên chứng (chỉ Bắc Kinh đệ nhất, nhị kỳ) thượng đích bất nhất dạng, thính khoá dụng đích học viên chứng thượng Pháp Luân thị nghịch thời châm chuyển đích, vi thậm ma?

Đệ tử: Phương hướng xoay chuyển của Pháp Luân trên đồ [hình] Pháp Luân khác với [Pháp Luân trên] thẻ học viên (nói về [lớp học] kỳ 1 và kỳ 2 ở Bắc Kinh), Pháp Luân ở trên thẻ học viên dùng khi nghe bài giảng là xoay ngược chiều kim đồng hồ, tại sao như thế?

師:目地就是給大家一點好東西,他向外發放能量是給大家調整身體,所以不是順時針轉的,你們能看到他是轉的。

Sư: Mục địa tựu thị cấp đại gia nhất điểm hảo đông tây, Tha hướng ngoại phát phóng năng lượng thị cấp đại gia điều chỉnh thân thể, sở dĩ bất thị thuận thời châm chuyển đích, nhĩ môn năng khán đáo Tha thị chuyển đích.

Thầy: Mục đích là cấp cho mọi người một chút những điều tốt đẹp, Nó phát phóng năng lượng ra ngoài là điều chỉnh thân thể cho mọi người, nên không phải là xoay theo chiều kim đồng hồ, chư vị có thể nhìn thấy Nó đang xoay chuyển.

弟子:老師給每個學員下法輪的時機?

Đệ tử: Lão sư cấp mỗi cá học viên hạ Pháp Luân đích thời cơ?

Đệ tử: Thời điểm nào Thầy cài Pháp Luân cho mỗi từng học viên?

師:我們在這裏和大家說一下,我們有些學員煉過很多功法,難就難在要把他身上亂七八糟的東西都處理掉,好的留下,壞的去掉,多了一道手續。此後,就可以把法輪下上。根據他煉功層次高低,下的法輪大小不同。有些人沒煉過功,通過調整,根基也不錯,在我這個班上病去掉了,走出了煉氣的層次,進入奶白體狀態,也可以下上法輪。好些人身體相當差,一直在調整,沒有調整好怎麼下法輪?這只是少部份人下不上,不要緊,我已經把形成法輪的氣機下上了。

Sư: Ngã môn tại giá lý hoà đại gia thuyết nhất hạ, ngã môn hữu ta học viên luyện quá ngận đa công pháp, nan tựu nan tại yếu bả tha thân thượng loạn thất bát tao đích đông tây đô xứ lý điệu, hảo đích lưu hạ, hoại đích khứ điệu, đa liễu nhất đạo thủ tục. Thử hậu, tựu khả dĩ bả Pháp Luân hạ thượng. Căn cứ tha luyện công tầng thứ cao đê, hạ đích Pháp Luân đại tiểu bất đồng. Hữu ta nhân một luyện quá công, thông quá điều chỉnh, căn cơ dã bất thác, tại ngã giá cá ban thượng bệnh khứ điệu liễu, tẩu xuất liễu luyện khí đích tầng thứ, tiến nhập nãi bạch thể trạng thái, dã khả dĩ hạ thượng Pháp Luân. Hảo ta nhân thân thể tương đương sai, nhất trực tại điều chỉnh, một hữu điều chỉnh hảo chẩm ma hạ Pháp Luân? Giá chỉ thị thiểu bộ phận nhân hạ bất thượng, bất yếu khẩn, ngã dĩ kinh bả hình thành Pháp Luân đích khí cơ hạ thượng liễu.

Thầy: Ở đây chúng tôi cùng mọi người nói một chút, một số học viên chúng ta từng luyện rất nhiều công pháp, khó chính là khó ở chỗ xử lý sạch hết những thứ loạn lung tung trên thân họ, cái tốt lưu lại, cái xấu bỏ đi, [vậy là] thêm một đoạn thủ tục. Sau đó, thì có thể cài Pháp Luân. Căn cứ họ luyện công tầng thứ cao thấp, mà Pháp Luân được cài là lớn nhỏ khác nhau. Có người chưa từng luyện công, thông qua điều chỉnh, căn cơ cũng rất khá, ở lớp học này của tôi thì cũng trừ bỏ bệnh rồi, đi xuất khỏi tầng thứ luyện khí, và tiến nhập trạng thái ‘nãi bạch thể’, cũng có thể cài Pháp Luân. Khá nhiều người thân thể khá kém, [từ đó đến nay] vẫn luôn điều chỉnh, [ai] chưa điều chỉnh xong thì làm sao cài Pháp Luân? Đó chỉ là một phần nhỏ số người là vẫn chưa cài được, đừng sốt ruột, tôi đã cài khí cơ mà sẽ hình thành Pháp Luân rồi.

弟子:法輪是如何帶上的?

Đệ tử: Pháp Luân thị như hà đới thượng đích?

Đệ tử: Pháp Luân là được mang theo như thế nào?

師:這不是帶上的。我把法輪打出去下在你們小腹部位,可不是在我們這個物質空間,在另外的空間,要是在這個空間,你的小腹部位有腸子,有腸子那一轉還了得嗎?他是在另一個物質空間,和你這邊沒有衝突。

Sư: Giá bất thị đới thượng đích. Ngã bả Pháp Luân đả xuất khứ hạ tại nhĩ môn tiểu phúc bộ vị, khả bất thị tại ngã môn giá cá vật chất không gian, tại lánh ngoại đích không gian, yếu thị tại giá cá không gian, nhĩ đích tiểu phúc bộ vị hữu trường tử, hữu trường tử na nhất chuyển hài liễu đắc ma? Tha thị tại lánh nhất cá vật chất không gian, hoà nhĩ giá biên một hữu xung đột.

Thầy: Đó không phải là ‘mang theo’. Tôi đưa Pháp Luân ra cài vào chỗ bụng dưới của chư vị, nhưng không phải tại không gian vật chất này của chúng ta, mà tại không gian khác, nếu mà ở không gian này, thì trong bụng dưới chư vị có ruột, có ruột ở đó thì xoay chuyển là xoay chuyển được sao? Nó là ở không gian vật chất khác, không có xung đột gì với chư vị ở bên này.

弟子:下期傳授班是否繼續給法輪?

Đệ tử: Hạ kỳ truyền thụ ban thị phủ kế tục cấp Pháp Luân?

Đệ tử: Lớp học truyền thụ kế tiếp thì có tiếp tục cấp Pháp Luân không?

師:你就得一個。有人感到有許多法輪在轉,那是外用的,用來調整你的身體。我們這個功最大的特點是在發放能量時打出去一串串法輪,所以你沒有煉功就有許許多多的法輪在你身上轉來轉去,調整你的身體。真正給你的法輪是在小腹部位那個。

Sư: Nhĩ tựu đắc nhất cá. Hữu nhân cảm đáo hữu hứa đa Pháp Luân tại chuyển, na thị ngoại dụng đích, dụng lai điều chỉnh nhĩ đích thân thể. Ngã môn giá cá công tối đại đích đặc điểm thị tại phát phóng năng lượng thời đả xuất khứ nhất xuyến xuyến Pháp Luân, sở dĩ nhĩ một hữu luyện công tựu hữu hứa hứa đa đa đích Pháp Luân tại nhĩ thân thượng chuyển lai chuyển khứ, điều chỉnh nhĩ đích thân thể. Chân chính cấp nhĩ đích Pháp Luân thị tại tiểu phúc bộ vị na cá.

Thầy: Chư vị là đắc một cái [thôi]. Có người cảm thấy có rất nhiều Pháp Luân đang xoay chuyển, đó là dùng bên ngoài, dùng để điều chỉnh thân thể chư vị. Công này của chúng ta có đặc điểm lớn nhất là khi phát phóng năng lượng là xuất ra một xâu chuỗi Pháp Luân, cho nên khi chư vị không luyện công thì có rất nhiều Pháp Luân đang chuyển tới chuyển lui trên thân thể chư vị, điều chỉnh thân thể chư vị. Còn Pháp Luân mà chân chính cấp cho chư vị là cái ở vị trí bụng dưới.

弟子:不煉功是否意味著法輪會消失?法輪能存在多久?

Đệ tử: Bất luyện công thị phủ ý vị trước Pháp Luân hội tiêu thất? Pháp Luân năng tồn tại đa cửu?

Đệ tử: Không luyện công nữa thì phải chăng ngụ ý là Pháp Luân sẽ tiêu mất? Pháp Luân tồn tại bao lâu?

師:你只要把自己看作是個煉功人,按我講的心性要求去做,在你沒煉功時,他不但不會消失,反而還會加強,你的功力還會長。可是相反,你煉功比誰都勤,但沒按著我要求的心性去做,恐怕煉也白煉,雖然煉功,也不起作用。不管你煉哪種功法,沒按要求去做,很可能煉的是邪法。如果你頭腦中盡想不好的事,誰怎麼那麼壞呀?等我出了功能非治他一下不可。就是學法輪功,在煉功中加進這些東西,沒照我說的心性要求,不也是在練邪法嗎?

Sư: Nhĩ chỉ yếu bả tự kỷ khán tác thị cá luyện công nhân, án ngã giảng đích tâm tính yêu cầu khứ tố, tại nhĩ một luyện công thời, Tha bất đãn bất hội tiêu thất, phản nhi hài hội gia cường, nhĩ đích công lực hài hội trưởng. Khả thị tương phản, nhĩ luyện công tỷ thuỳ đô cần, đãn một án trước ngã yêu cầu đích tâm tính khứ tố, khủng phạ luyện dã bạch luyện, tuy nhiên luyện công, dã bất khởi tác dụng. Bất quản nhĩ luyện nả chủng công pháp, một án yêu cầu khứ tố, ngận khả năng luyện đích thị tà pháp. Như quả nhĩ đầu não trung tận tưởng bất hảo đích sự, thuỳ chẩm ma na ma hoại nha? Đẳng ngã xuất liễu công năng phi trị tha nhất hạ bất khả. Tựu thị học Pháp Luân Công, tại luyện công trung gia tiến giá ta đông tây, một chiếu ngã thuyết đích tâm tính yêu cầu, bất dã thị tại luyện tà pháp ma?

Thầy: Chừng nào chư vị đối đãi bản thân như người tu luyện, chiểu theo yêu cầu tâm tính do tôi giảng mà làm, thì khi chư vị không luyện công, Nó không những không tiêu mất, mà trái lại còn mạnh hơn, công lực của chư vị vẫn sẽ tăng trưởng. Nhưng [nếu] trái lại, chư vị luyện công cần cù hơn bất kỳ ai, nhưng không chiểu theo tâm tính do tôi yêu cầu mà làm, thì e rằng luyện cũng như không, tuy rằng luyện công, cũng không tác dụng. Dù chư vị luyện loại công pháp nào, nếu không chiểu theo yêu cầu mà làm, thì có thể là luyện tà pháp. Nếu chư vị trong đầu não toàn nghĩ chuyện bất hảo, ‘Ai đó sao mà tệ quá? Đợi ta có công năng sẽ không thể không trị ngươi một chuyến’. Thì dù là học Pháp Luân Công, [nếu] trong luyện công cứ thêm lẫn những thứ đó vào, không chiểu theo yêu cầu tâm tính do tôi nói, thì chẳng cũng đang luyện tà pháp sao?

弟子:老師常說「法輪就是花一億元錢也得不到」是甚麼意思?

Đệ tử: Lão sư thường thuyết “Pháp Luân tựu thị hoa nhất ức nguyên tiền dã đắc bất đáo” thị thậm ma ý tư?

Đệ tử: Thầy thường nói “Pháp Luân là dù tiêu trăm triệu đồng cũng không có nổi” là ngụ ý gì?[1]

[1] nguyên: đồng nhân dân tệ Trung Quốc.

師:就是說,他太珍貴了。我給你的東西不僅是法輪,還有保證你煉功的一些東西都是珍貴的,都是千金不換的。

Sư: Tựu thị thuyết, Tha thái trân quý liễu. Ngã cấp nhĩ đích đông tây bất cận thị Pháp Luân, hài hữu bảo chứng nhĩ luyện công đích nhất ta đông tây đô thị trân quý đích, đô thị thiên kim bất hoán đích.

Thầy: Là nói rằng, Nó quá trân quý. Tôi cấp cho chư vị ấy không chỉ là Pháp Luân, còn có những điều đảm bảo cho chư vị tu luyện và đó đều là quý giá, dù lấy bao nhiêu vàng cũng không đổi được.

弟子:來遲了能不能得到法輪?

Đệ tử: Lai trì liễu năng bất năng đắc đáo Pháp Luân?

Đệ tử: Tới muộn thì có thể đắc Pháp Luân không?

師:只要你是最後三天之前來的,都能得到調整,同時下上法輪和其它東西。最後三天來的就不好說了,但也會得到調整,下東西是很難的,也許你條件不錯就下上了。

Sư: Chỉ yếu nhĩ thị tối hậu tam thiên chi tiền lai đích, đô năng đắc đáo điều chỉnh, đồng thời hạ thượng Pháp Luân hoà kỳ tha đông tây. Tối hậu tam thiên lai đích tựu bất hảo thuyết liễu, đãn dã hội đắc đáo điều chỉnh, hạ đông tây thị ngận nan đích, dã hứa nhĩ điều kiện bất thác tựu hạ thượng liễu.

Thầy: Chỉ cần chư vị tới vào trước ba ngày cuối [của khoá học], đều có thể được điều chỉnh, đồng thời cài Pháp Luân và những thứ khác. Trong ba ngày cuối mới đến [học] thì khó nói lắm, nhưng cũng sẽ được điều chỉnh, còn cài những thứ kia thì rất khó, có lẽ điều kiện của chư vị rất khá thì cũng cài được rồi.

弟子:用法輪來糾正人體不正確狀態是一種方法嗎?

Đệ tử: Dụng Pháp Luân lai củ chính nhân thể bất chính xác trạng thái thị nhất chủng phương pháp ma?

Đệ tử: Dùng Pháp Luân để chỉnh lại cho ‘chính’ trạng thái không đúng đắn của [thân] thể người thì đó có phải là một loại phương pháp?

師:不全用法輪來糾正,老師會用許多方法糾正的。

Sư: Bất toàn dụng Pháp Luân lai củ chính, Lão sư hội dụng hứa đa phương pháp củ chính đích.

Thầy: Không phải toàn chỉ dùng Pháp Luân để chỉnh lại, Thầy sẽ dùng rất nhiều phương pháp để chỉnh.

弟子:創立法輪功的史前背景如何?

Đệ tử: Sáng lập Pháp Luân Công đích sử tiền bối cảnh như hà?

Đệ tử: Sáng lập Pháp Luân Công có bối cảnh tiền sử như thế nào?

師:我想這個問題太大了,太高了,超出了我們這個層次應該知道的範圍,在這裏不能講。但有一點,大家要知道,這不是佛教氣功,這是佛家氣功,他不是佛教。但我們和佛教有一個共同的目標,只是修的法門不同,走的路不同,目標是一致的。

Sư: Ngã tưởng giá cá vấn đề thái đại liễu, thái cao liễu, siêu xuất liễu ngã môn giá cá tầng thứ ưng cai tri đạo đích phạm vi, tại giá lý bất năng giảng. Đãn hữu nhất điểm, đại gia yếu tri đạo, giá bất thị Phật giáo khí công, giá thị Phật gia khí công, Tha bất thị Phật giáo. Đãn ngã môn hoà Phật giáo hữu nhất cá cộng đồng đích mục tiêu, chỉ thị tu đích pháp môn bất đồng, tẩu đích lộ bất đồng, mục tiêu thị nhất trí đích.

Thầy: Tôi nghĩ rằng vấn đề này lớn quá, cao quá, vượt khỏi phạm vi mà tầng thứ này của chúng ta nên biết, không thể giảng ở đây. Nhưng có một điểm, mọi người cần biết, đây không phải là khí công Phật giáo, đây là khí công Phật gia, Nó không phải là Phật giáo. Nhưng chúng ta và Phật giáo là có một mục tiêu chung, chỉ là pháp môn tu khác nhau, con đường đi khác nhau thôi, còn mục tiêu là nhất trí.

弟子:法輪功歷史有多長?

Đệ tử: Pháp Luân Công lịch sử hữu đa trường?

Đệ tử: Pháp Luân Công có lịch sử bao lâu?

師:我煉的功法和傳出來的這套東西不完全一樣。我煉的法輪威力要比傳出來的更大,長功也比現在的這套功快。雖然如此,我現在傳出來的這套功法長功也已經很快了,所以對煉功者的心性要求就更高更嚴。我傳出來的東西是經過整理後拿出來的,要求不那麼高,但比一般功要高,他和原來的東西不一樣,所以就說我是創始人。至於問法輪功歷史多長,沒拿出來傳也不算,我是去年(一九九二年)五月開始在東北傳功的,你就說他是從去年五月開始的吧。

Sư: Ngã luyện đích công pháp hoà truyền xuất lai đích giá sáo đông tây bất hoàn toàn nhất dạng. Ngã luyện đích Pháp Luân uy lực yếu tỷ truyền xuất lai đích cánh đại, trưởng công dã tỷ hiện tại đích giá sáo công khoái. Tuy nhiên như thử, ngã hiện tại truyền xuất lai đích giá sáo công pháp trưởng công dã dĩ kinh ngận khoái liễu, sở dĩ đối luyện công giả đích tâm tính yêu cầu tựu cánh cao cánh nghiêm. Ngã truyền xuất lai đích đông tây thị kinh quá chỉnh lý hậu nã xuất lai đích, yêu cầu bất na ma cao, đãn tỷ nhất ban công yếu cao, Tha hoà nguyên lai đích đông tây bất nhất dạng, sở dĩ tựu thuyết ngã thị sáng thuỷ nhân. Chí ư vấn Pháp Luân Công lịch sử đa trường, một nã xuất lai truyền dã bất toán, ngã thị khứ niên (nhất cửu cửu nhị niên) ngũ nguyệt khai thuỷ tại Đông Bắc truyền công đích, nhĩ tựu thuyết Tha thị tùng khứ niên ngũ nguyệt khai thuỷ đích ba.

Thầy: Công pháp mà tôi luyện không hoàn toàn giống với bộ những thứ được truyền ra này. Pháp Luân mà tôi luyện là uy lực lớn hơn nếu so với [Pháp Luân] truyền ra, tăng trưởng công cũng nhanh hơn so với bộ công hiện tại này. Tuy là như vậy, bộ công pháp này do tôi truyền ra hiện nay cũng đã tăng công rất nhanh rồi, do đó yêu cầu tâm tính đối với người tu luyện là cao hơn nghiêm túc hơn [so với công pháp thông thường]. Những điều tôi truyền ra là đã qua chỉnh lý rồi đưa ra, yêu cầu không cao như thế kia, nhưng vẫn cao hơn công thông thường, Nó không đồng dạng với những điều nguyên lai, cho nên nói tôi là người sáng lập. Còn nếu như hỏi Pháp Luân Công có lịch sử bao lâu, không tính lúc chưa truyền ra, thì tôi là tháng Năm năm ngoái (1992) bắt đầu truyền công ở vùng Đông Bắc [Trung Quốc], chư vị có thể nói Nó là bắt đầu từ tháng Năm năm ngoái.

弟子:我們聽講,老師給我們甚麼?

Đệ tử: Ngã môn thính giảng, Lão sư cấp ngã môn thậm ma

Đệ tử: [Khi] chúng con nghe giảng, thì Thầy cấp cho chúng con những gì?

師:法輪給大家了。有修煉的法輪,還有調整身體的法輪,同時還有我的法身在管你,每人都有,只要你是煉法輪功的。你不煉功法身自然不管你,讓他去他也不去。你在想甚麼,我的法身知道的清清楚楚,明明白白。

Sư: Pháp Luân cấp đại gia liễu. Hữu tu luyện đích Pháp Luân, hài hữu điều chỉnh thân thể đích Pháp Luân, đồng thời hài hữu ngã đích Pháp thân tại quản nhĩ, mỗi nhân đô hữu, chỉ yếu nhĩ thị luyện Pháp Luân Công đích. Nhĩ bất luyện công Pháp thân tự nhiên bất quản nhĩ, nhượng Tha khứ Tha dã bất khứ. Nhĩ tại tưởng thậm ma, ngã đích Pháp thân tri đạo đích thanh thanh sở sở, minh minh bạch bạch.

Thầy: Đã cấp Pháp Luân cho mọi người rồi. Có Pháp Luân để tu luyện, còn có Pháp Luân để điều chỉnh thân thể, đồng thời còn có Pháp thân của tôi quản chư vị, mỗi người đều có, chỉ cần chư vị là luyện Pháp Luân Công. Chư vị không luyện công thì Pháp thân tự nhiên sẽ không quản chư vị, bảo họ tới họ cũng không tới. Chư vị đang nghĩ gì, Pháp thân của tôi đều biết rất rõ ràng, hết sức minh bạch.

弟子:法輪功能不能使我本身修成正果?

Đệ tử: Pháp Luân Công năng bất năng sử ngã bản thân tu thành chính quả?

Đệ tử: Pháp Luân Công có thể khiến bản thân con tu thành chính quả hay không?

師:大法無邊。就是修到如來的層次,也不是頂頭。我們是正法,你修去吧!得到的都是正果。

Sư: Đại Pháp vô biên. Tựu thị tu đáo Như Lai đích tầng thứ, dã bất thị đỉnh đầu. Ngã môn thị chính Pháp, nhĩ tu khứ ba! Đắc đáo đích đô thị chính quả.

Thầy: Đại Pháp vô biên. Chính là tu tới tầng thứ Như Lai, cũng không phải đỉnh cao nhất. Chúng ta là chính Pháp, chư vị cứ tu đi! Điều đắc được đều là chính quả.

二、功理與功法

Nhị, Công lý dữ công pháp

II. Công lý và công pháp

弟子:有人做完「大周天」回去,做夢在天上飄,看的很清楚,這是怎麼回事?

Đệ tử: Hữu nhân tố hoàn “đại chu thiên” hồi khứ, tố mộng tại thiên thượng phiêu, khán đích ngận thanh sở, giá thị chẩm ma hồi sự?

Đệ tử: Có người làm xong “đại chu thiên” rồi về [nhà], nằm mộng thấy bay lơ lửng ở trên trời, nhìn thấy rất rõ, đó là chuyện gì?

師:我告訴大家,你在打坐時或做夢時出現這種情況,不是夢,是元神離體了,這和夢截然不同。做夢不會看的那麼清楚,那麼具體。元神離體,你見到些甚麼,甚至怎樣飄起來的,你會看的很實,記的很清楚。

Sư: Ngã cáo tố đại gia, nhĩ tại đả toạ thời hoặc tố mộng thời xuất hiện giá chủng tình huống, bất thị mộng, thị nguyên thần ly thể liễu, giá hoà mộng tiệt nhiên bất đồng. Tố mộng bất hội khán đích na ma thanh sở, na ma cụ thể. Nguyên thần ly thể, nhĩ kiến đáo ta thậm ma, thậm chí chẩm dạng phiêu khởi lai đích, nhĩ hội khán đích ngận thực, ký đích ngận thanh sở.

Thầy: Tôi bảo mọi người này, chư vị khi đả toạ hoặc khi mộng mà xuất hiện loại tình huống như thế, [thì đó] không phải là mộng, mà là nguyên thần ly thể, điều này khác biệt hẳn với mộng. Mộng là sẽ không nhìn thấy rõ ràng như vậy, cụ thể như vậy. Nguyên thần ly thể, chư vị nhìn thấy những gì, thậm chí phiêu đãng bay thế nào, chư vị sẽ thấy rất thật, nhớ cũng rất rõ ràng.

弟子:法輪變形後會有甚麼不良後果?

Đệ tử: Pháp Luân biến hình hậu hội hữu thậm ma bất lương hậu quả?

Đệ tử: Pháp Luân biến hình thì sẽ có hậu quả không lành mạnh gì?

師:說明他走偏了,法輪就會失效,而且還會給你在修煉中帶來許許多多麻煩事,就好像這條大道你不走,走到叉道上去迷了路,找不到路,會遇麻煩事。這些事會反映在常人生活狀態中。

Sư: Thuyết minh tha tẩu thiên liễu, Pháp Luân tựu hội thất hiệu, nhi thả hài hội cấp nhĩ tại tu luyện trung đới lai hứa hứa đa đa ma phiền sự, tựu hảo tượng giá điều đại đạo nhĩ bất tẩu, tẩu đáo xoa đạo thượng khứ mê liễu lộ, trảo bất đáo lộ, hội ngộ ma phiền sự. Giá ta sự hội phản ánh tại thường nhân sinh hoạt trạng thái trung.

Thầy: Là nói lên rằng họ thiên [sai] rồi, Pháp Luân mất hiệu quả, hơn nữa còn mang tới rất nhiều chuyện phiền toái cho tu luyện của chư vị, kiểu như là đường lớn đại đạo này thì chư vị không đi, mà đi đường nhánh rồi mê đường lạc lối, tìm không ra đường nữa, sẽ gặp phiền toái. Những việc này sẽ phản ánh tới trạng thái cuộc sống [ở] người thường.

弟子:一個人煉功,家裏環境怎麼處理?家裏能有法輪嗎?

Đệ tử: Nhất cá nhân luyện công, gia lý hoàn cảnh chẩm ma xứ lý? Gia lý năng hữu Pháp Luân ma?

Đệ tử: Một người [riêng lẻ] luyện công, hoàn cảnh ở nhà xử lý thế nào? Trong nhà có thể có Pháp Luân không?

師:在座的,已經有好多人看到家裏有法輪存在了,家裏人也已經開始受益。我們講過,同時同地有很多空間存在,你家裏也不例外,需要處理。處理的方法,一般是處理掉不好的東西,然後再下個罩,甚麼不好的東西也進不去了。

Sư: Tại toạ đích, dĩ kinh hữu hảo đa nhân khán đáo gia lý hữu Pháp Luân tồn tại liễu, gia lý nhân dã dĩ kinh khai thuỷ thụ ích. Ngã môn giảng quá, đồng thời đồng địa hữu ngận đa không gian tồn tại, nhĩ gia lý dã bất lệ ngoại, nhu yếu xứ lý. Xứ lý đích phương pháp, nhất ban thị xứ lý điệu bất hảo đích đông tây, nhiên hậu tái hạ cá tráo, thậm ma bất hảo đích đông tây dã tiến bất khứ liễu.

Thầy: Ngồi tại đây, đã có khá nhiều người nhìn thấy trong nhà có tồn tại Pháp Luân, người nhà cũng bắt đầu thụ ích. Chúng ta từng giảng, cùng lúc cùng chỗ là có tồn tại rất nhiều không gian, nhà của chư vị cũng không ngoại lệ, [cũng] cần xử lý. Phương pháp xử lý, thông thường là xử rớt đi những thứ bất hảo, sau đó gắn một cái lồng [bảo vệ], những thứ bất hảo nào sẽ không tiến vào được nữa.

弟子:煉功中氣衝病灶,感到痛腫是怎麼回事?

Đệ tử: Luyện công trung khí xung bệnh táo, cảm đáo thống thũng thị chẩm ma hồi sự?

Đệ tử: Trong luyện công khí xông vào chỗ bệnh, cảm giác sưng đau thì đó là vì sao?

師:病是一種黑色的能量團。在傳授班初期把它打散後,會感到病灶部位發脹,然而它已經失去根了,在向外發散,很快就會排出去,病就不存在了。

Sư: Bệnh thị nhất chủng hắc sắc đích năng lượng đoàn. Tại truyền thụ ban sơ kỳ bả tha đả tản hậu, hội cảm đáo bệnh táo bộ vị phát trướng, nhiên nhi tha dĩ kinh thất khứ căn liễu, tại hướng ngoại phát tản, ngận khoái tựu hội bài xuất khứ, bệnh tựu bất tồn tại liễu.

Thầy: Bệnh là một loại cục năng lượng khí đen. Tại thời kỳ đầu lớp truyền thụ thì đánh tan chúng, và sau đó sẽ cảm thấy chỗ bệnh sưng lên, nhưng chúng đã mất gốc rồi, và đang phát tán ra ngoài, sẽ rất nhanh bài xuất ra, bệnh sẽ không tồn tại nữa.

弟子:原有的病進班幾天消掉了,可是過了幾天又突然出現了,這是怎麼回事?

Đệ tử: Nguyên hữu đích bệnh tiến ban kỷ thiên tiêu điệu liễu, khả thị quá liễu kỷ thiên hựu đột nhiên xuất hiện liễu, giá thị chẩm ma hồi sự?

Đệ tử: Chỗ mà vẫn có bệnh thì đi học mấy ngày đã tiêu rớt rồi, nhưng qua mấy ngày lại đột nhiên xuất hiện, đó là vì sao?

師:因為這功層次長的非常快,一個層次很短時間就過去了,你都沒體察到,實際上病已經好了。後來的症狀是我所講過的「劫難」來了,你細細體察一下,和你原來的病狀是不一樣的。你去找其他氣功師調理,他也動不了,是長功時業力的反應。

Sư: Nhân vi giá công tầng thứ trưởng đích phi thường khoái, nhất cá tầng thứ ngận đoản thời gian tựu quá khứ liễu, nhĩ đô một thể sát đáo, thực tế thượng bệnh dĩ kinh hảo liễu. Hậu lai đích chứng trạng thị ngã sở giảng quá đích “kiếp nạn” lai liễu, nhĩ tế tế thể sát nhất hạ, hoà nhĩ nguyên lai đích bệnh trạng thị bất nhất dạng đích. Nhĩ khứ trảo kỳ tha khí công sư điều lý, tha dã động bất liễu, thị trưởng công thời nghiệp lực đích phản ứng.

Thầy: Là vì công này tăng trưởng tầng thứ nhanh chóng phi thường, một tầng thứ chỉ trong thời gian ngắn là qua rồi, chư vị không cảm giác thấy, trên thực tế bệnh đã khỏi rồi. Bệnh trạng về sau là điều mà tôi gọi là “kiếp nạn” đã tới, chư vị quan sát cảm nhận thật chi tiết xem, là không giống với bệnh trạng vốn có của chư vị. Chư vị có đi tìm khí công sư khác để điều trị, thì họ cũng không động tới nổi, [đây] là phản ánh của nghiệp lực khi công tăng trưởng lên.

弟子:煉功還用不用吃藥?

Đệ tử: Luyện công hài dụng bất dụng ngật dược?

Đệ tử: Luyện công rồi thì còn cần uống thuốc không?

師:這個問題自己悟,煉功吃藥就是不相信煉功能治病,信你還吃甚麼藥。可是你不按心性標準要求自己,出了問題你會說李洪志不叫吃藥,可是李洪志還叫你嚴格要求你的心性,你做到了嗎?真正修煉大法的人,身上帶的都不是常人的東西,常人得的病都不允許在你身上得。你的心如果擺正的話,相信煉功能煉好,把藥停了,不去管,不去治,就有人給你治了。大家在這裏一天比一天好,一天比一天舒服,是怎麼回事?好多人身上有我的法身不斷的進出,忙忙活活的,就是在幫你做這些事。如果自己心裏不穩定,一邊煉功,一邊採取不相信或試試看的態度,那你甚麼也得不到。你相不相信佛,是由你的悟性、根基所決定的。如果佛顯現出來,就在這裏可以用肉眼看的清清楚楚,那人們都去學佛,就不存在思想轉換問題。你要先相信,然後才能看的到。

Sư: Giá cá vấn đề tự kỷ ngộ, luyện công ngật dược tựu thị bất tương tín luyện công năng trị bệnh, tín nhĩ hài ngật thậm ma dược. Khả thị nhĩ bất án tâm tính tiêu chuẩn yêu cầu tự kỷ, xuất liễu vấn đề nhĩ hội thuyết Lý Hồng Chí bất khiếu ngật dược, khả thị Lý Hồng Chí hài khiếu nhĩ nghiêm cách yêu cầu nhĩ đích tâm tính, nhĩ tố đáo liễu ma? Chân chính tu luyện Đại Pháp đích nhân, thân thượng đới đích đô bất thị thường nhân đích đông tây, thường nhân đắc đích bệnh đô bất duẫn hứa tại nhĩ thân thượng đắc. Nhĩ đích tâm như quả bài chính đích thoại, tương tín luyện công năng luyện hảo, bả dược đình liễu, bất khứ quản, bất khứ trị, tựu hữu nhân cấp nhĩ trị liễu. Đại gia tại giá lý nhất thiên tỷ nhất thiên hảo, nhất thiên tỷ nhất thiên thư phục, thị chẩm ma hồi sự? Hảo đa nhân thân thượng hữu ngã đích Pháp thân bất đoạn đích tiến xuất, mang mang hoạt hoạt đích, tựu thị tại bang nhĩ tố giá ta sự. Như quả tự kỷ tâm lý bất ổn định, nhất biên luyện công, nhất biên thái thủ bất tương tín hoặc thí thí khán đích thái độ, na nhĩ thậm ma dã đắc bất đáo. Nhĩ tương bất tương tín Phật, thị do nhĩ đích ngộ tính, căn cơ sở quyết định đích. Như quả Phật hiển hiện xuất lai, tựu tại giá lý khả dĩ dụng nhục nhãn khán đích thanh thanh sở sở, na nhân môn đô khứ học Phật, tựu bất tồn tại tư tưởng chuyển hoán vấn đề. Nhĩ yếu tiên tương tín, nhiên hậu tài năng khán đích đáo.

Thầy: Hãy tự ngộ ra vấn đề này, luyện công mà uống thuốc là không tin rằng luyện công có thể trị bệnh, tin thì chư vị còn uống thuốc gì nữa. Nhưng chư vị không chiểu theo tiêu chuẩn tâm tính mà yêu cầu chính mình, xuất vấn đề thì chư vị sẽ nói Lý Hồng Chí không cho uống thuốc, nhưng Lý Hồng Chí còn bảo chư vị nghiêm khắc yêu cầu tâm tính của mình, chư vị làm được điều đó chăng? Người chân chính tu luyện Đại Pháp, trên thân mang theo đều không là thứ của người thường, bệnh mà người thường mắc là không cho phép ở trên thân chư vị. Nếu thu xếp tâm của chư vị cho ‘chính’, tin rằng luyện công là có thể luyện tốt, dừng hẳn uống thuốc, mặc kệ nó, không đi [chữa] trị, thì có người [chữa] trị cho chư vị rồi. Mọi người ở đây đều thấy tốt [khoẻ] hơn lên từng ngày, [thân thể] thoải mái hơn từng ngày, đó là vì sao? Khá là nhiều người mà trên thân họ có Pháp thân của tôi không ngừng vào ra, rất bận rộn, chính là làm việc này giúp chư vị. Nếu bản thân không ổn định trong tâm, vừa luyện công, vừa mang thái độ không tin tưởng hoặc muốn thử xem, thì chư vị sẽ không đắc được gì cả. Chư vị tin Phật hay không, là do ngộ tính và căn cơ của chư vị quyết định. Nếu Phật xuất hiện ra, ngay ở nơi đây dùng mắt thịt cũng có thể thấy rõ ràng, thế thì người ta đều tới học Phật cả, sẽ không tồn tại vấn đề thay đổi tư tưởng. Chư vị là cần tin trước, sau mới có thể thấy được.

弟子:有些人想請老師和老師的弟子看病,可以嗎?

Đệ tử: Hữu ta nhân tưởng thỉnh Lão sư hoà Lão sư đích đệ tử khán bệnh, khả dĩ ma?

Đệ tử: Có một số người muốn thỉnh mời Thầy và đệ tử của Thầy đi chữa bệnh, có thể hay không?

師:我出山的目地不是治病。有人就該有病。我講的話有些人就是不明白,我不做更多的解釋。佛家功法是普度眾生,給別人看病是可以的。我們給別人看病,是有組織的,帶宣傳性的。因為我剛出山,知名度低,別人不認識,在傳功時可能沒人來聽,通過諮詢讓大家看看,實際效果很好,做個宣傳,不是專門為治病。用高功專職治病是不允許的,用超世間法代替世間法不行,不是這種狀態,有時治病效果不好。為了對煉功的學員負責,就必須把你的身體調整的沒有病,才能往高層次上修。如果你總想著你的病,根本就不想煉功,雖然沒有說,但你的思維我的法身都了解的一清二楚的,最終你甚麼也得不到。我們在班上已經給大家調整身體了,當然你首先必須是煉功的人。如果我中途給大家治病還要再收錢,這樣的事我們不幹。如果你的病沒好,那還是悟性問題。當然也不排除有個別人病很重,可能在你身上反映不明顯,但實際上很大很大。一次可能調整不好,但我們已經盡力了,不是對你不負責任,實在是病太大了,你回去煉功還會一直給你治,直到你病好為止,這種情況是少數。

Sư: Ngã xuất sơn đích mục địa bất thị trị bệnh. Hữu nhân tựu cai hữu bệnh. Ngã giảng đích thoại hữu ta nhân tựu thị bất minh bạch, ngã bất tố cánh đa đích giải thích. Phật gia công pháp thị phổ độ chúng sinh, cấp biệt nhân khán bệnh thị khả dĩ đích. Ngã môn cấp biệt nhân khán bệnh, thị hữu tổ chức đích, đới tuyên truyền tính đích. Nhân vi ngã cương xuất sơn, tri danh độ đê, biệt nhân bất nhận thức, tại truyền công thời khả năng một nhân lai thính, thông quá tư tuân nhượng đại gia khán khán, thực tế hiệu quả ngận hảo, tố cá tuyên truyền, bất thị chuyên môn vi trị bệnh. Dụng cao công chuyên chức trị bệnh thị bất duẫn hứa đích, dụng siêu thế gian Pháp đại thế thế gian Pháp bất hành, bất thị giá chủng trạng thái, hữu thời trị bệnh hiệu quả bất hảo. Vi liễu đối luyện công đích học viên phụ trách, tựu tất tu bả nhĩ đích thân thể điều chỉnh đích một hữu bệnh, tài năng vãng cao tầng thứ thượng tu. Như quả nhĩ tổng tưởng trước nhĩ đích bệnh, căn bản tựu bất tưởng luyện công, tuy nhiên một hữu thuyết, đãn nhĩ đích tư duy ngã đích Pháp thân đô liễu giải đích nhất thanh nhị sở đích, tối chung nhĩ thậm ma dã đắc bất đáo. Ngã môn tại ban thượng dĩ kinh cấp đại gia điều chỉnh thân thể liễu, đương nhiên nhĩ thủ tiên tất tu thị luyện công đích nhân. Như quả ngã trung đồ cấp đại gia trị bệnh hài yếu tái thu tiền, giá dạng đích sự ngã môn bất cán. Như quả nhĩ đích bệnh một hảo, na hài thị ngộ tính vấn đề. Đương nhiên dã bất bài trừ hữu cá biệt nhân bệnh ngận trọng, khả năng tại nhĩ thân thượng phản ánh bất minh hiển, đãn thực tế thượng ngận đại ngận đại. Nhất thứ khả năng điều chỉnh bất hảo, đãn ngã môn dĩ kinh tận lực liễu, bất thị đối nhĩ bất phụ trách nhiệm, thực tại thị bệnh thái đại liễu, nhĩ hồi khứ luyện công hài hội nhất trực cấp nhĩ trị, trực đáo nhĩ bệnh hảo vi chỉ, giá chủng tình huống thị thiểu số.

Thầy: Mục đích tôi ra công chúng[2] không phải để trị bệnh. Có người thì nên là có bệnh. Lời tôi giảng thì có một số người không minh bạch, tôi không giải thích thêm nữa. Công pháp Phật gia là phổ độ chúng sinh, khám chữa bệnh cho người là có thể. Chúng tôi khám chữa bệnh cho người khác, là có tổ chức, là mang theo tính tuyên truyền. Bởi vì tôi vừa mới ra công chúng, ít người biết đến, người khác không biết tôi, khi truyền công có thể là không ai tới nghe, thông qua tư vấn [chữa bệnh] để mọi người thấy, hiệu quả thực tế rất tốt, làm tuyên truyền đó, chứ không phải là chuyên môn đi trị bệnh. Dùng công cao [tầng] làm trị bệnh chuyên nghiệp là không được phép, dùng siêu thế gian Pháp để thay cho thế gian Pháp là không được đâu, [nếu thế sẽ] không còn là trạng thái này nữa, có lúc hiệu quả trị liệu sẽ không tốt. Vì để có trách nhiệm với học viên luyện công, thì ắt phải điều chỉnh thân thể chư vị cho tới không có bệnh, thì mới có thể tu lên tầng thứ cao. Nếu chư vị toàn nghĩ về bệnh của chư vị, hoàn toàn không nghĩ tới luyện công, tuy chẳng nói ra, nhưng tư duy của chư vị thì Pháp thân của tôi liễu giải được rõ ràng rành mạch cả, [thế thì] cuối cùng chư vị không đắc được gì cả. Chúng tôi ở trên lớp đã điều chỉnh thân thể cho mọi người rồi, tất nhiên chư vị trước hết phải là người luyện công. Nếu tôi trị bệnh chư vị nửa chừng rồi đòi tiền, cái đó là chúng tôi không làm đâu. Nếu bệnh của chư vị chưa khỏi, thì đó vẫn là vấn đề ngộ tính. Đương nhiên cũng không ngoại lệ rằng có những người cá biệt mà bệnh rất nặng, có thể là phản ánh trên thân của chư vị không minh hiển [ra hiệu quả ấy], nhưng thực tế là rất lớn rất lớn. Một lần có thể điều chỉnh chưa xong, nhưng chúng tôi đã tận lực rồi, không phải là không có trách nhiệm với chư vị, [mà là] thực tế là bệnh lớn quá, chư vị trở về [nhà] luyện công thì vẫn sẽ một mực trị cho chư vị, đến tận khi chư vị khỏi bệnh mới thôi, loại tình huống này là thiểu số.

[2] xuất sơn ở đây được hiểu là ra công chúng.

弟子:煉功時怎樣才能入靜?煉功時想著工作中的難題是否算執著?

Đệ tử: Luyện công thời chẩm dạng tài năng nhập tĩnh? Luyện công thời tưởng trước công tác trung đích nan đề thị phủ toán chấp trước?

Đệ tử: Khi luyện công thì làm thế nào mới có thể nhập tĩnh? Khi luyện công nghĩ tới vấn đề khó trong công việc thì có tính là chấp trước không?

師:把利益上的事看淡,平時就保持一顆清靜的心。如果你有準備,劫難甚麼時候來,是甚麼樣的,那就不成其為劫難了。往往都是突然來的,你橫下一條心肯定能過去,這樣才能看出你的心性有多高。你的執著心去掉了,心性提高了,與人爭鬥、怨恨等都放的下,思想不亂了,這時候再談定力。如果還靜不下來,你把自己當作第二者,認為思想不是你的,隨它翻江倒海怎麼想,你跳出來,任憑它去想好了。還有人說念佛號,或是數數,這都是煉功的種種手段。我們煉功不要求意守,但你要知道自己在煉功。工作中的難題之事,不屬於個人利益,不是執著心,是件好事。我認識一個和尚,他懂得修煉這方面的東西。他在廟裏作住持,事情很多,但他往那一坐就和它們斷開了,保證不想,這也是功。實際真正煉功的時候,腦子裏甚麼都不想,沒有一點私心雜念。工作中的事不摻雜個人的東西,你還是能夠做好的。

Sư: Bả lợi ích thượng đích sự khán đạm, bình thời tựu bảo trì nhất khoả thanh tĩnh đích tâm. Như quả nhĩ hữu chuẩn bị, kiếp nạn thậm ma thời hậu lai, thị thậm ma dạng đích, na tựu bất thành kỳ vi kiếp nạn liễu. Vãng vãng đô thị đột nhiên lai đích, nhĩ hoành hạ nhất điều tâm khẳng định năng quá khứ, giá dạng tài năng khán xuất nhĩ đích tâm tính hữu đa cao. Nhĩ đích chấp trước tâm khứ điệu liễu, tâm tính đề cao liễu, dữ nhân tranh đấu, oán hận đẳng đô phóng đích hạ, tư tưởng bất loạn liễu, giá thời hậu tái đàm định lực. Như quả hài tĩnh bất hạ lai, nhĩ bả tự kỷ đương tác đệ nhị giả, nhận vi tư tưởng bất thị nhĩ đích, tuỳ tha phiên giang đảo hải chẩm ma tưởng, nhĩ khiêu xuất lai, nhậm bằng tha khứ tưởng hảo liễu. Hài hữu nhân thuyết niệm Phật hiệu, hoặc thị sổ số, giá đô thị luyện công đích chủng chủng thủ đoạn. Ngã môn luyện công bất yêu cầu ý thủ, đãn nhĩ yếu tri đạo tự kỷ tại luyện công. Công tác trung đích nan đề chi sự, bất thuộc ư cá nhân lợi ích, bất thị chấp trước tâm, thị kiện hảo sự. Ngã nhận thức nhất cá hoà thượng, tha đổng đắc tu luyện giá phương diện đích đông tây. Tha tại miếu lý tác trụ trì, sự tình ngận đa, đãn tha vãng na nhất toạ tựu hoà tha môn đoạn khai liễu, bảo chứng bất tưởng, giá dã thị công. Thực tế chân chính luyện công đích thời hậu, não tử lý thậm ma đô bất tưởng, một hữu nhất điểm tư tâm tạp niệm. Công tác trung đích sự bất sam tạp cá nhân đích đông tây, nhĩ hài thị năng cú tố hảo đích.

Thầy: Hãy coi những việc lợi ích thật nhẹ nhàng đạm bạc, lúc bình thường hãy bảo trì tâm thanh tĩnh. Nếu chư vị có chuẩn bị, [biết được] kiếp nạn lúc nào tới, là sẽ như thế nào, thế thì không xứng là ‘kiếp nạn’ nữa. Thông thường đều là đến đột nhiên, chư vị vững tâm thì khẳng định có thể vượt qua, như thế mới có thể nhìn ra tâm tính chư vị cao ngần nào. Tâm chấp trước của chư vị trừ bỏ rồi, tâm tính đề cao rồi, đều buông bỏ hết những tranh đấu oán hận v.v. với người ta, tư tưởng không loạn nữa, bấy giờ hãy nói tới định lực. Nếu vẫn không tĩnh lại được, thì bản thân chư vị hãy làm như người thứ hai, nhìn nhận rằng tư tưởng kia không phải là chư vị, kệ nó nghĩ hỗn loạn ra sao, chư vị nhảy ra ngoài, kệ nó nghĩ tưởng là được. Còn có người nói về ‘niệm Phật hiệu’, hoặc đếm số, đó đều là những loại thủ pháp luyện công. Chúng ta luyện công không yêu cầu ý thủ[3], nhưng chư vị cần phải biết rằng tự mình đang luyện. Những việc khó giải trong công tác, không thuộc về lợi ích cá nhân, [thì] không phải tâm chấp trước, mà là việc tốt. Tôi quen một hoà thượng, ông rất hiểu những thứ tu luyện về phương diện này. Ông là trụ trì ở chùa, bề bộn các việc, nhưng hễ ông ngồi xuống đả toạ thì là cắt đứt khỏi chúng, bảo đảm là không nghĩ, đó cũng là công. Thực chất thì khi thật sự luyện công, trong đầu não không nghĩ gì cả, không có một chút tư tâm tạp niệm nào hết. Việc công tác không bị những thứ cá nhân lẫn vào, [thì] chư vị vẫn là có thể làm tốt.

[3] Hiểu là đặt ý (thủ ý) vào chỗ nào đó, điểm nào đó, vấn đề nào đó.

弟子:煉功時思想中有不好的東西怎麼辦?

Đệ tử: Luyện công thời tư tưởng trung hữu bất hảo đích đông tây chẩm ma biện?

Đệ tử: Khi luyện công mà trong tư tưởng có những thứ bất hảo thì làm sao?

師:煉功中有時會出現許多不好的東西,大家剛剛煉功,不可能一下子達到很高的境界,現在也不會要求你很高,叫你思想中一點壞的東西也不去想,這是不現實的。慢慢來,開始的時候可以,但你不要放任自己,等時間長了,你思想昇華了,對自己要有高要求,因為你已經修煉大法了,從這個班下去之後已經不是常人了,身上帶的東西太特別了,所以你的心性要求就要嚴格。

Sư: Luyện công trung hữu thời hội xuất hiện hứa đa bất hảo đích đông tây, đại gia cương cương luyện công, bất khả năng nhất hạ tử đạt đáo ngận cao đích cảnh giới, hiện tại dã bất hội yêu cầu nhĩ ngận cao, khiếu nhĩ tư tưởng trung nhất điểm hoại đích đông tây dã bất khứ tưởng, giá thị bất hiện thực đích. Mạn mạn lai, khai thuỷ đích thời hậu khả dĩ, đãn nhĩ bất yếu phóng nhậm tự kỷ, đẳng thời gian trường liễu, nhĩ tư tưởng thăng hoa liễu, đối tự kỷ yếu hữu cao yêu cầu, nhân vi nhĩ dĩ kinh tu luyện Đại Pháp liễu, tùng giá cá ban hạ khứ chi hậu dĩ kinh bất thị thường nhân liễu, thân thượng đới đích đông tây thái đặc biệt liễu, sở dĩ nhĩ đích tâm tính yêu cầu tựu yếu nghiêm cách.

Thầy: Trong luyện công có lúc sẽ xuất hiện rất nhiều những thứ bất hảo, mọi người mới luyện công, không thể lập tức đạt tới cảnh giới rất cao, hiện tại cũng là không yêu cầu rất cao đối với chư vị, [nếu] bảo chư vị trong tư tưởng đừng nghĩ tới dù chỉ một chút thứ xấu, cái đó không hiện thực. Mà dần dần, thời bắt đầu thì cũng khả dĩ, nhưng chư vị không được buông thả bản thân mình, đợi qua thời gian lâu dần, tư tưởng chư vị thăng hoa lên, yêu cầu đối với bản thân là có yêu cầu cao, bởi vì chư vị đã tu luyện Đại Pháp rồi, từ lớp học này trở đi đã không còn là người thường nữa, những thứ trên thân đã quá đặc biệt rồi, cho nên yêu cầu tâm tính cho chư vị là phải nghiêm khắc.

弟子:煉功時感到頭和小腹在轉,覺的胸部難受?

Đệ tử: Luyện công thời cảm đáo đầu hoà tiểu phúc tại chuyển, giác đích hung bộ nan thụ?

Đệ tử: Khi luyện công cảm giác đầu và bụng dưới xoay chuyển, cảm thấy chỗ ngực khó chịu?

師:這是初期時法輪在轉,以後就不一定有這種症狀了。

Sư: Giá thị sơ kỳ thời Pháp Luân tại chuyển, dĩ hậu tựu bất nhất định hữu giá chủng chứng trạng liễu.

Thầy: Đó là Pháp Luân xoay chuyển thời đầu, về sau này không nhất định là có triệu chứng như thế nữa.

弟子:煉功時招小動物怎麼辦?

Đệ tử: Luyện công thời chiêu tiểu động vật chẩm ma biện?

Đệ tử: Khi luyện công chiêu dẫn tới những động vật nhỏ thì làm thế nào?

師:煉甚麼功都能招小動物,不要管它就完了。因為在好的能量場裏,特別是佛家功,功中存在普度眾生的因素。咱們的法輪在順時針旋轉時度己;逆時針旋轉時普度眾生。然後再循環回來,所以在咱們周圍的萬物都受益。

Sư: Luyện thậm ma công đô năng chiêu tiểu động vật, bất yếu quản tha tựu hoàn liễu. Nhân vi tại hảo đích năng lượng trường lý, đặc biệt thị Phật gia công, công trung tồn tại phổ độ chúng sinh đích nhân tố. Cha môn đích Pháp Luân tại thuận thời châm toàn chuyển thời độ kỷ; nghịch thời châm toàn chuyển thời phổ độ chúng sinh. Nhiên hậu tái tuần hoàn hồi lai, sở dĩ tại cha môn chu vi đích vạn vật đô thụ ích.

Thầy: Luyện công gì cũng đều có thể chiêu dẫn động vật nhỏ tới, hãy kệ chúng là được rồi. Vì trong trường năng lượng tốt, đặc biệt là công của Phật gia, trong công tồn tại nhân tố phổ độ chúng sinh. Pháp Luân của chúng ta khi xoay thuận chiều kim đồng hồ là độ mình; khi xoay ngược chiều kim đồng hồ là phổ độ chúng sinh. Sau đó sẽ quay trở lại, do đó xung quanh chúng ta thì vạn vật đều thụ ích.

弟子:貫通兩極法是否手一上一下為一遍?佛展千手法時,手伸出之前是否要想自己很高大?

Đệ tử: Quán Thông Lưỡng Cực pháp thị phủ thủ nhất thượng nhất hạ vi nhất biến? Phật Triển Thiên Thủ pháp thời, thủ thân xuất chi tiền thị phủ yếu tưởng tự kỷ ngận cao đại?

Đệ tử: Quán Thông Lưỡng Cực pháp là đưa tay một lần lên một lần xuống là tính một lần? Khi Phật Triển Thiên Thủ pháp, thì trước khi duỗi tay ra có cần nghĩ tưởng rằng mình rất cao lớn không?

師:兩手各做一次為一遍。做佛展千手法時,你不想自己,也會覺的高大。你只要有這種意念感覺我天地獨尊,往那兒一站就可以了,不要老是意念追求,那就是執著的東西。

Sư: Lưỡng thủ các tố nhất thứ vi nhất biến. Tố Phật Triển Thiên Thủ pháp thời, nhĩ bất tưởng tự kỷ, dã hội giác đích cao đại. Nhĩ chỉ yếu hữu giá chủng ý niệm cảm giác ngã thiên địa độc tôn, vãng na nhi nhất trạm tựu khả dĩ liễu, bất yếu lão thị ý niệm truy cầu, na tựu thị chấp trước đích đông tây.

Thầy: Hai tay mỗi cái làm một lần [lên xuống] là tính một lần. Khi làm Phật Triển Thiên Thủ pháp, chư vị không nghĩ về mình, cũng vẫn sẽ cảm thấy cao lớn. Chư vị chỉ cần có loại ý niệm cảm thấy ‘ta thiên địa độc tôn, tới đứng ở đó’ là được rồi, không được cứ ý niệm truy cầu, đó là những thứ chấp trước.

弟子:煉功打坐,盤不上腿怎麼辦?

Đệ tử: Luyện công đả toạ, bàn bất thượng thối chẩm ma biện?

Đệ tử: Ngồi đả toạ luyện công, không xếp chân được thì làm thế nào?

師:盤不上可以坐在椅子邊上煉,也會收到同樣效果。但你是個煉功人,就必須煉你兩條腿,必須得盤上。坐在椅子邊上漸漸煉你的腿,終究得盤上。

Sư: Bàn bất thượng khả dĩ toạ tại kỷ tử biên thượng luyện, dã hội thu đáo đồng dạng hiệu quả. Đãn nhĩ thị cá luyện công nhân, tựu tất tu luyện nhĩ lưỡng điều thối, tất tu đắc bàn thượng. Toạ tại kỷ tử biên thượng tiệm tiệm luyện nhĩ đích thối, chung cứu đắc bàn thượng.

Thầy: Xếp bằng không được thì có thể ngồi ở mép ghế mà luyện, cũng nhận hiệu quả đồng dạng. Nhưng chư vị là người luyện công, ắt phải luyện đôi chân của chư vị, ắt phải xếp lên được. Ngồi tại mép ghế và dần dần luyện chân của chư vị, cuối cùng cũng xếp bằng được.

弟子:如果家裏人做的事不好,不符合「真、善、忍」,怎麼辦?

Đệ tử: Như quả gia lý nhân tố đích sự bất hảo, bất phù hợp “Chân-Thiện-Nhẫn”, chẩm ma biện?

Đệ tử: Nếu người nhà làm điều không tốt, không phù hợp “Chân-Thiện-Nhẫn”, thì làm thế nào?

師:你家裏人不是煉法輪功的,這個問題沒有關係,主要是修煉自我。你自己去修,不要想的很複雜,還得隨和點,多在自身上下功夫。

Sư: Nhĩ gia lý nhân bất thị luyện Pháp Luân Công đích, giá cá vấn đề một hữu quan hệ, chủ yếu thị tu luyện tự ngã. Nhĩ tự kỷ khứ tu, bất yếu tưởng đích ngận phức tạp, hài đắc tuỳ hoà điểm, đa tại tự thân thượng hạ công phu.

Thầy: Người nhà chư vị không phải là luyện Pháp Luân Công, thì vấn đề này không có quan hệ gì, chủ yếu tu luyện bản thân mình. Chính bản thân chư vị tu, đừng nghĩ quá phức tạp, còn cần dễ tính hơn [với người khác], đặt nhiều công phu hơn vào tự thân.

弟子:日常生活中有時做錯事很後悔,但又有反復,是否是心性太低?

Đệ tử: Nhật thường sinh hoạt trung hữu thời tố thác sự ngận hậu hối, đãn hựu hữu phản phục, thị phủ thị tâm tính thái đê?

Đệ tử: Cuộc sống thường ngày có lúc làm điều lầm lỗi và rất hối hận, mà còn có lặp lại, phải chăng là vì tâm tính thấp quá?

師:你能寫出來,證明你心性已經提高了,能認識到這一點。常人做錯事都認識不到,說明你已經超出常人了。第一次做錯了,心性守不住,這有一個過程,下次再遇到問題,再提高。

Sư: Nhĩ năng tả xuất lai, chứng minh nhĩ tâm tính dĩ kinh đề cao liễu, năng nhận thức đáo giá nhất điểm. Thường nhân tố thác sự đô nhận thức bất đáo, thuyết minh nhĩ dĩ kinh siêu xuất thường nhân liễu. Đệ nhất thứ tố thác liễu, tâm tính thủ bất trụ, giá hữu nhất cá quá trình, hạ thứ tái ngộ đáo vấn đề, tái đề cao.

Thầy: Chư vị có thể viết ra [như thế này], chứng minh rằng tâm tính chư vị đã đề cao rồi, có thể nhận thức tới điểm này. Người thường làm điều lầm lỗi là không nhận thức ra, vậy nói lên rằng chư vị đã vượt khỏi người thường rồi. Lần thứ nhất phạm lỗi, tâm tính giữ không vững, đây là có một quá trình, lần sau lại gặp vấn đề, lại đề cao.

弟子:四、五十歲的人能否達到「三花聚頂」?

Đệ tử: Tứ, ngũ thập tuế đích nhân năng phủ đạt đáo “tam hoa tụ đỉnh”?

Đệ tử: Người đã bốn mươi năm mươi tuổi thì có thể đạt “tam hoa tụ đỉnh” hay không?

師:因為我們是性命雙修功法,不在乎年歲大小,只要你一心去煉,能夠按照我說的心性去要求自己,就會出現不斷煉功、不斷延長生命的現象,你的煉功時間不就夠了嗎?但有一點,特別是性命雙修功法,當你生命是延長來的時候,如果心性出問題,馬上就會出現生命危險,因為是為了煉功才延長你的生命,所以心性一走偏,馬上就會出現生命危險。

Sư: Nhân vi ngã môn thị tính mệnh song tu công pháp, bất tại hồ niên tuế đại tiểu, chỉ yếu nhĩ nhất tâm khứ luyện, năng cú án chiếu ngã thuyết đích tâm tính khứ yêu cầu tự kỷ, tựu hội xuất hiện bất đoạn luyện công, bất đoạn diên trường sinh mệnh đích hiện tượng, nhĩ đích luyện công thời gian bất tựu cú liễu ma? Đãn hữu nhất điểm, đặc biệt thị tính mệnh song tu công pháp, đương nhĩ sinh mệnh thị diên trường lai đích thời hậu, như quả tâm tính xuất vấn đề, mã thượng tựu hội xuất hiện sinh mệnh nguy hiểm, nhân vi thị vi liễu luyện công tài diên trường nhĩ đích sinh mệnh, sở dĩ tâm tính nhất tẩu thiên, mã thượng tựu hội xuất hiện sinh mệnh nguy hiểm.

Thầy: Vì chúng ta là công pháp tính mệnh song tu, nên không quan trọng vào tuổi tác lớn nhỏ, chừng nào chư vị chuyên tâm mà luyện, có thể chiểu theo tâm tính mà tôi nói để yêu cầu tự mình, thì sẽ xuất hiện hiện tượng rằng không ngừng luyện công thì không ngừng kéo dài sinh mệnh, thời gian luyện công của chư vị vậy chẳng đủ sao? Nhưng có một điểm, đặc biệt là công pháp tính mệnh song tu, khi tới lúc sinh mệnh chư vị kéo dài rồi, nếu tâm tính chư vị xuất hiện vấn đề, thì lập tức sẽ xuất hiện nguy hiểm đến sinh mệnh, là vì luyện công nên mới kéo dài sinh mệnh chư vị ra, do đó tâm tính hễ lệch lạc, thì lập tức sẽ xuất hiện nguy hiểm đến sinh mệnh.

弟子:如何掌握「柔中有剛」的力度問題?

Đệ tử: Như hà chưởng ác “nhu trung hữu cương” đích lực độ vấn đề?

Đệ tử: Làm sao nắm vững vấn đề lực độ “trong nhu có cương”?

師:這個你得自己摸索,比如說,我們打大手印的時候,手看上去很軟,可是做起來它實際上是用力,這個小臂和手腕子、手指之間的力度是很大的。但是看上去又是很軟,實際上力度是非常大的,這就是「柔中有剛」。我給大家打手印的時候,這個東西已經給你了,你慢慢在煉功中體察吧。

Sư: Giá cá nhĩ đắc tự kỷ mô sách, tỷ như thuyết, ngã môn đả đại thủ ấn đích thời hậu, thủ khán thượng khứ ngận nhuyễn, khả thị tố khởi lai tha thực tế thượng thị dụng lực, giá cá tiểu tý hoà thủ oản tử, thủ chỉ chi gian đích lực độ thị ngận đại đích. Đãn thị khán thượng khứ hựu thị ngận nhuyễn, thực tế thượng lực độ thị phi thường đại đích, giá tựu thị “nhu trung hữu cương”. Ngã cấp đại gia đả thủ ấn đích thời hậu, giá cá đông tây dĩ kinh cấp nhĩ liễu, nhĩ mạn mạn tại luyện công trung thể sát ba.

Thầy: Việc này chư vị thử tự mày mò xem, chẳng hạn như, khi chúng ta làm đại thủ ấn, nhìn [bàn tay] thủ là ‘nhu’, nhưng làm ra nó thì thực tế phải dùng lực, nơi cẳng tay và cổ tay cũng như giữa các ngón tay là lực độ rất lớn. Nhưng mà nhìn thì thấy là rất ‘nhu’, nhưng thực tế thì lực độ hết sức lớn. Đó chính là “trong nhu có cương”. Khi tôi đả thủ ấn cho mọi người [xem], thì những thứ ấy đã cấp cho mọi người rồi, từ từ qua luyện công mà chư vị thể nghiệm quan sát xem.

弟子:男女之間的事是否可有可無,年青人是否要離婚?

Đệ tử: Nam nữ chi gian đích sự thị phủ khả hữu khả vô, niên thanh nhân thị phủ yếu ly hôn?

Đệ tử: Chuyện nam nữ phải chăng không cần thiết, thanh niên cần ly hôn không?[4]

[4] khả hữu khả vô (có cũng được mà không có cũng được) được dịch ở đây là không cần thiết.

師:在色的問題上前面講過了,在你現有的層次上,沒叫你當和尚、尼姑,是你自己要當尼姑、和尚。關鍵是叫你放下這顆心!把你放不下的心都放下。作為常人這是一種慾望,在我們就得放的下,看的淡。有人就追求這個,腦子鑽進去了,作常人都超格了。作為煉功人更不應該。因為你煉功,家裏人不煉功,過正常生活在現階段是允許的,到了高層次以後,你自己就知道該怎麼辦了。

Sư: Tại sắc đích vấn đề thượng tiền diện giảng quá liễu, tại nhĩ hiện hữu đích tầng thứ thượng, một khiếu nhĩ đương hoà thượng, ni cô, thị nhĩ tự kỷ yếu đương ni cô, hoà thượng. Quan kiện thị khiếu nhĩ phóng hạ giá khoả tâm! Bả nhĩ phóng bất hạ đích tâm đô phóng hạ. Tác vi thường nhân giá thị nhất chủng dục vọng, tại ngã môn tựu đắc phóng đích hạ, khán đích đạm. Hữu nhân tựu truy cầu giá cá, não tử toàn tiến khứ liễu, tác thường nhân đô siêu cách liễu. Tác vi luyện công nhân cánh bất ưng cai. Nhân vi nhĩ luyện công, gia lý nhân bất luyện công, quá chính thường sinh hoạt tại hiện giai đoạn thị duẫn hứa đích, đáo liễu cao tầng thứ dĩ hậu, nhĩ tự kỷ tựu tri đạo cai chẩm ma biện liễu.

Thầy: Về vấn đề ‘sắc’ ở trên đã giảng rồi, tại tầng thứ hiện có của chư vị, [thì] không bảo chư vị làm hoà thượng hay ni cô, [trừ phi] là tự bản thân chư vị muốn làm hoà thượng hoặc ni cô. Then chốt là bảo chư vị vứt bỏ cái tâm ấy! Đem những tâm nào chư vị chưa vứt bỏ được thì bỏ hết đi. Làm người thường thì cái đó là một loại dục vọng, ở chúng ta thì cần buông bỏ, cần xem nhẹ. Có người chính là truy cầu cái đó, chui đầy vào đầu, [ngay cả] là người thường thế cũng là quá mức rồi. Làm người luyện công thì càng không nên thế. Vì chư vị luyện công, người nhà không luyện công, [cho nên] sống cuộc sống sinh hoạt bình thường ở giai đoạn này là được phép, sau khi tới tầng thứ cao, tự chư vị sẽ biết nên làm như thế nào.

弟子:打坐時睡覺行不行?怎麼處理?有時出現昏迷達三分鐘,不知怎麼回事?

Đệ tử: Đả toạ thời thuỵ giác hành bất hành? Chẩm ma xứ lý? Hữu thời xuất hiện hôn mê đạt tam phân chung, bất tri chẩm ma hồi sự?

Đệ tử: Ngủ khi ngồi đả toạ có được không? Xử lý thế nào? Có những lúc xuất hiện hôn mê tới 3 phút, không biết chuyện gì nữa?

師:睡覺不行,煉功能睡覺嗎?打坐睡覺也是一種魔。你說昏迷這種現象不會出現,是不是沒寫清楚?三分鐘沒有意識不算甚麼,定力很高的人經常出現無意識狀態,長時間這樣就不行。

Sư: Thuỵ giác bất hành, luyện công năng thuỵ giác ma? Đả toạ thuỵ giác dã thị nhất chủng ma. Nhĩ thuyết hôn mê giá chủng hiện tượng bất hội xuất hiện, thị bất thị một tả thanh sở? Tam phân chung một hữu ý thức bất toán thậm ma, định lực ngận cao đích nhân kinh thường xuất hiện vô ý thức trạng thái, trường thời gian giá dạng tựu bất hành.

Thầy: Ngủ là không được đâu, luyện công sao có thể ngủ? Ngủ khi đả toạ là một loại ‘ma’. Hiện tượng ‘hôn mê’ mà chư vị nói sẽ không xuất hiện, chư vị phải chăng viết không rõ? Không ý thức trong ba phút cũng không tính là gì cả, người có định lực rất cao thường hay xuất hiện trạng thái ‘vô ý thức’, [còn nếu] như thế thời gian lâu thì là không được.

弟子:是否有決心修成正果的人都能成正果?根基稍差怎麼辦?

Đệ tử: Thị phủ hữu quyết tâm tu thành chính quả đích nhân đô năng thành chính quả? Căn cơ sảo sai chẩm ma biện?

Đệ tử: Phải chăng người có quyết tâm tu thành chính quả đều có thể thành chính quả? Căn cơ kém một chút thì sao?

師:就看你有沒有這個決心,關鍵是這個決心有多大。根基稍差的人,還是看你的決心和悟性。

Sư: Tựu khán nhĩ hữu một hữu giá cá quyết tâm, quan kiện thị giá cá quyết tâm hữu đa đại. Căn cơ sảo sai đích nhân, hài thị khán nhĩ đích quyết tâm hoà ngộ tính.

Thầy: Chính là xem chư vị có quyết tâm đó hay không, then chốt là quyết tâm đó lớn ngần nào. Với người căn cơ hơi kém, thì vẫn là xét quyết tâm và ngộ tính của chư vị.

弟子:感冒發燒能煉功嗎?

Đệ tử: Cảm mạo phát thiêu năng luyện công ma?

Đệ tử: Sốt cao cảm mạo thì có thể luyện công không?

師:我說你從班上下去之後都沒有病,你也許不信,我的徒弟有時像感冒、發燒是怎麼回事,那是過關,過難,該提高層次的反映。他們自己都明白,不管它自己就能過去。

Sư: Ngã thuyết nhĩ tùng ban thượng hạ khứ chi hậu đô một hữu bệnh, nhĩ dã hứa bất tín, ngã đích đồ đệ hữu thời tượng cảm mạo, phát thiêu thị chẩm ma hồi sự, na thị quá quan, quá nạn, cai đề cao tầng thứ đích phản ánh. Tha môn tự kỷ đô minh bạch, bất quản tha tự kỷ tựu năng quá khứ.

Thầy: Tôi nói rằng chư vị từ lớp học này về sau đều là không có bệnh, chư vị có lẽ không tin, đồ đệ của tôi có lúc giống như cảm mạo, sốt cao thì đó là sao, đó là phản ánh của vượt quan, vượt nạn, cần đề cao tầng thứ. Bản thân họ đều minh bạch cả, mặc kệ nó thì tự mình có thể vượt qua.

弟子:懷孕的婦女能否煉法輪功?

Đệ tử: Hoài dựng đích phụ nữ năng phủ luyện Pháp Luân Công?

Đệ tử: Phụ nữ mang thai thì có thể luyện Pháp Luân Công hay không?

師:沒有關係,因為法輪下在另一個空間,我們功法沒有劇烈運動,對懷孕婦女沒有壞的影響,對她身體還是有好處的。

Sư: Một hữu quan hệ, nhân vi Pháp Luân hạ tại lánh nhất cá không gian, ngã môn công pháp một hữu kịch liệt vận động, đối hoài dựng phụ nữ một hữu hoại đích ảnh hưởng, đối tha thân thể hài thị hữu hảo xứ đích.

Thầy: Không sao cả, vì Pháp Luân là cài ở một không gian khác, công pháp chúng ta không có vận động mạnh, không có ảnh hưởng gì với phụ nữ mang thai, mà là có chỗ tốt với thân thể của họ.

弟子:老師離開我們,有沒有空間的距離?

Đệ tử: Lão sư ly khai ngã môn, hữu một hữu không gian đích cự ly?

Đệ tử: Thầy ly khai chúng con, thì có khoảng cách không gian không?

師:好多人都有這種想法:老師你不在北京了,我們怎麼辦?你煉其它功法也一樣,老師也不能天天看著。法,我教給大家了,理,教給大家了,這套功教給大家了,完完整整的一套東西都給你了,就看你自己怎麼修了。你不能說在我身邊就有保證,不在我身邊就無保證。咱們舉個例子,說佛教徒,釋迦牟尼都不在世兩千多年了,他們不是繼承下來,一心不二的在煉嗎?所以煉不煉是自己的問題。

Sư: Hảo đa nhân đô hữu giá chủng tưởng pháp: Lão sư nhĩ bất tại Bắc Kinh liễu, ngã môn chẩm ma biện? Nhĩ luyện kỳ tha công pháp dã nhất dạng, lão sư dã bất năng thiên thiên khán trước. Pháp, ngã giáo cấp đại gia liễu, Lý, giáo cấp đại gia liễu, giá sáo công giáo cấp đại gia liễu, hoàn hoàn chỉnh chỉnh đích nhất sáo đông tây đô cấp nhĩ liễu, tựu khán nhĩ tự kỷ chẩm ma tu liễu. Nhĩ bất năng thuyết tại ngã thân biên tựu hữu bảo chứng, bất tại ngã thân biên tựu vô bảo chứng. Cha môn cử cá lệ tử, thuyết Phật giáo đồ, Thích Ca Mâu Ni đô bất tại thế lưỡng thiên đa niên liễu, tha môn bất thị kế thừa hạ lai, nhất tâm bất nhị đích tại luyện ma? Sở dĩ luyện bất luyện thị tự kỷ đích vấn đề.

Thầy: Khá nhiều người đều có suy nghĩ thế này: ‘Thầy không ở Bắc Kinh nữa, thì chúng con sao bây giờ?’ Chư vị luyện công pháp khác cũng như thế, thầy không thể hàng ngày trông nom chư vị. Pháp, tôi đã dạy cho mọi người rồi; Lý, đã dạy mọi người rồi; bộ công pháp này cũng dạy mọi người rồi; một bộ đầy đủ hoàn chỉnh là đã cấp cho chư vị rồi, chính là xem bản thân chư vị tu thế nào. Chư vị không thể nói rằng có tôi ở bên thì có bảo đảm, còn không có tôi ở bên thì không bảo đảm. Chúng ta lấy ví dụ thế này, như đồ đệ Phật giáo chẳng hạn, Thích Ca Mâu Ni đã không còn tại thế hơn hai nghìn năm rồi, họ chẳng phải vẫn không ngừng kế thừa tiếp nối, chẳng phải vẫn một lòng không đổi mà luyện tiếp đó sao? Cho nên luyện hay không là vấn đề của tự mình.

弟子:煉法輪功會辟穀嗎?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công hội tịch cốc ma?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công sẽ ‘tịch cốc’ chăng?

師:不會的,因為辟穀這種方法是在佛道沒有存在之前就存在的大道修煉,在沒有成為宗教之前就有,往往這種方法都屬於單修獨煉。因為當時沒有僧院制度,只能在半山腰上,沒有人供食物,修煉時需要閉關,需要半年一年不動,所以採用這種方法。我們今天修煉,不需要這樣,因為那是一種特定環境下採用的方法,並不是甚麼功能。有人教這個,我說全世界人都不吃飯了,這是破壞了常人的社會狀態,那要成問題的,人人都不吃飯了,那是人的社會嗎?那不成,不是那樣的。

Sư: Bất hội đích, nhân vi tịch cốc giá chủng phương pháp thị tại Phật Đạo một hữu tồn tại chi tiền tựu tồn tại đích Đại Đạo tu luyện, tại một hữu thành vi tôn giáo chi tiền tựu hữu, vãng vãng giá chủng phương pháp đô thuộc ư đơn tu độc luyện. Nhân vi đương thời một hữu tăng viện chế độ, chỉ năng tại bán sơn yêu thượng, một hữu nhân cung thực vật, tu luyện thời nhu yếu bế quan, nhu yếu bán niên nhất niên bất động, sở dĩ thái dụng giá chủng phương pháp. Ngã môn kim thiên tu luyện, bất nhu yếu giá dạng, nhân vi na thị nhất chủng đặc định hoàn cảnh hạ thái dụng đích phương pháp, tịnh bất thị thậm ma công năng. Hữu nhân giáo giá cá, ngã thuyết toàn thế giới nhân đô bất ngật phạn liễu, giá thị phá hoại liễu thường nhân đích xã hội trạng thái, na yếu thành vấn đề đích, nhân nhân đô bất ngật phạn liễu, na thị nhân đích xã hội ma? Na bất thành, bất thị na dạng đích.

Thầy: Sẽ không, vì loại phương pháp ‘tịch cốc’ ấy là trước khi Phật [giáo] và Đạo [giáo][5] tồn tại thì đã có tu luyện Đại Đạo rồi, trước khi hình thành tôn giáo là đã có rồi, thông thường loại phương pháp này đều thuộc về tu luyện đơn độc. Vì lúc bấy giờ không có chế độ nhà chùa, chỉ có thể ở lưng chừng núi, không có người cung cấp đồ ăn, khi tu luyện thì cần ‘bế quan’, cần nửa năm cả năm là bất động, cho nên đã chọn dùng loại phương pháp này. Chúng ta hôm nay tu luyện, không cần như thế, vì đó là một loại phương pháp được chọn dùng trong hoàn cảnh đặc định, chứ không phải công năng nào cả. Có người dạy cái này, tôi nói rằng con người toàn thế giới mà không ăn cơm nữa, thế là phá hoại trạng thái xã hội người thường, thế sẽ thành vấn đề, ai ai cũng không ăn cơm nữa, đó là xã hội con người sao? Đó là không được, sẽ không như thế.

[5] Diễn giải theo bản dịch tiếng Anh, Phật Đạo ở bản gốc tiếng Trung được diễn giải là Phật giáo và Đạo giáo trong ngữ cảnh này.

弟子:這五套功法能煉到甚麼層次?

Đệ tử: Giá ngũ sáo công pháp năng luyện đáo thậm ma tầng thứ?

Đệ tử: Năm bài công pháp này là có thể luyện tới tầng thứ nào?

師:這五套功法已經夠你煉到極高極高層次了。當然你要想煉到哪個層次,到那時候你自己知道。因為功無止境,你真正到了那步,就有那個緣份,還能得到更高層次上的大法。

Sư: Giá ngũ sáo công pháp dĩ kinh cú nhĩ luyện đáo cực cao cực cao tầng thứ liễu. Đương nhiên nhĩ yếu tưởng luyện đáo nả cá tầng thứ, đáo na thời hậu nhĩ tự kỷ tri đạo. Nhân vi công vô chỉ cảnh, nhĩ chân chính đáo liễu na bộ, tựu hữu na cá duyên phận, hài năng đắc đáo cánh cao tầng thứ thượng đích Đại Pháp.

Thầy: Năm bài công pháp này đã có thể đủ cho chư vị luyện tới tầng thứ cực cao cực cao rồi. Tất nhiên chư vị cần luyện tới tầng thứ nào, khi đến lúc thì chư vị sẽ tự biết. Vì ‘công vô chỉ cảnh’[6], chư vị thật sự tới bước đó, thì là có duyên phận đó, còn có thể đắc Đại Pháp ở tầng thứ cao hơn nữa.

[6] công vô chỉ cảnh: tạm hiểu là công là không có cảnh giới cao nhất; chỉ → dừng lại, đứng lại (như trong từ đình chỉ, tĩnh chỉ, cấm chỉ).

弟子:法煉人,法輪常轉是不是可以不煉功了?

Đệ tử: Pháp luyện nhân, Pháp Luân thường chuyển thị bất thị khả dĩ bất luyện công liễu?

Đệ tử: Pháp luyện người, Pháp Luân thường chuyển thì phải chăng có thể không luyện công nữa?

師:煉功和寺院修法不一樣。其實寺院中心裏想著修,實際也是要打坐的,那個功夫是要煉的,不能說光長功甚麼都不煉,光說頭上有功,我說那不是煉功人吧?哪一套功夫都有承傳的一套東西,是要把這一套東西煉出來的。

Sư: Luyện công hoà tự viện tu pháp bất nhất dạng. Kỳ thực tự viện trung tâm lý tưởng trước tu, thực tế dã thị yếu đả toạ đích, na cá công phu thị yếu luyện đích, bất năng thuyết quang trưởng công thậm ma đô bất luyện, quang thuyết đầu thượng hữu công, ngã thuyết na bất thị luyện công nhân ba? Nả nhất sáo công phu đô hữu thừa truyền đích nhất sáo đông tây, thị yếu bả giá nhất sáo đông tây luyện xuất lai đích.

Thầy: Luyện công là không giống cách tu ở nhà chùa. Kỳ thực ở nhà chùa trong tâm mà muốn tu, thì thực tế cũng phải ngồi đả toạ, cần phải luyện công phu ấy, không thể nói là chỉ cứ tăng công mà không luyện gì cả, và chỉ nói thôi là trên đầu có công; tôi nói rằng đấy không phải người luyện công phải không? Một bộ công phu nào thì cũng đều có truyền thừa một bộ các thứ, là yêu cầu luyện ra một bộ những thứ đó.

弟子:練其它功的人說:沒有意念的功不是功法,對嗎?

Đệ tử: Luyện kỳ tha công đích nhân thuyết: một hữu ý niệm đích công bất thị công pháp, đối ma?

Đệ tử: Người luyện công [pháp] khác nói: công mà không có ý niệm thì không phải là công pháp, vậy có đúng không?

師:這個說法那個說法多了,可沒有人像我這樣把大法告訴你。佛家講有為法不會太高,有為法不是指動作,他打坐、結印也是動作,所以不在動作大小。有為無為在於你的意念,在追求上,有意念,有追求,就是執著,就是有為,指的是這東西。

Sư: Giá cá thuyết pháp na cá thuyết pháp đa liễu, khả một hữu nhân tượng ngã giá dạng bả Đại Pháp cáo tố nhĩ. Phật gia giảng hữu vi pháp bất hội thái cao, hữu vi pháp bất thị chỉ động tác, tha đả toạ, kết ấn dã thị động tác, sở dĩ bất tại động tác đại tiểu. Hữu vi vô vi tại ư nhĩ đích ý niệm, tại truy cầu thượng, hữu ý niệm, hữu truy cầu, tựu thị chấp trước, tựu thị hữu vi, chỉ đích thị giá đông tây.

Thầy: Nói thế này nói thế kia nhiều lắm, nhưng không ai như tôi đưa Đại Pháp như thế này nói cho chư vị cả. Phật gia giảng rằng ‘pháp hữu vi’ là sẽ không cao lắm, ‘pháp hữu vi’ không phải nói về động tác, họ ngồi đả toạ, kết ấn cũng là động tác, do đó không phải là ở chỗ động tác lớn hay nhỏ. ‘Hữu vi’ ‘vô vi’ ấy là ở chỗ ý niệm, ở chỗ truy cầu; có ý niệm, có truy cầu, thì là chấp trước, là hữu vi; là nói về những điều ấy.

弟子:心性和德不相等,你說德的多少決定層次,又說心性多高功多高,兩者是否矛盾?

Đệ tử: Tâm tính hoà đức bất tương đẳng, nhĩ thuyết đức đích đa thiểu quyết định tầng thứ, hựu thuyết tâm tính đa cao công đa cao, lưỡng giả thị phủ mâu thuẫn?

Đệ tử: ‘Tâm tính’ không tương đương với ‘đức’, Ngài nói đức nhiều hay ít sẽ quyết định tầng thứ, lại nói tâm tính cao bao nhiêu công cao bấy nhiêu, hai điều ấy phải chăng mâu thuẫn?

師:你可能沒聽清楚。心性包括的很廣,德是其中一部份;還包括「忍」、吃苦能力、悟性、對待矛盾等等,這一切都屬於心性問題,其中還包括功的演化、德的演化,是一個廣義上的東西。德有多少不是說你功有多高,它是說你將來長多少功。德還得通過提高心性魔煉後,它才能轉化為功。

Sư: Nhĩ khả năng một thính thanh sở. Tâm tính bao quát đích ngận quảng, đức thị kỳ trung nhất bộ phận; hài bao quát “nhẫn”, ngật khổ năng lực, ngộ tính, đối đãi mâu thuẫn đẳng đẳng, giá nhất thiết đô thuộc ư tâm tính vấn đề, kỳ trung hài bao quát công đích diễn hoá, đức đích diễn hoá, thị nhất cá quảng nghĩa thượng đích đông tây. Đức hữu đa thiểu bất thị thuyết nhĩ công hữu đa cao, tha thị thuyết nhĩ tương lai trưởng đa thiểu công. Đức hài đắc thông quá đề cao tâm tính ma luyện hậu, tha tài năng chuyển hoá vi công.

Thầy: Có lẽ chư vị nghe không rõ ràng. ‘Tâm tính’ bao quát rất là rộng, mà ‘đức’ là một phần trong đó; còn gồm cả “nhẫn”, năng lực chịu khổ, ngộ tính, đối đãi mâu thuẫn [như thế nào], v.v., hết thảy đều thuộc vấn đề tâm tính, trong đó còn có vấn đề diễn hoá của công, diễn hoá của đức, đây là điều có nghĩa rộng. Đức nhiều ít bao nhiêu không phải là nói lên công của chư vị cao bao nhiêu, mà là nói lên chư vị tương lai tăng trưởng công đến bao nhiêu. Đức còn cần thông qua ma luyện đề cao tâm tính sau đó, nó mới chuyển hoá thành ‘công’ .

弟子:一家幾口人練的不是一種功,會不會互相影響?

Đệ tử: Nhất gia kỷ khẩu nhân luyện đích bất thị nhất chủng công, hội bất hội hỗ tương ảnh hưởng?

Đệ tử: Một nhà mấy người mà luyện không cùng một loại công [pháp], sẽ ảnh hưởng lẫn nhau hay không?

師:不會的。但是,他們之間會不會互相影響我不知道。作為我們法輪功誰也干擾不了,而且你對他們還有好處,因為我們是正法修煉,不會出偏。

Sư: Bất hội đích. Đãn thị, tha môn chi gian hội bất hội hỗ tương ảnh hưởng ngã bất tri đạo. Tác vi ngã môn Pháp Luân Công thuỳ dã can nhiễu bất liễu, nhi thả nhĩ đối tha môn hài hữu hảo xứ, nhân vi ngã môn thị chính Pháp tu luyện, bất hội xuất thiên.

Thầy: Sẽ không [ảnh hưởng học viên chúng ta]. Tuy nhiên, có ảnh hưởng giữa họ với nhau không thì tôi không biết. Về Pháp Luân Công chúng ta thì không ai can nhiễu nổi, hơn nữa chư vị là có chỗ tốt đối với họ, vì chư vị là tu luyện chính Pháp, sẽ không xuất thiên [sai].

弟子:現在社會上流傳很多說法,比如金鎖鏈甚麼的,怎樣對待?

Đệ tử: Hiện tại xã hội thượng lưu truyền ngận đa thuyết pháp, tỷ như kim toả liên thậm ma đích, chẩm dạng đối đãi?

Đệ tử: Hiện nay ở xã hội lưu hành rất nhiều lối nghĩ [khác nhau], chẳng hạn như thư chuỗi, đối đãi như thế nào?

師:我跟大家講,這東西純屬騙人,你不要給他回信,簡直是無聊,你可以不管它。你看他這東西正不正,一看就可以看的出來,我們這法嚴格要求修心性的。有些氣功師我叫他氣功商,拿氣功作為一種商品,成為換錢的資本,這樣的人教功也教不出甚麼東西來,有那麼點東西也不會高,還有的是邪的東西。

Sư: Ngã cân đại gia giảng, giá đông tây thuần thuộc biển nhân, nhĩ bất yếu cấp tha hồi tín, giản trực thị vô liêu, nhĩ khả dĩ bất quản tha. Nhĩ khán tha giá đông tây chính bất chính, nhất khán tựu khả dĩ khán đích xuất lai, ngã môn giá Pháp nghiêm cách yêu cầu tu tâm tính đích. Hữu ta khí công sư ngã khiếu tha khí công thương, nã khí công tác vi nhất chủng thương phẩm, thành vi hoán tiền đích tư bản, giá dạng đích nhân giáo công dã giáo bất xuất thậm ma đông tây lai, hữu na ma điểm đông tây dã bất hội cao, hài hữu đích thị tà đích đông tây.

Thầy: Tôi bảo chư vị này, những thứ đó thuần tuý là lừa người, chư vị không cần trả lời thư cho họ, quả là vô nghĩa, chư vị có thể mặc kệ. Chư vị xem họ cái đó là chính hay bất chính, nhìn một cái là có thể thấy ngay, Pháp này của chúng ta yêu cầu nghiêm khắc tu tâm tính. Có một số khí công sư mà tôi gọi họ là thương [nhân] khí công, coi khí công như một loại mặt hàng thương mại, biến thành vốn liếng để kiếm tiền, người như thế mà dạy công thì cũng chẳng dạy được gì đâu, dù có chút gì đó thì cũng không cao, còn có những thứ là tà nữa.

弟子:法輪功學員在寺院中皈依了怎麼辦?該退出嗎?

Đệ tử: Pháp Luân Công học viên tại tự viện trung quy y liễu chẩm ma biện? Cai thoái xuất ma?

Đệ tử: Học viên Pháp Luân Công đã quy y ở nhà chùa rồi thì làm sao? Có cần thoái xuất khỏi không?

師:它和咱們沒甚麼關係,雖然你已經皈依,那是形式上的東西。

Sư: Tha hoà cha môn một thậm ma quan hệ, tuy nhiên nhĩ dĩ kinh quy y, na thị hình thức thượng đích đông tây.

Thầy: Nó không quan hệ gì với chúng ta, tuy chư vị đã quy y, [nhưng] ấy là những thứ ở hình thức thôi.

弟子:我們幾個從學習以來感到頭脹、頭暈?

Đệ tử: Ngã môn kỷ cá tùng học tập dĩ lai cảm đáo đầu trướng, đầu vựng?

Đệ tử: Có mấy người chúng ta từ sau lớp học thì cảm thấy đầu trướng, đầu váng?

師:這可能是新進來的學員,身體還沒有調整好,我打出的能量很大,病氣往外發會頭脹,頭脹是給你去頭上的病,是好事,但去的太猛反應就大。我們辦七天班時有人就受不了,時間再短可能就要出問題了,打出的能量大,反應非常厲害,頭脹的受不了,看來十天班比較穩,後進來的人反應會大些。

Sư: Giá khả năng thị tân tiến lai đích học viên, thân thể hài một hữu điều chỉnh hảo, ngã đả xuất đích năng lượng ngận đại, bệnh khí vãng ngoại phát hội đầu trướng, đầu trướng thị cấp nhĩ khứ đầu thượng đích bệnh, thị hảo sự, đãn khứ đích thái mãnh phản ứng tựu đại. Ngã môn biện thất thiên ban thời hữu nhân tựu thụ bất liễu, thời gian tái đoản khả năng tựu yếu xuất vấn đề liễu, đả xuất đích năng lượng đại, phản ứng phi thường lệ hại, đầu trướng đích thụ bất liễu, khán lai thập thiên ban tỷ giảo ổn, hậu tiến lai đích nhân phản ứng hội đại ta.

Thầy: Có thể là học viên mới tham gia, thân thể vẫn chưa điều chỉnh xong, tôi đưa ra năng lượng rất lớn, khí bệnh phát ra thì thấy đầu trướng lên, đầu trướng lên là trừ bỏ bệnh ở đầu cho chư vị, đây là việc tốt, nhưng trừ bỏ mạnh mẽ quá thì phản ứng sẽ lớn. Chúng tôi mở khoá học bảy ngày thì có người không chịu nổi, thời gian ngắn nữa thì có thể xuất hiện vấn đề, năng lượng xuất ra là lớn, phản ứng rất ghê, đầu trướng lên không chịu nổi, xem ra lớp mười ngày là khá ổn, những người vào sau thì phản ứng sẽ lớn hơn.

弟子:煉功可不可以抽煙、喝酒?因工作特點需要喝酒怎麼辦?

Đệ tử: Luyện công khả bất khả dĩ trừu yên, hát tửu? Nhân công tác đặc điểm nhu yếu hát tửu chẩm ma biện?

Đệ tử: Luyện công có thể hút thuốc, uống rượu không? Vì đặc điểm công tác cần uống rượu thì làm thế nào?

師:對這個問題我是這樣看的,我們煉佛家功是要戒酒的,時間長了不喝你可能還想,一點點的戒吧。但是時間別太長,太長了會遭到懲罰的!對抽煙,我認為是個意志問題,只要你想戒就能戒掉。常人常想:「我今天戒煙了。」過幾天又堅持不了。過兩天又想起來了,又戒,就這樣,他老也戒不了。常人生活在世間,世間人與人之間往來免不了這些應酬。但是,你要想到你已不是一個常人了,已經開始修煉了。有意志,就可以達到目地的。當然,我的徒弟也還有抽煙的,他自己也能戒,但別人一給他,他又拉不下面子,又想抽,兩天不抽還難受,再去抽也難受。自己一定要控制住!有些人是搞交際的,經常要陪客人喝酒,這個問題很難解決。儘量少喝吧,或者你想辦法解決!

Sư: Đối giá cá vấn đề ngã thị giá dạng khán đích, ngã môn luyện Phật gia công thị yếu giới tửu đích, thời gian trường liễu bất hát nhĩ khả năng hài tưởng, nhất điểm điểm đích giới ba. Đãn thị thời gian biệt thái trường, thái trường liễu hội tao đáo trừng phạt đích! Đối trừu yên, ngã nhận vi thị cá ý chí vấn đề, chỉ yếu nhĩ tưởng giới tựu năng giới điệu. Thường nhân thường tưởng: “ngã kim thiên giới yên liễu.” Quá kỷ thiên hựu kiên trì bất liễu. Quá lưỡng thiên hựu tưởng khởi lai liễu, hựu giới, tựu giá dạng, tha lão dã giới bất liễu. Thường nhân sinh hoạt tại thế gian, thế gian nhân dữ nhân chi gian vãng lai miễn bất liễu giá ta ứng thù. Đãn thị, nhĩ yếu tưởng đáo nhĩ dĩ bất thị nhất cá thường nhân liễu, dĩ kinh khai thuỷ tu luyện liễu. Hữu ý chí, tựu khả dĩ đạt đáo mục địa đích. Đương nhiên, ngã đích đồ đệ dã hài hữu trừu yên đích, tha tự kỷ dã năng giới, đãn biệt nhân nhất cấp tha, tha hựu lạp bất hạ diện tử, hựu tưởng trừu, lưỡng thiên bất trừu hài nan thụ, tái khứ trừu dã nan thụ. Tự kỷ nhất định yếu khống chế trụ! Hữu ta nhân thị cảo giao tế đích, kinh thường yếu bồi khách nhân hát tửu, giá cá vấn đề ngận nan giải quyết. Tận lượng thiểu hát ba, hoặc giả nhĩ tưởng biện pháp giải quyết!

Thầy: Về vấn đề này thì tôi nhìn nhận như thế này, chúng ta luyện công của Phật gia là phải ‘giới tửu’[7], một thời gian dài không uống thì chư vị có thể vẫn nghĩ tới, [vậy] hãy giới cấm dần dần. Nhưng không được quá lâu, quá lâu [mà không bỏ rượu] thì sẽ gặp trừng phạt! Về hút thuốc, tôi nhìn nhận ấy là vấn đề ý chí, chỉ cần chư vị muốn giới là có thể giới được ngay. Người thường thường nghĩ: “hôm nay ta bỏ thuốc lá”. Qua mấy hôm thì không kiên trì được nữa. Qua hai ngày lại muốn trở lại, rồi lại giới, cứ như thế thì họ mãi không giới được. Người thường sinh sống ở thế gian, người ta ở thế gian giao thiệp với nhau thì khó tránh khỏi những giao tiếp khách khứa. Tuy nhiên, chư vị nghĩ xem chư vị không còn là người thường nữa, đã bắt đầu tu luyện rồi. Có ý chí, thì có thể đạt được mục đích. Tất nhiên, những đồ đệ của tôi có người vẫn còn hút thuốc, tự họ cũng có thể giới được rồi, nhưng người khác mời họ [điếu thuốc], họ quá ngại [từ chối] và vẫn muốn hút, hai hôm không hút thì thấy khó chịu, mà hút thì cũng thấy khó chịu. Tự thân nhất định phải khống chế chắc! Có người là phải giao tiếp cộng đồng, thường thường uống rượu cùng người ta, vấn đề đó rất khó giải quyết. Tận sức uống ít, nếu không chư vị phải nghĩ biện pháp giải quyết!

[7] giới tửu: cấm rượu.

弟子:當還不能看到法輪轉動時,如給順時針意念,會不會給正在逆時針轉的法輪造成影響?

Đệ tử: Đương hài bất năng khán đáo Pháp Luân chuyển động thời, như cấp thuận thời châm ý niệm, hội bất hội cấp chính tại nghịch thời châm chuyển đích Pháp Luân tạo thành ảnh hưởng?

Đệ tử: Khi chưa thể nhìn thấy Pháp Luân chuyển động, nếu đưa vào ý niệm thuận chiều kim đồng hồ, thì có tạo thành ảnh hưởng cho Pháp Luân mà đang xoay ngược chiều kim đồng hồ hay không?

師:法輪是自轉的,不用你意念引導。再強調一下,不要用意念,意念也控制不了他。不要以為你意念一控制就使他往反方向轉。小腹部位的法輪是不受意念控制的。在體外調整身體的法輪,你讓他轉,可能會接到你的思想活動,可能會產生這種感覺。我給你講:你不要做,不能人為的去煉。人為的去煉不還是人煉功了麼,是法輪去煉,是法煉人。為甚麼老放不開你意念的東西呢?任何功法到高層次,哪怕是道家功法,都沒有意念引導。

Sư: Pháp Luân thị tự chuyển đích, bất dụng nhĩ ý niệm dẫn đạo. Tái cường điều nhất hạ, bất yếu dụng ý niệm, ý niệm dã khống chế bất liễu Tha. Bất yếu dĩ vi nhĩ ý niệm nhất khống chế tựu sử Tha vãng phản phương hướng chuyển. Tiểu phúc bộ vị đích Pháp Luân thị bất thụ ý niệm khống chế đích. Tại thể ngoại điều chỉnh thân thể đích Pháp Luân, nhĩ nhượng Tha chuyển, khả năng hội tiếp đáo nhĩ đích tư tưởng hoạt động, khả năng hội sản sinh giá chủng cảm giác. Ngã cấp nhĩ giảng: nhĩ bất yếu tố, bất năng nhân vi đích khứ luyện. Nhân vi đích khứ luyện bất hài thị nhân luyện công liễu ma, thị Pháp Luân khứ luyện, thị Pháp luyện nhân. Vi thậm ma lão phóng bất khai nhĩ ý niệm đích đông tây ni? Nhậm hà công pháp đáo cao tầng thứ, nả phạ thị Đạo gia công pháp, đô một hữu ý niệm dẫn đạo.

Thầy: Pháp Luân là tự chuyển, không cần dẫn đạo bằng ý niệm của chư vị. Tôi nhấn mạnh lại một lần nữa, không được dùng ý niệm, ý niệm cũng không khống chế Nó được. Không được lấy ý niệm của chư vị để khống chế Nó quay theo hướng ngược lại. Pháp Luân ở chỗ bụng dưới là không chịu khống chế của ý niệm. Các Pháp Luân bên ngoài mà điều chỉnh thân thể, chư vị bảo Nó chuyển, thì có thể Nó sẽ tiếp nhận hoạt động tư duy của chư vị, có thể sinh ra một loại cảm giác. Tôi giảng cho chư vị: chư vị đừng làm thế, không được luyện một cách cố ý. Luyện một cách cố ý thì chẳng phải vẫn là ‘người luyện công’ sao? [Đây là] Pháp Luân luyện, là ‘Pháp luyện người’. Tại sao cứ không buông bỏ những thứ ý niệm của chư vị? Bất kể công pháp nào khi tới tầng rất cao, dù là công pháp Đạo gia cũng thế, thì đều không có ý niệm đạo dẫn đâu.

弟子:煉法輪功甚麼時間、地點、方位效果最好?煉多少次合適?飯前飯後煉有關係嗎?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công thậm ma thời gian, địa điểm, phương vị hiệu quả tối hảo? Luyện đa thiểu thứ hợp thích? Phạn tiền phạn hậu luyện hữu quan hệ ma?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công thì thời gian, địa điểm, phương vị nào là có hiệu quả tốt nhất? Luyện bao nhiêu lần thì thích hợp? Trước khi ăn hoặc sau khi ăn mà luyện thì có sao không?

師:因為法輪是圓的,是我們這個宇宙的縮影,煉的是宇宙的理,而且宇宙是運動的,反過來就是法煉人。你沒煉功,他煉你,和傳出的所有功法理論都不同,我這是獨一份的法煉人。其它所有功法都走丹道這一派,人為的煉功、存丹,我們不用。我們這個功甚麼時間煉都可以,你不煉功功煉你,不用選擇時間,時間多就多煉,時間少就少煉。我們這個功法要求不是特別嚴的,但我們對心性要求是非常嚴的。我們的功法也不講方向,站在哪個方位都可以。因為宇宙是旋轉的,在變動,你站在西邊也不一定是西邊了,你站在東邊也不一定是東邊了。我要求弟子煉功面西而站,只是個敬意,實際上並不起甚麼作用。煉功在哪兒煉都可以,家裏外面都行。但是我覺的還是找一個場地、環境、空氣比較好一點的,特別是離髒東西要遠,如垃圾箱、廁所等,其它都沒關係。修煉大法不講時間、地點和方位。飯前飯後都可以煉,但你吃的太飽的話,馬上就煉也難受呀,最好還是歇會兒。當肚子餓的咕咕叫時也難入靜,大家針對自己的情況來掌握。

Sư: Nhân vi Pháp Luân thị viên đích, thị ngã môn giá cá vũ trụ đích súc ảnh, luyện đích thị vũ trụ đích Lý, nhi thả vũ trụ thị vận động đích, phản quá lai tựu thị Pháp luyện nhân. Nhĩ một luyện công, Tha luyện nhĩ, hoà truyền xuất đích sở hữu công pháp lý luận đô bất đồng, ngã giá thị độc nhất phần đích Pháp luyện nhân. Kỳ tha sở hữu công pháp đô tẩu đan đạo giá nhất phái, nhân vi đích luyện công, tồn đan, ngã môn bất dụng. Ngã môn giá cá công thậm ma thời gian luyện đô khả dĩ, nhĩ bất luyện công công luyện nhĩ, bất dụng tuyển trạch thời gian, thời gian đa tựu đa luyện, thời gian thiểu tựu thiểu luyện. Ngã môn giá cá công pháp yêu cầu bất thị đặc biệt nghiêm đích, đãn ngã môn đối tâm tính yêu cầu thị phi thường nghiêm đích. Ngã môn đích công pháp dã bất giảng phương hướng, trạm tại nả cá phương vị đô khả dĩ. Nhân vi vũ trụ thị toàn chuyển đích, tại biến động, nhĩ trạm tại Tây biên dã bất nhất định thị Tây biên liễu, nhĩ trạm tại Đông biên dã bất nhất định thị Đông biên liễu. Ngã yêu cầu đệ tử luyện công diện Tây nhi trạm, chỉ thị cá kính ý, thực tế thượng tịnh bất khởi thậm ma tác dụng. Luyện công tại nả nhi luyện đô khả dĩ, gia lý ngoại diện đô hành. Đãn thị ngã giác đích hài thị trảo nhất cá trường địa, hoàn cảnh, không khí tỷ giảo hảo nhất điểm đích, đặc biệt thị ly tảng đông tây yếu viễn, như lạp ngập tương, xí sở đẳng, kỳ tha đô một quan hệ. Tu luyện Đại Pháp bất giảng thời gian, địa điểm hoà phương vị. Phạn tiền phạn hậu đô khả dĩ luyện, đãn nhĩ ngật đích thái bão đích thoại, mã thượng tựu luyện dã nan thụ nha, tối hảo hài thị yết hội nhi. Đương đỗ tử ngã đích cô cô khiếu thời dã nan nhập tĩnh, đại gia châm đối tự kỷ đích tình huống lai chưởng ác.

Thầy: Vì Pháp Luân là tròn, là ảnh thu nhỏ của vũ trụ này của chúng ta, [điều] luyện ấy cũng là Lý của vũ trụ, hơn nữa vũ trụ là vận động, mà dù sao thì cũng là ‘Pháp luyện người’. Chư vị không luyện công, Nó luyện chư vị, khác với lý luận của tất cả các công pháp [khác] đang truyền, [công pháp] của tôi là ‘Pháp luyện người’ duy nhất. Tất cả công pháp khác đều là phái tẩu đan đạo[8], cố ý luyện công và tồn đan, chúng ta không cần [như thế]. Công pháp chúng ta luyện lúc nào cũng được, chư vị không luyện công công luyện chư vị, không cần lựa chọn thời gian, thời gian nhiều thì luyện nhiều, thời gian ít thì luyện ít. Công pháp này của chúng ta là không yêu cầu hết sức nghiêm [về mặt này], nhưng chúng ta yêu cầu về tâm tính là nghiêm [khắc] phi thường. Công pháp chúng ta cũng không giảng phương hướng, đứng tại phương vị nào cũng được. Vì vũ trụ đang xoay chuyển, đang biến động, chư vị đứng ở phía Tây thì cũng không nhất định là phía Tây, chư vị đứng tại phía Đông thì cũng không nhất định là phía Đông. Tôi yêu cầu đệ tử luyện công xoay mặt về phía Tây, chỉ là ý tôn kính, chứ thực ra không khởi tác dụng gì. Luyện công luyện ở đâu cũng khả dĩ, trong nhà ngoài nhà đều được cả. Nhưng tôi cảm thấy vẫn là chọn một không gian, một hoàn cảnh, một nơi không khí tốt lành hơn chút, nhất là cách xa những thứ bẩn thỉu như thùng rác, nhà vệ sinh, v.v. Những cái khác thì không quan hệ gì. Tu luyện Đại Pháp không giảng thời gian, địa điểm và phương vị. Trước hoặc sau bữa ăn thì đều có thể luyện, nhưng nếu chư vị ăn no quá, lập tức luyện thì khó chịu thôi, tốt nhất là đợi một lát. Còn khi bụng đói kêu vang thì cũng là khó nhập tĩnh, mọi người hãy thu xếp tuỳ theo tình huống của bản thân mình.

[8] tẩu đan đạo: theo con đường luyện đan.

弟子:煉完功後有甚麼要求?要不要乾洗臉?

Đệ tử: Luyện hoàn công hậu hữu thậm ma yêu cầu? Yếu bất yếu kiền tẩy kiểm?

Đệ tử: Luyện xong công thì sau đó có yêu cầu gì? Có cần chà sát mặt không?

師:我們煉完功後不怕涼水甚麼的,也不用乾洗臉、乾洗手,這都是初期為了打開人體穴脈所採用的。我們是大法修煉,都沒有這些東西,現在已不是剛剛改變人體那個狀態了。常人走向煉功人好像很難很難,而且有些功法又無法直接改變人體,在它來講有些要求很複雜,我們這裏都沒有,也沒這些說道。我沒講到的你都不用去管,只管去煉。因為我們是大法修煉,你身體處於初級狀態怕這怕那,或這要求那要求的過程,在幾天之中都走過去了。我不說抵其它功法幾年的功夫,但也差不多吧。低層次上的東西,這個方位,那個脈呀,等等這些我都不講,我們講高層次上東西。大法修煉,真正煉功,是「煉」字而不是「練」字。

Sư: Ngã môn luyện hoàn công hậu bất phạ lương thuỷ thậm ma đích, dã bất dụng kiền tẩy kiểm, kiền tẩy thủ, giá đô thị sơ kỳ vi liễu đả khai nhân thể huyệt mạch sở thái dụng đích. Ngã môn thị Đại Pháp tu luyện, đô một hữu giá ta đông tây, hiện tại dĩ bất thị cương cương cải biến nhân thể na cá trạng thái liễu. Thường nhân tẩu hướng luyện công nhân hảo tượng ngận nan ngận nan, nhi thả hữu ta công pháp hựu vô pháp trực tiếp cải biến nhân thể, tại tha lai giảng hữu ta yêu cầu ngận phức tạp, ngã môn giá lý đô một hữu, dã một giá ta thuyết đạo. Ngã một giảng đáo đích nhĩ đô bất dụng khứ quản, chỉ quản khứ luyện. Nhân vi ngã môn thị Đại Pháp tu luyện, nhĩ thân thể xử ư sơ cấp trạng thái phạ giá phạ na, hoặc giá yêu cầu na yêu cầu đích quá trình, tại kỷ thiên chi trung đô tẩu quá khứ liễu. Ngã bất thuyết để kỳ tha công pháp kỷ niên đích công phu, đãn dã sai bất đa ba. Đê tầng thứ thượng đích đông tây, giá cá phương vị, na cá mạch nha, đẳng đẳng giá ta ngã đô bất giảng, ngã môn giảng cao tầng thứ thượng đông tây. Đại Pháp tu luyện, chân chính luyện công, thị “luyện” tự nhi bất thị “luyện” tự.

Thầy: Chúng ta sau khi luyện xong công cũng không ngại những gì đó như nước lạnh, cũng không cần chà xát mặt, chà xát tay, đó là đều là những gì dùng thời đầu khi để khai mở huyệt mạch trên [thân] thể người. Chúng ta là tu luyện của Đại Pháp, không có những thứ đó, hiện giờ đã không còn là trạng thái mới bắt đầu vào cải biến [thân] thể người nữa. Người thường mà muốn thành người luyện công thì xem ra khó lắm khó lắm, hơn nữa một số công pháp còn không cách nào trực tiếp cải biến [thân] thể người, đối với nó mà nói thì một số yêu cầu rất phức tạp, chúng ta ở đây đều không có [những điều ấy], cũng không đề cập tới. [Những gì] tôi không giảng tới thì chư vị cũng không cần quản, chỉ quan tâm luyện thôi. Vì chúng ta là tu luyện Đại Pháp, thân thể chư vị với trạng thái thời đầu ngại điều này ngại điều kia, hoặc là quá trình yêu cầu này yêu cầu kia, thì chỉ trong mấy ngày là qua rồi. Tôi không nói rằng cũng [bằng] như công pháp khác với công phu hàng mấy năm, nhưng cũng không khác là mấy. Những thứ ở tầng thấp, phương vị này, đường mạch kia, v.v. những thứ đó thì tôi đều không giảng, chúng ta giảng những điều ở tầng thứ cao. Tu luyện Đại Pháp, luyện công chân chính, là chữ luyện “” này chứ không phải chữ luyện “” này.

弟子:煉功後能否立即大小便?小便中有許多泡沫,是否會漏氣?

Đệ tử: Luyện công hậu năng phủ lập tức đại tiểu tiện? Tiểu tiện trung hữu hứa đa bào mạt, thị phủ hội lậu khí?

Đệ tử: Luyện công xong có thể lập tức đại tiện tiểu tiện không? Trong tiểu tiện có rất nhiều bọt khí, có phải là bị rò rỉ mất khí?

師:沒有問題的。我們煉功人在高層次上,大小便確實有能量帶出,不過那點能量不算甚麼,甚麼也不影響。煉大法還要普度眾生,這一點不要當回事,我們得到的要多的多。辦這個班,我打出去的能量很強很強,牆上都留著許多東西。

Sư: Một hữu vấn đề đích. Ngã môn luyện công nhân tại cao tầng thứ thượng, đại tiểu tiện xác thực hữu năng lượng đới xuất, bất quá na điểm năng lượng bất toán thậm ma, thậm ma dã bất ảnh hưởng. Luyện Đại Pháp hài yếu phổ độ chúng sinh, giá nhất điểm bất yếu đương hồi sự, ngã môn đắc đáo đích yếu đa đích đa. Biện giá cá ban, ngã đả xuất khứ đích năng lượng ngận cường ngận cường, tường thượng đô lưu trước hứa đa đông tây.

Thầy: Không sao cả. Người luyện công chúng ta ở tầng thứ cao, đại tiểu tiện quả thực có mang năng lượng ra, chẳng qua một chút năng lượng đó không đáng gì cả, không ảnh hưởng gì. Luyện Đại Pháp còn cần phổ độ chúng sinh, không cần coi một chút đó là chuyện gì hết, chúng ta đắc được hơn thế nhiều lắm. Làm lớp học này, tôi đưa ra năng lượng rất mạnh rất mạnh, cả trên tường cũng lưu lại rất nhiều những thứ đó.

弟子:能否宣傳法輪功?能否教沒聽課的人煉法輪功?沒聽過課的是否能在輔導站煉功?寄錄音帶和書給外地親友可否?

Đệ tử: Năng phủ tuyên truyền Pháp Luân Công? Năng phủ giáo một thính khoá đích nhân luyện Pháp Luân Công? Một thính quá khoá đích thị phủ năng tại phụ đạo trạm luyện công? Ký lục âm đới hoà thư cấp ngoại địa thân hữu khả phủ?

Đệ tử: Có thể tuyên truyền Pháp Luân Công hay không? Có thể dạy luyện Pháp Luân Công cho người chưa từng tới lớp nghe giảng hay không? Người chưa từng tới lớp nghe giảng có thể luyện công ở trạm phụ đạo hay không? Gửi băng thu âm và sách cho bạn bè thân quyến ở địa phương khác thì có được không?

師:普及我們的功法,叫更多人受益,不會出偏。我給你講出許多法,就是讓你知道法,了解高層次上的東西,看到高層次上的東西。先講出來是怕等你看到或遇到時不理解。你可以教別人煉功,但是你下不了那個法輪。怎麼辦?我講了,你要是三心二意不怎麼煉功,我的法身就要離開你。如果你真正煉功,法身就要管你。所以你教他功的時候,就帶了我教的信息,就帶有形成法輪的氣機。你教的人有心去煉,就能形成法輪。有緣份,根基好的,當時就可以得到法輪。咱們的書寫的很詳細,沒人教,也能煉的好。

Sư: Phổ cập ngã môn đích công pháp, khiếu cánh đa nhân thụ ích, bất hội xuất thiên. Ngã cấp nhĩ giảng xuất hứa đa Pháp, tựu thị nhượng nhĩ tri đạo Pháp, liễu giải cao tầng thứ thượng đích đông tây, khán đáo cao tầng thứ thượng đích đông tây. Tiên giảng xuất lai thị phạ đẳng nhĩ khán đáo hoặc ngộ đáo thời bất lý giải. Nhĩ khả dĩ giáo biệt nhân luyện công, đãn thị nhĩ hạ bất liễu na cá Pháp Luân. Chẩm ma biện? Ngã giảng liễu, nhĩ yếu thị tam tâm nhị ý bất chẩm ma luyện công, ngã đích Pháp thân tựu yếu ly khai nhĩ. Như quả nhĩ chân chính luyện công, Pháp thân tựu yếu quản nhĩ. Sở dĩ nhĩ giáo tha công đích thời hậu, tựu đới liễu ngã giáo đích tín tức, tựu đới hữu hình thành Pháp Luân đích khí cơ. Nhĩ giáo đích nhân hữu tâm khứ luyện, tựu năng hình thành Pháp Luân. Hữu duyên phận, căn cơ hảo đích, đương thời tựu khả dĩ đắc đáo Pháp Luân. Cha môn đích thư tả đích ngận tường tế, một nhân giáo, dã năng luyện đích hảo.

Thầy: Phổ cập công pháp chúng ta, để nhiều người hơn nữa nhận được lợi ích, thì không sai lệch gì. Tôi giảng ra cho chư vị rất nhiều Pháp, là để chư vị biết được Pháp, liễu giải được những điều ở tầng thứ cao, thấy được những điều ở tầng thứ cao. Giảng ra trước là vì e rằng tới khi chư vị thấy hoặc gặp phải thì sẽ không hiểu. Chư vị có thể dạy người khác luyện công, nhưng chư vị không cài được Pháp Luân. Làm sao bây giờ? Tôi giảng rồi, nếu chư vị luyện công chẳng chuyên cần, thì Pháp thân của tôi sẽ ly khai chư vị. Nếu chư vị luyện công một cách chân chính, Pháp thân sẽ quản chư vị. Do đó khi chư vị dạy công cho họ, thì mang theo tín tức mà tôi dạy, thì mang theo khí cơ mà hình thành Pháp Luân. Người chư vị dạy mà có tâm luyện [công], thì có thể hình thành Pháp Luân. Có duyên phận, căn cơ tốt, thì lúc đó có thể đắc Pháp Luân. Sách chúng ta đã viết rất chi tiết, không cần người dạy, cũng có thể luyện được tốt.

弟子:煉法輪功講不講呼吸?如何調息?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công giảng bất giảng hô hấp? Như hà điều tức?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công thì có giảng hô hấp không? Điều tức như thế nào?[9]

[9] điều tức: điều [khiển] hơi thở hô hấp, tập thở.

師:煉法輪功,不需要調息,也不講呼吸,那是初級功法學的東西,在我們這裏不需要。因為調息呼吸是為了煉丹、添風、加火。逆式呼吸、順式呼吸、嚥津都是為了煉丹,我們不煉這個。你所需要的一切都由法輪來完成。有些更高更難的東西,由師父法身來完成。任何一派,特別是道家講的更詳細,但不是人為的煉出來的。實際上是他那派的上師在給他演煉,在給他化,他只是不知其理。自己人為的做不了,只有開了悟,開了功的人才能做。

Sư: Luyện Pháp Luân Công, bất nhu yếu điều tức, dã bất giảng hô hấp, na thị sơ cấp công pháp học đích đông tây, tại ngã môn giá lý bất nhu yếu. Nhân vi điều tức hô hấp thị vi liễu luyện đan, thiêm phong, gia hoả. Nghịch thức hô hấp, thuận thức hô hấp, yến tân đô thị vi liễu luyện đan, ngã môn bất luyện giá cá. Nhĩ sở nhu yếu đích nhất thiết đô do Pháp Luân lai hoàn thành. Hữu ta cánh cao cánh nan đích đông tây, do Sư phụ Pháp thân lai hoàn thành. Nhậm hà nhất phái, đặc biệt thị Đạo gia giảng đích cánh tường tế, đãn bất thị nhân vi đích luyện xuất lai đích. Thực tế thượng thị tha na phái đích thượng sư tại cấp tha diễn luyện, tại cấp tha hoá, tha chỉ thị bất tri kỳ lý. Tự kỷ nhân vi đích tố bất liễu, chỉ hữu khai liễu ngộ, khai liễu công đích nhân tài năng tố.

Thầy: Luyện Pháp Luân Công, là không cần điều tức, cũng không giảng hô hấp, đó là những điều học ở công pháp sơ cấp, là không cần ở chúng ta nơi đây. Vì điều tức hô hấp là để luyện đan, [kiểu như] thêm gió, thêm lửa. Nghịch thức hô hấp, thuận thức hô hấp, nuốt nước bọt, đó đều là luyện đan, chúng ta không luyện những cái đó. Hết thảy những gì chư vị cần đều do Pháp Luân hoàn thành, có những thứ cao hơn khó hơn, thì do Pháp thân của Sư phụ tới hoàn thành. Bất kể một phái nào, nhất là Đạo gia còn giảng chi tiết hơn, nhưng cũng không hữu ý luyện ra [những thứ ấy], thực tế là thượng sư trong phái của họ đã diễn luyện cho họ, cấp cho họ, chỉ là không để họ biết. Tự mình có cố ý làm cũng không được, chỉ người đã khai ngộ, khai công mới có thể làm được.

弟子:煉功有意守嗎?功法的意念在何處?

Đệ tử: Luyện công hữu ý thủ ma? Công pháp đích ý niệm tại hà xứ?

Đệ tử: Luyện công có ý thủ hay không? Ý niệm của công pháp đặt ở chỗ nào?

師:我們這裏沒有意守,一直沒有叫大家意守,讓你放棄執著,不要求甚麼意念。第三套功法,兩掌帶氣貫通兩極,一想就得,其它不要想。

Sư: Ngã môn giá lý một hữu ý thủ, nhất trực một hữu khiếu đại gia ý thủ, nhượng nhĩ phóng khí chấp trước, bất yêu cầu thậm ma ý niệm. Đệ tam sáo công pháp, lưỡng chưởng đới khí quán thông lưỡng cực, nhất tưởng tựu đắc, kỳ tha bất yếu tưởng.

Thầy: Chúng ta đây không có ý thủ, [tôi] vẫn luôn không bảo mọi người ý thủ, [tôi] bảo mọi người buông bỏ chấp trước, đừng có ý niệm nào cả. Bài công pháp thứ ba, hai tay mang khí để quán thông lưỡng cực, thì nghĩ một cái là được rồi, các bài khác thì không cần nghĩ.

弟子:採集能量是否和採氣一樣?

Đệ tử: Thái tập năng lượng thị phủ hoà thái khí nhất dạng?

Đệ tử: Thu thập năng lượng thì cũng giống như thu khí phải không?

師:我們採氣幹啥?我們修煉的是大法,將來都發不出氣。我們煉的不是低層次上的氣,而放出來的是光。能量的採集,用法輪來做,不需要我們自己做。但比如貫通兩極法,他不是採氣,實際上是貫通身體,也起到採能量的作用,但主要不是這個目地。要說採氣怎麼採?大法修煉,一揮手頭頂會感到壓力很大,一下子就來了很多很多,但要氣何用呢?能量也不需要特意去採。

Sư: Ngã môn thái khí cán xá? Ngã môn tu luyện đích thị Đại Pháp, tương lai đô phát bất xuất khí. Ngã môn luyện đích bất thị đê tầng thứ thượng đích khí, nhi phóng xuất lai đích thị quang. Năng lượng đích thái tập, dụng Pháp Luân lai tố, bất nhu yếu ngã môn tự kỷ tố. Đãn tỷ như Quán Thông Lưỡng Cực pháp, Tha bất thị thái khí, thực tế thượng thị quán thông thân thể, dã khởi đáo thái năng lượng đích tác dụng, đãn chủ yếu bất thị giá cá mục địa. Yếu thuyết thái khí chẩm ma thái? Đại Pháp tu luyện, nhất huy thủ đầu đỉnh hội cảm đáo áp lực ngận đại, nhất hạ tử tựu lai liễu ngận đa ngận đa, đãn yếu khí hà dụng ni? Năng lượng dã bất nhu yếu đặc ý khứ thái.

Thầy: Chúng ta thu khí làm gì? Chúng ta tu luyện ấy là Đại Pháp, tương lai cả khí cũng không phát ra được. Chúng ta luyện ấy không phải là khí ở tầng thứ thấp, mà phát ra là ánh sáng. Việc thu thập năng lượng, thì dùng Pháp Luân để làm, chứ không cần bản thân chúng ta làm. Mà chẳng hạn như Quán Thông Lưỡng Cực pháp, Nó không phải là thu khí, trên thực tế là quán thông thân thể, [tuy] cũng có tác dụng thu thập năng lượng, nhưng chủ yếu không phải mục đích ấy. Muốn nói thu khí thì thu thế nào? Tu luyện của Đại Pháp, một cái huơ tay thì đỉnh đầu cảm thấy áp lực rất lớn, lập tức tới rất nhiều rất nhiều, nhưng muốn khí làm chi? Năng lượng cũng không cần cố ý đi thu.

弟子:法輪功是否有百日築基和胎息?

Đệ tử: Pháp Luân Công thị phủ hữu bách nhật trúc cơ hoà thai tức?

Đệ tử: Pháp Luân Công có trăm ngày trúc cơ và thai tức hay không?[10]

[10] trúc cơ: đắp (trúc) nền (), tạo dựng nền tảng; thai tức: thở (tức) như bào thai trong bụng mẹ. (đây là diễn nghĩa bề mặt chữ)

師:那都是低的,我們不煉。我們早就走過初級那個不穩定的時期了。

Sư: Na đô thị đê đích, ngã môn bất luyện. Ngã môn tảo tựu tẩu quá sơ cấp na cá bất ổn định đích thời kỳ liễu.

Thầy: Đó đều là thứ thấp, chúng ta không luyện. Chúng ta từ lâu đã qua thời kỳ đầu bất ổn định đó rồi.

弟子:法輪功是否有陰陽平衡?

Đệ tử: Pháp Luân Công thị phủ hữu âm dương bình hành?

Đệ tử: Pháp Luân Công có cân bằng âm dương hay không?

師:這些都屬於練氣,是低層次上的東西,當你跳出氣的層次後,你的身體不存在陰陽平衡問題。不論你煉哪家功法,只要真正得到師父真傳,保證當你走出低的層次,就要把你以前煉的全部扔掉,一樣都不要!在新層次上又煉一套新的東西,再通過一層,又煉一套新的東西,就是這樣。

Sư: Giá ta đô thuộc ư luyện khí, thị đê tầng thứ thượng đích đông tây, đương nhĩ khiêu xuất khí đích tầng thứ hậu, nhĩ đích thân thể bất tồn tại âm dương bình hành vấn đề. Bất luận nhĩ luyện nả gia công pháp, chỉ yếu chân chính đắc đáo sư phụ chân truyền, bảo chứng đương nhĩ tẩu xuất đê đích tầng thứ, tựu yếu bả nhĩ dĩ tiền luyện đích toàn bộ nhưng điệu, nhất dạng đô bất yếu! Tại tân tầng thứ thượng hựu luyện nhất sáo tân đích đông tây, tái thông quá nhất tầng, hựu luyện nhất sáo tân đích đông tây, tựu thị giá dạng.

Thầy: Những cái đó đều thuộc về luyện khí, là những điều ở tầng thứ thấp, khi chư vị vượt qua tầng thứ về khí rồi, thân thể chư vị sẽ không tồn tại vấn đề cân bằng âm dương đó nữa. Dù chư vị luyện công pháp nào, miễn là chư vị đắc được chân truyền của sư phụ, thì bảo đảm là khi chư vị bước ra khỏi tầng thứ thấp, thì chính là bỏ toàn bộ những thứ chư vị đã luyện từ trước đi, nhất loạt không cần nữa! Ở tầng thứ mới lại luyện một bộ những thứ mới, rồi lại thông qua một tầng nữa, thì lại luyện một bộ những thứ mới, chính là như thế.

弟子:打雷能不能煉功?煉法輪功害怕聲音嗎?

Đệ tử: Đả lôi năng bất năng luyện công? Luyện Pháp Luân Công hại phạ thanh âm ma?

Đệ tử: Khi có sấm sét thì có thể luyện công hay không? Khi luyện Pháp Luân Công có sợ âm thanh không?

師:我給大家舉個例子,過去我在北京某個大院內教學生,當時要下雨,打雷很厲害。當時他們煉的功是我傳給弟子的功,煉的時候要在法輪上走游樁。我看來雨了,他們的功還沒煉完,可是,這時大雨就根本下不起來。雲很低,雲彩在樓上翻滾,雷打的很厲害,天很暗,當時雷打在法輪的圈上,但對我們絲毫無損傷。雷打下來在地下的情況看的清清楚楚,也沒傷到我們。這說明我們這功是有保護的。一般我煉功不分甚麼天氣,想起來就煉,有時間就煉,也不怕聲音。別的功都怕聲音,因為你在很靜很靜的時候突然聽到一個很響的聲音,你會有種感覺,簡直就是渾身上下所有的氣就像爆炸一樣,閃著光竄到體外。但不要緊,我們的功不出偏。當然還是儘量找一個安靜的地方煉好。

Sư: Ngã cấp đại gia cử cá lệ tử, quá khứ ngã tại Bắc Kinh mỗ cá đại viện nội giáo học sinh, đương thời yếu hạ vũ, đả lôi ngận lệ hại. Đương thời tha môn luyện đích công thị ngã truyền cấp đệ tử đích công, luyện đích thời hậu yếu tại Pháp Luân thượng tẩu du trang. Ngã khán lai vũ liễu, tha môn đích công hài một luyện hoàn, khả thị, giá thời đại vũ tựu căn bản hạ bất khởi lai. Vân ngận đê, vân thải tại lâu thượng phiên cổn, lôi đả đích ngận lệ hại, thiên ngận âm, đương thời lôi đả tại Pháp Luân đích khuyên thượng, đãn đối ngã môn ty hào vô tổn thương. Lôi đả hạ lai tại địa hạ đích tình huống khán đích thanh thanh sở sở, dã một thương đáo ngã môn. Giá thuyết minh ngã môn giá công thị hữu bảo hộ đích. Nhất ban ngã luyện công bất phân thậm ma thiên khí, tưởng khởi lai tựu luyện, hữu thời gian tựu luyện, dã bất phạ thanh âm. Biệt đích công đô phạ thanh âm, nhân vi nhĩ tại ngận tĩnh ngận tĩnh đích thời hậu đột nhiên thính đáo nhất cá ngận hưởng đích thanh âm, nhĩ hội hữu chủng cảm giác, giản trực tựu thị hồn thân thượng hạ sở hữu đích khí tựu tượng bộc tạc nhất dạng, thiểm trước quang thoán đáo thể ngoại. Đãn bất yếu khẩn, ngã môn đích công bất xuất thiên. Đương nhiên hài thị tận lượng trảo nhất cá an tĩnh đích địa phương luyện hảo.

Thầy: Tôi dẫn thí dụ này cho chư vị, tôi từng dạy học sinh ở một toà nhà lớn tại Bắc Kinh, lúc đó sắp mưa, sấm sét rất ghê gớm. Bấy giờ công mà họ luyện là công mà tôi truyền cho đệ tử, khi luyện thì cần vừa đứng luyện vừa du động trên Pháp Luân. Tôi thấy mưa rồi, mà công của họ vẫn chưa luyện xong, nhưng lúc đó mưa lớn kia là hoàn toàn không hạ xuống được. Mây rất thấp, những đám mây cuồn cuộn trên toà nhà, sét đánh rất lợi hại, trời rất tối, lúc bấy giờ sét đánh lên vòng Pháp Luân, nhưng không thương tổn tí gì tới chúng tôi cả. Tình huống mà sét đánh xuống đất trông hết sức rõ ràng, cũng không đả thương chúng tôi. Điều ấy nói lên rằng công này của chúng ta là có bảo hộ. Bình thường tôi luyện công là không phân biệt thời tiết nào cả, muốn thì cứ luyện thôi, có thời gian thì luyện, cũng không e ngại âm thanh. Các công khác đều sợ âm thanh, vì chư vị vào lúc rất tĩnh rất tĩnh mà đột nhiên nghe thấy một âm thanh rất vang, chư vị sẽ có một loại cảm giác, quả là như khắp thân trên dưới thì tất cả khí đều tựa như nổ tung lên vậy, loé một cái là chạy khỏi [thân] thể. Nhưng đừng lo, công của chúng ta sẽ không xuất thiên [sai] [kiểu như thế]. Tất nhiên vẫn là tận sức tìm một chỗ an tĩnh mà luyện công thì tốt hơn.

弟子:要不要觀想老師的形像?

Đệ tử: Yếu bất yếu quán tưởng Lão sư đích hình tượng?

Đệ tử: Có cần quán tưởng hình tượng của Thầy không?[11]

[11] Hiểu là: [trong lúc luyện công] dùng ý tưởng tượng ra hình ảnh của Thầy, như là có Sư phụ hiện diện tại đó.

師:不用觀想,你天目開了就可以看到我的法身就在旁邊。

Sư: Bất dụng quán tưởng, nhĩ thiên mục khai liễu tựu khả dĩ khán đáo ngã đích Pháp thân tựu tại bàng biên.

Thầy: Không cần quán tưởng, thiên mục của chư vị khai mở thì có thể nhìn thấy Pháp thân của tôi bên cạnh.

弟子:這五套功法煉的時候有甚麼要求?是否必須一起煉?要求煉九遍的心裏數著數可以嗎?超過了九遍或動作記錯會不會起反作用?

Đệ tử: Giá ngũ sáo công pháp luyện đích thời hậu hữu thậm ma yêu cầu? Thị phủ tất tu nhất khởi luyện? Yêu cầu luyện cửu biến đích tâm lý sổ trước số khả dĩ ma? Siêu quá liễu cửu biến hoặc động tác ký thác hội bất hội khởi phản tác dụng?

Đệ tử: Khi luyện năm bài công pháp này thì có yêu cầu gì? Có phải bắt buộc luyện hết một lúc? Yêu cầu luyện chín lần thì đếm trong tâm thì có được không? Vượt quá chín lần hoặc nhớ sai động tác thì có phản tác dụng không?

師:五套功法煉哪套都可以,我想你在煉功之前最好把第一套功法煉了,因為他會把整個身體活動開,你先煉一遍,身體充份運動開了,再煉其他功法效果比較好。時間多就多煉,時間少就少煉,或者挑其中的一套功法煉。第三、四套功法各煉九遍,書裏寫著心裏數數,你回去可以試一試,叫你孩子在旁邊數著,你做。當做九遍後再找氣機就找不到了,因為我這東西就是這樣,開始要用思維想一下,習慣以後自然就停了。記錯了動作或多做少做了,糾正過來就可以了。

Sư: Ngũ sáo công pháp luyện nả sáo đô khả dĩ, ngã tưởng nhĩ tại luyện công chi tiền tối hảo bả đệ nhất sáo công pháp luyện liễu, nhân vi tha hội bả chỉnh cá thân thể hoạt động khai, nhĩ tiên luyện nhất biến, thân thể sung phần vận động khai liễu, tái luyện kỳ tha công pháp hiệu quả tỷ giảo hảo. Thời gian đa tựu đa luyện, thời gian thiểu tựu thiểu luyện, hoặc giả khiêu kỳ trung đích nhất sáo công pháp luyện. Đệ tam, tứ sáo công pháp các luyện cửu biến, thư lý tả trước tâm lý sổ số, nhĩ hồi khứ khả dĩ thí nhất thí, khiếu nhĩ hài tử tại bàng biên sổ trước, nhĩ tố. Đương tố cửu biến hậu tái trảo khí cơ tựu trảo bất đáo liễu, nhân vi ngã giá đông tây tựu thị giá dạng, khai thuỷ yếu dụng tư duy tưởng nhất hạ, tập quán dĩ hậu tự nhiên tựu đình liễu. Ký thác liễu động tác hoặc đa tố thiểu tố liễu, củ chính quá lai tựu khả dĩ liễu.

Thầy: Năm bài công pháp thì luyện cái nào cũng được, tôi nghĩ rằng khi luyện công thì trước hết tốt nhất là luyện bài công pháp số 1 trước, vì nó sẽ khai mở hoạt động của cả thân thể, chư vị luyện nó trước một lần, thân thể khai mở hoạt động đầy đủ, thì sau luyện các bài công pháp khác sẽ có hiệu quả tốt hơn. Thời gian nhiều thì luyện nhiều, thời gian ít thì luyện ít, hoặc chọn ra một bài công pháp trong đó mà luyện. Bài công pháp số 3, số 4 một lần luyện có chín lượt, trong sách đã viết là đếm trong tâm, chư vị về [nhà] có thể thử xem, bảo con của chư vị đứng ở bên cạnh đếm, [còn] chư vị làm. Khi tới lần thứ chín mà lại làm nữa thì khí cơ cũng không làm nữa, vì những điều ấy của tôi chính là như thế, mới đầu thì cần dùng tư duy để nghĩ, đến khi quen rồi thì tự nhiên sẽ dừng. Nhớ sai động tác hoặc là làm nhiều hơn hoặc ít hơn, thì chỉnh sửa lại cho đúng là được rồi.

弟子:為甚麼收式不收功?

Đệ tử: Vi thậm ma thu thức bất thu công?

Đệ tử: Vì sao thu thế không thu công?

師:法輪自動旋轉,他瞬時間知道你不煉功了。他能量很大,瞬間就能把放出去的東西收回來,比你人為怎麼收都好。這也不是收功,只是把能量收回來。其它功法說停就停。咱們這個功法一直在煉,停了也在煉,所以是不能收停的。想把法輪停止了,你也停不下來。說深了你不理解,如果你能讓他停,我這兒也得停了,你能把我這兒也停止了嗎?

Sư: Pháp Luân tự động toàn chuyển, Tha thuấn thời gian tri đạo nhĩ bất luyện công liễu. Tha năng lượng ngận đại, thuấn gian tựu năng bả phóng xuất khứ đích đông tây thu hồi lai, tỷ nhĩ nhân vi chẩm ma thu đô hảo. Giá dã bất thị thu công, chỉ thị bả năng lượng thu hồi lai. Kỳ tha công pháp thuyết đình tựu đình. Cha môn giá cá công pháp nhất trực tại luyện, đình liễu dã tại luyện, sở dĩ thị bất năng thu đình đích. Tưởng bả Pháp Luân đình chỉ liễu, nhĩ dã đình bất hạ lai. Thuyết thâm liễu nhĩ bất lý giải, như quả nhĩ năng nhượng Tha đình, ngã giá nhi dã đắc đình liễu, nhĩ năng bả ngã giá nhi dã đình chỉ liễu ma?

Thầy: Pháp Luân tự động xoay chuyển, Nó lập tức biết được chư vị không luyện công nữa. Nó có năng lượng rất lớn, lập tức có thể thu hồi trở lại những gì đã phóng xuất ra, còn tốt hơn chư vị cố ý thu về. Đây cũng không phải là thu công, chỉ là thu hồi năng lượng thôi. Các công pháp khác nói dừng tức là dừng. Công pháp này của chúng ta là vẫn cứ luyện, có dừng [động tác] thì vẫn luyện, do đó không thể thu dừng lại. Dù muốn Pháp Luân dừng lại, thì chư vị cũng dừng không nổi. Nói thâm sâu thì chư vị không lý giải được, nếu chư vị có thể khiến Nó dừng lại, thì tôi đây cũng phải dừng lại, chư vị có thể khiến tôi đây dừng hẳn lại không?

弟子:結印、雙手合十可不可以當站樁來煉?

Đệ tử: Kết ấn, song thủ hợp thập khả bất khả dĩ đương trạm trang lai luyện?

Đệ tử: Kết ấn và hai tay hợp thập thì có thể coi như trạm trang mà luyện không?

師:第一套功法——佛展千手不能當站樁煉,抻大勁了,會抻出毛病來。

Sư: Đệ nhất sáo công pháp——Phật Triển Thiên Thủ bất năng đương trạm trang luyện, thân đại kình liễu, hội thân xuất mao bệnh lai.

Thầy: Bài công pháp thứ nhất, Phật Triển Thiên Thủ, cũng không thể coi như trạm trang mà luyện, căng mạnh lâu, thì căng mãi khéo thành bệnh mất.

弟子:煉功時腋下是否要求虛?在煉第一節時感到腋下發緊是怎麼回事?

Đệ tử: Luyện công thời dịch hạ thị phủ yêu cầu hư? Tại luyện đệ nhất tiết thời cảm đáo dịch hạ phát khẩn thị chẩm ma hồi sự?

Đệ tử: Khi luyện công chỗ nách phải chăng yêu cầu có khoảng không? Khi luyện lần đầu cảm thấy chỗ nách căng thẳng thì có sao không?

師:是不是你有病?在初期狀態,改變你身體時,發現這個那個現象,會有些症狀,但不是功帶來的。

Sư: Thị bất thị nhĩ hữu bệnh? Tại sơ kỳ trạng thái, cải biến nhĩ thân thể thời, phát hiện giá cá na cá hiện tượng, hội hữu ta chứng trạng, đãn bất thị công đới lai đích.

Thầy: Phải chăng chư vị có bệnh? Tại trạng thái thời đầu, khi cải biến thân thể chư vị, phát hiện hiện tượng này khác, sẽ có triệu chứng, nhưng không phải do công mang dẫn tới.

弟子:沒有聽過李老師講課的人,能否在公園跟學員煉功?

Đệ tử: Một hữu thính quá Lý Lão sư giảng khoá đích nhân, năng phủ tại công viên cân học viên luyện công?

Đệ tử: Người chưa từng tới lớp nghe Thầy Lý giảng bài, thì có thể luyện công ở công viên cùng các học viên không?

師:可以的。學員都可以教別人煉功。學員教別人煉功不像我這樣教,我要給大家直接改變身體。但也有的人一煉就出法輪,因為學員身後都有我的法身,他會直接去處理。這就要看緣份,緣份大的,當時就可以得到法輪;緣份不大的,得通過長期煉功,自己慢慢形成這種玄機。再煉功使玄機形成法輪。

Sư: Khả dĩ đích. Học viên đô khả dĩ giáo biệt nhân luyện công. Học viên giáo biệt nhân luyện công bất tượng ngã giá dạng giáo, ngã yếu cấp đại gia trực tiếp cải biến thân thể. Đãn dã hữu đích nhân nhất luyện tựu xuất Pháp Luân, nhân vi học viên thân hậu đô hữu ngã đích Pháp thân, tha hội trực tiếp khứ xứ lý. Giá tựu yếu khán duyên phận, duyên phận đại đích, đương thời tựu khả dĩ đắc đáo Pháp Luân; duyên phận bất đại đích, đắc thông quá trường kỳ luyện công, tự kỷ mạn mạn hình thành giá chủng huyền cơ. Tái luyện công sử huyền cơ hình thành Pháp Luân.

Thầy: Có thể. Học viên đều có thể dạy người khác luyện công. Học viên dạy người khác luyện công không giống như tôi dạy, tôi trực tiếp cải biến thân thể cho mọi người. Nhưng cũng có người hễ luyện liền xuất Pháp Luân, là vì bên thân của học viên là có Pháp thân của tôi, họ sẽ tới xử lý trực tiếp. Cái này chính là xem duyên phận, duyên phận mà lớn, thì lúc đó có thể đắc Pháp Luân; duyên phận không lớn, thì thông qua luyện công trường kỳ, tự mình dần dần hình thành loại huyền cơ ấy. Luyện tiếp nữa thì loại huyền cơ ấy sẽ hình thành Pháp Luân.

弟子:靜功「神通加持法」手印動作的涵義是甚麼?

Đệ tử: Tĩnh công “Thần Thông Gia Trì pháp” thủ ấn động tác đích hàm nghĩa thị thậm ma?

Đệ tử: Bài tĩnh công “Thần Thông Gia Trì pháp” thì hàm nghĩa của động tác thủ ấn là gì?

師:這用我們的語言解釋不了,每個動作包括的涵義很多,大體上就是:我要煉功了,要煉佛法了,調整好身體,進入煉功狀態。

Sư: Giá dụng ngã môn đích ngữ ngôn giải thích bất liễu, mỗi cá động tác bao quát đích hàm nghĩa ngận đa, đại thể thượng tựu thị: ngã yếu luyện công liễu, yếu luyện Phật Pháp liễu, điều chỉnh hảo thân thể, tiến nhập luyện công trạng thái.

Thầy: Dùng ngôn ngữ của chúng ta thì giải thích không nổi điều này, mỗi động tác bao quát hàm nghĩa nhiều lắm, về đại thể là: ‘ta chuẩn bị luyện công, chuẩn bị luyện Phật Pháp, điều chỉnh tốt thân thể, tiến nhập trạng thái luyện công’.

弟子:煉成奶白體時,是不是毫毛孔竅都打開了,形成了體呼吸?

Đệ tử: Luyện thành nãi bạch thể thời, thị bất thị hào mao khổng khiếu đô đả khai liễu, hình thành liễu thể hô hấp?

Đệ tử: Khi luyện thành ‘nãi bạch thể’, phải chăng các lỗ chân lông lớn nhỏ đều mở hết, hình thành ‘thể hô hấp’[12]?

[12] Hiểu là hô hấp bằng thân thể, chứ không chỉ bằng phổi.

師:大家體驗體驗,你已經走過這個層次了,因為我要把你身體調到奶白體狀態,要講十多個小時的法,不能再縮短了。你在別的功法中要煉十幾年幾十年或者更長的時間,我們這裏一下就給你帶到這一步。因為這步沒有心性的要求,根據師父能力來做,當你還沒體會到時,這個層次就過去了,也可能只有幾個小時。有那麼一天,你感覺到很靈敏,過一會又不靈敏了,實際上就是一個大層次過去了,而你在其它功法中要保持一年或幾年這種狀態,這些,其實都是低層次上的東西。

Sư: Đại gia thể nghiệm thể nghiệm, nhĩ dĩ kinh tẩu quá giá cá tầng thứ liễu, nhân vi ngã yếu bả nhĩ thân thể điều đáo nãi bạch thể trạng thái, yếu giảng thập đa cá tiểu thời đích Pháp, bất năng tái súc đoản liễu. Nhĩ tại biệt đích công pháp trung yếu luyện thập kỷ niên kỷ thập niên hoặc giả cánh trường đích thời gian, ngã môn giá lý nhất hạ tựu cấp nhĩ đới đáo giá nhất bộ. Nhân vi giá bộ một hữu tâm tính đích yêu cầu, căn cứ Sư phụ năng lực lai tố, đương nhĩ hài một thể hội đáo thời, giá cá tầng thứ tựu quá khứ liễu, dã khả năng chỉ hữu kỷ cá tiểu thời. Hữu na ma nhất thiên, nhĩ cảm giác đáo ngận linh mẫn, quá nhất hội hựu bất linh mẫn liễu, thực tế thượng tựu thị nhất cá đại tầng thứ quá khứ liễu, nhi nhĩ tại kỳ tha công pháp trung yếu bảo trì nhất niên hoặc kỷ niên giá chủng trạng thái, giá ta, kỳ thực đô thị đê tầng thứ thượng đích đông tây.

Thầy: Mọi người thể nghiệm thể nghiệm thử xem, chư vị đã vượt qua tầng đó rồi, vì tôi muốn điều chỉnh thân thể chư vị tới trạng thái nãi bạch thể, [nên] cần giảng Pháp hơn 10 giờ đồng hồ, không thể rút ngắn hơn được. Chư vị ở công pháp khác cần luyện mười mấy năm mấy chục năm hoặc thời gian lâu hơn, mà chúng ta ở đây lập tức đưa chư vị tới bước đó rồi. Là vì tới bước đó không cần yêu cầu tâm tính, căn cứ vào năng lực của Sư phụ mà làm, khi chư vị còn chưa thể hội tới, thì tầng thứ đó đã qua rồi, cũng có thể chỉ là mấy giờ đồng hồ. Có một hôm, chư vị cảm thấy rất linh mẫn, nhưng một lúc sau không linh mẫn nữa, trên thực tế chính là đi qua một đại tầng thứ rồi, mà chư vị ở công pháp khác là cần bảo trì loại trạng thái đó một năm hoặc vài năm, những cái đó, thực tế đều là những thứ ở tầng thấp.

弟子:在公共汽車上或排隊等候時,想法輪功各式可以嗎?

Đệ tử: Tại công cộng khí xa thượng hoặc bài đội đẳng hậu thời, tưởng Pháp Luân Công các thức khả dĩ ma?

Đệ tử: Trên xe buýt hoặc khi xếp hàng, thì nghĩ các tư thế của Pháp Luân Công thì có được không?

師:我們的功不是動意念,也不要求每天必須煉多長時間,當然煉的時間越長越好。當你沒煉時,反過來它煉你。但是在煉功初期還是要多煉,加強它。有些學員曾出現這樣的情況,出差一兩個月,在這一兩個月中忙於事務性的事,沒煉功,回來之後絲毫沒受影響,法輪還在轉,因為他不停息。你腦子裏想著你是個煉功人,心性守的住,他就起作用。只是有一點,你又不煉功,又把自己混同於常人,他就要化掉了。

Sư: Ngã môn đích công bất thị động ý niệm, dã bất yêu cầu mỗi thiên tất tu luyện đa trường thời gian, đương nhiên luyện đích thời gian việt trường việt hảo. Đương nhĩ một luyện thời, phản quá lai Tha luyện nhĩ. Đãn thị tại luyện công sơ kỳ hài thị yếu đa luyện, gia cường Tha. Hữu ta học viên tằng xuất hiện giá dạng đích tình huống, xuất sai nhất lưỡng cá nguyệt, tại giá nhất lưỡng cá nguyệt trung mang ư sự vụ tính đích sự, một luyện công, hồi lai chi hậu ty hào một thụ ảnh hưởng, Pháp Luân hài tại chuyển, nhân vi Tha bất đình tức. Nhĩ não tử lý tưởng trước nhĩ thị cá luyện công nhân, tâm tính thủ đích trụ, Tha tựu khởi tác dụng. Chỉ thị hữu nhất điểm, nhĩ hựu bất luyện công, hựu bả tự kỷ hỗn đồng ư thường nhân, Tha tựu yếu hoá điệu liễu.

Thầy: Công [pháp] chúng ta là không động ý niệm, cũng không yêu cầu hàng ngày bắt buộc luyện bao lâu, tất nhiên càng luyện nhiều thời gian thì càng tốt. Khi chư vị không luyện, thì xoay trở lại là Nó luyện chư vị. Nhưng luyện công thời đầu là cần luyện nhiều, để gia cường Nó. Một số học viên từng xuất hiện tình huống thế này, phải đi công tác mất một hai tháng, và trong một hai tháng đó bận rộn các việc mang tính sự vụ, không luyện công, sau khi quay về cũng không bị ảnh hưởng tí nào, Pháp Luân vẫn đang xoay chuyển, là vì Nó không dừng. Trong đầu não chư vị suy nghĩ chư vị là người luyện công, tâm tính bảo trì vững vàng, thì Nó sẽ khởi tác dụng. Chỉ là có một điểm này, chư vị vừa không luyện công, vừa tự lẫn lộn mình cùng như người thường, thế thì Nó sẽ hoá mất đi.

弟子:法輪功可以和密宗一起煉嗎?

Đệ tử: Pháp Luân Công khả dĩ hoà Mật tông nhất khởi luyện ma?

Đệ tử: Pháp Luân Công có thể cùng luyện với Mật tông hay không?

師:密宗也是法輪,但不能和我們的功一起煉。如果你煉密宗法輪已經形成後,你可以煉密宗,因密宗也是正法,但同時煉不行。密宗的法輪是修中脈的,平著轉,它的法輪跟我們的不一樣,它的輪子上有咒語。我們的法輪是在小腹部位上立著放的,平面向外,小腹就這麼大,我的一個輪子就佔滿了,再放一個就攪和了。

Sư: Mật tông dã thị pháp luân, đãn bất năng hoà ngã môn đích công nhất khởi luyện. Như quả nhĩ luyện Mật tông pháp luân dĩ kinh hình thành hậu, nhĩ khả dĩ luyện Mật tông, nhân Mật tông dã thị chính Pháp, đãn đồng thời luyện bất hành. Mật tông đích pháp luân thị tu trung mạch đích, bình trước chuyển, tha đích pháp luân cân ngã môn đích bất nhất dạng, tha đích luân tử thượng hữu chú ngữ. Ngã môn đích Pháp Luân thị tại tiểu phúc bộ vị thượng lập trước phóng đích, bình diện hướng ngoại, tiểu phúc tựu giá ma đại, ngã đích nhất cá luân tử tựu chiếm mãn liễu, tái phóng nhất cá tựu giảo hoà liễu.

Thầy: Mật tông cũng là [có] pháp luân, nhưng không thể luyện [lẫn] cùng với chúng ta. Nếu chư vị luyện Mật tông và pháp luân đã thành hình rồi, thì chư vị có thể luyện Mật tông, vì Mật tông cũng là chính Pháp, nhưng luyện đồng thời [hai công pháp] thì không được. Pháp luân của Mật tông là tu ‘trung mạch’, xoay theo chiều ngang, pháp luân của họ không như của chúng ta, trên bánh xe của họ có chú ngữ. Pháp Luân của chúng ta là đặt đứng ở chỗ bụng dưới, mặt phẳng hướng ra phía ngoài, bụng dưới chỉ lớn ngần ấy thôi, một bánh xe của tôi chiếm đầy rồi, bỏ thêm một cái vào thì lẫn lộn hỏng mất.

弟子:煉法輪功可以煉其它佛家功法嗎?觀音錄音帶能聽嗎?在家的居士學功後可不可以念經?是否可以同時煉其它功法?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công khả dĩ luyện kỳ tha Phật gia công pháp ma? Quán Âm lục âm đới năng thính ma? Tại gia đích cư sĩ học công hậu khả bất khả dĩ niệm kinh? Thị phủ khả dĩ đồng thời luyện kỳ tha công pháp?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công thì có thể luyện công pháp khác của Phật gia không? Có thể nghe băng thu âm Quán Âm không? Cư sỹ tại gia mà đã học công rồi thì có thể niệm kinh? Phải chăng có thể đồng thời luyện công pháp khác?

師:這個問題我想不能。每一法門都是一種修煉方法,真正要修煉而不是祛病健身,就必須要專一,這是個嚴肅問題。往高層次上修煉就得把住一門往上修,這是絕對的真理。而佛家中的幾個法門也都不能摻和的。我們講的這個功法是高層次的,是經過久遠年代流傳下來的,靠你的感覺不行。從另外空間看他的演化過程,都是極其玄妙、極其複雜的。就像一個精密儀器,如果拿下它的一個零件,換個別的放上,馬上就壞了。功法也是一樣,任何東西都不能往裏摻和,摻和進去保證出偏。各門功法都一樣,你要煉就一定要專一。你不專一根本就修不了。取眾家之所長的說法,是祛病健身這一層次的說法,他不能把你帶到高層次上去。

Sư: Giá cá vấn đề ngã tưởng bất năng. Mỗi nhất pháp môn đô thị nhất chủng tu luyện phương pháp, chân chính yếu tu luyện nhi bất thị khứ bệnh kiện thân, tựu tất tu yếu chuyên nhất, giá thị cá nghiêm túc vấn đề. Vãng cao tầng thứ thượng tu luyện tựu đắc bả trụ nhất môn vãng thượng tu, giá thị tuyệt đối đích chân lý. Nhi Phật gia trung đích kỷ cá pháp môn dã đô bất năng sam hoà đích. Ngã môn giảng đích giá cá công pháp thị cao tầng thứ đích, thị kinh quá cửu viễn niên đại lưu truyền hạ lai đích, kháo nhĩ đích cảm giác bất hành. Tùng lánh ngoại không gian khán Tha đích diễn hoá quá trình, đô thị cực kỳ huyền diệu, cực kỳ phức tạp đích. Tựu tượng nhất cá tinh mật nghi khí, như quả nã hạ tha đích nhất cá linh kiện, hoán cá biệt đích phóng thượng, mã thượng tựu hoại liễu. Công pháp dã thị nhất dạng, nhậm hà đông tây đô bất năng vãng lý sam hoà, sam hoà tiến khứ bảo chứng xuất thiên. Các môn công pháp đô nhất dạng, nhĩ yếu luyện tựu nhất định yếu chuyên nhất. Nhĩ bất chuyên nhất căn bản tựu tu bất liễu. Thủ chúng gia chi sở trường đích thuyết pháp, thị khứ bệnh kiện thân giá nhất tầng thứ đích thuyết pháp, tha bất năng bả nhĩ đới đáo cao tầng thứ thượng khứ.

Thầy: Vấn đề này tôi nghĩ rằng là không thể được. Mỗi pháp môn đều là một loại phương pháp tu luyện, tu luyện chân chính chứ không phải trừ bệnh khoẻ thân, thì ắt phải chuyên nhất, đây là vấn đề nghiêm túc. Tu luyện lên tầng thứ cao thì phải vững theo một môn mà tu, đó là chân lý tuyệt đối. Mà những pháp môn trong Phật gia là cũng không thể trộn lẫn. Công pháp mà chúng tôi giảng là tầng thứ cao, đã lưu truyền qua những niên đại vô cùng xa xưa, dựa vào cảm giác của chư vị thì không được. Từ không gian khác mà nhìn quá trình diễn hoá của Nó, đều là cực kỳ huyền diệu, cực kỳ phức tạp. Giống như một bộ máy tinh vi chính xác, nếu tháo đi một linh kiện nào đó, hoán đổi cái khác vào đó, thì lập tức hỏng. Công pháp đều là như thế cả, bất kỳ cái gì đều không thể trộn lẫn, trộn lẫn thì bảo đảm sẽ sai lệch. Các môn công pháp đều như thế cả, chư vị mà muốn luyện thì nhất định phải chuyên nhất. Chư vị không chuyên nhất thì hoàn toàn không tu được đâu. Lối nói ‘lấy sở trường của mọi người’, là lối nói ở tầng trừ bệnh khoẻ thân kia thôi, họ không thể đưa chư vị lên tầng thứ cao được.

弟子:與煉其它功法的人在一起煉功是否會互相影響?

Đệ tử: Dữ luyện kỳ tha công pháp đích nhân tại nhất khởi luyện công thị phủ hội hỗ tương ảnh hưởng?

Đệ tử: Luyện công cùng [một chỗ] với người luyện công pháp khác thì có ảnh hưởng lẫn nhau không?

師:不管他煉甚麼功,道家功也好,神功也好,佛家功也好,只要是正法,對我們毫無干擾,你對他也沒干擾。他在你跟前煉對他有好處,因法輪是靈體,不是煉丹,他可以自動幫助。

Sư: Bất quản tha luyện thậm ma công, Đạo gia công dã hảo, Thần công dã hảo, Phật gia công dã hảo, chỉ yếu thị chính Pháp, đối ngã môn hào vô can nhiễu, nhĩ đối tha dã một can nhiễu. Tha tại nhĩ cân tiền luyện đối tha hữu hảo xứ, nhân Pháp Luân thị linh thể, bất thị luyện đan, Tha khả dĩ tự động bang trợ.

Thầy: Mặc kệ là họ luyện công gì, dù là Đạo gia công, Thần công, hay Phật gia công, thì miễn là chính Pháp, sẽ không can nhiễu gì tới chúng ta, chư vị cũng không can nhiễu tới họ. Họ luyện gần chư vị thì có chỗ tốt cho họ, vì Pháp Luân là linh thể, không phải luyện đan, Nó có thể tự động giúp đỡ.

弟子:可以叫其他氣功師調理身體嗎?聽其他氣功師的報告是否有影響?

Đệ tử: Khả dĩ khiếu kỳ tha khí công sư điều lý thân thể ma? Thính kỳ tha khí công sư đích báo cáo thị phủ hữu ảnh hưởng?

Đệ tử: Có thể gọi khí công sư [môn] khác tới đều chỉnh thân thể hay không? Nghe bài thuyết của các khí công sư khác thì có ảnh hưởng không?

師:我想這個班下去後,大家都會體會到你的身體怎麼樣了,過一段時間就不允許你有病了。再來毛病,可能像感冒,也可能像肚子痛,實際上已經不是這個東西了。而是劫難、是過關。你找其他氣功師調,是你不悟、不相信我說的話,抱著有求的思想,就會招來不良信息干擾你修煉,那個氣功師是附體的功,你也可能招來那東西。聽報告也一樣,想聽不就是去求嗎?這個問題你自己去悟。這是個心性問題,我不管。如果他講的是很高的法,講心性問題倒也可以。你參加我的班,你的身體好不容易給調整過來了,本來你身體練的信息很雜的,身上亂了套,現在都調整順了,把壞的去掉,好的留下。當然我不反對學其它功,你覺的法輪功不好可以學別的功,但我想學的很雜的話也不行。你已經修大法了,法身就在你身邊,得了高的又往回找!

Sư: Ngã tưởng giá cá ban hạ khứ hậu, đại gia đô hội thể hội đáo nhĩ đích thân thể chẩm ma dạng liễu, quá nhất đoạn thời gian tựu bất duẫn hứa nhĩ hữu bệnh liễu. Tái lai mao bệnh, khả năng tượng cảm mạo, dã khả năng tượng đỗ tử thống, thực tế thượng dĩ kinh bất thị giá cá đông tây liễu. Nhi thị kiếp nạn, thị quá quan. Nhĩ trảo kỳ tha khí công sư điều, thị nhĩ bất ngộ, bất tương tín ngã thuyết đích thoại, bão trước hữu cầu đích tư tưởng, tựu hội chiêu lai bất lương tín tức can nhiễu nhĩ tu luyện, na cá khí công sư thị phụ thể đích công, nhĩ dã khả năng chiêu lai na đông tây. Thính báo cáo dã nhất dạng, tưởng thính bất tựu thị khứ cầu ma? Giá cá vấn đề nhĩ tự kỷ khứ ngộ. Giá thị cá tâm tính vấn đề, ngã bất quản. Như quả tha giảng đích thị ngận cao đích Pháp, giảng tâm tính vấn đề đảo dã khả dĩ. Nhĩ tham gia ngã đích ban, nhĩ đích thân thể hảo bất dung dị cấp điều chỉnh quá lai liễu, bản lai nhĩ thân thể luyện đích tín tức ngận tạp đích, thân thượng loạn liễu sáo, hiện tại đô điều chỉnh thuận liễu, bả hoại đích khứ điệu, hảo đích lưu hạ. Đương nhiên ngã bất phản đối học kỳ tha công, nhĩ giác đích Pháp Luân Công bất hảo khả dĩ học biệt đích công, đãn ngã tưởng học đích ngận tạp đích thoại dã bất hành. Nhĩ dĩ kinh tu Đại Pháp liễu, Pháp thân tựu tại nhĩ thân biên, đắc liễu cao đích hựu vãng hồi trảo!

Thầy: Tôi nghĩ rằng từ sau học lớp này, mọi người đều thể hội được thân thể của chư vị là như thế nào, qua một đoạn thời gian sẽ không cho phép chư vị có bệnh nữa. Lại có bệnh, thì có thể giống như cảm mạo, có thể tựa như đau bụng, trên thực tế là đã không phải là những thứ đó nữa. Mà là kiếp nạn, là vượt quan. Chư vị tìm khí công sư khác để điều [chỉnh], thì ấy là chư vị không ngộ, không tin lời tôi nói, ôm giữ tư tưởng có truy cầu, sẽ chiêu dẫn những tín tức bất lương tới can nhiễu tu luyện của chư vị, ‘khí công sư’ kia mà là công của phụ thể, thì có thể là chư vị sẽ chiêu dẫn những thứ đó tới. Đi nghe bài thuyết cũng thế, muốn đi nghe thì chẳng phải là đi [truy] cầu? Về vấn đề này thì tự thân chư vị ngộ ra thôi. Đây là vấn đề tâm tính, tôi không quản. Nếu điều họ giảng là Pháp rất cao, giảng về vấn đề tâm tính thì cũng khả dĩ. Chư vị tham gia lớp học của tôi, thân thể chư vị được điều chỉnh ấy là không hề dễ dàng gì, nguyên vốn tín tức mà thân thể chư vị luyện là rất tạp, trên thân loạn nháo cả, hiện nay đã điều chỉnh thuận rồi, gỡ bỏ cái xấu, giữ lại cái tốt. Tất nhiên tôi không phản đối học công pháp khác, chư vị cảm thấy Pháp Luân Công không thích hợp thì có thể học công khác, nhưng tôi nghĩ rằng học pha tạp là không được đâu. Chư vị đã tu Đại Pháp rồi, Pháp thân đang bên thân chư vị, đã đắc những thứ cao rồi còn quay về tìm kiếm nữa ư!

弟子:煉法輪功能否再學別的功法?如按摩、防身功、一指禪、太極拳等,不練其功看這方面的書有關係嗎?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công năng phủ tái học biệt đích công pháp? Như án ma, phòng thân công, Nhất Chỉ Thiền, Thái Cực Quyền đẳng, bất luyện kỳ công khán giá phương diện đích thư hữu quan hệ ma?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công rồi có thể học công pháp khác không? Chẳng hạn như xoa bóp, võ tự vệ, Nhất Chỉ Thiền, Thái Cực Quyền, v.v., không luyện những công kia nhưng mà đọc sách về phương diện đó có sao không?

師:學習按摩、防身可以,但有些時候發狠心時就覺的不自在了。一指禪、太極拳屬於氣功,煉了呢,會往裏面加東西。我的東西在你身上就不純正了。看書講心性的還可以。但有一些書作者自己沒搞明白,就下結論,會搞亂你的思想。

Sư: Học tập án ma, phòng thân khả dĩ, đãn hữu ta thời hậu phát ngoan tâm thời tựu giác đích bất tự tại liễu. Nhất Chỉ Thiền, Thái Cực Quyền thuộc ư khí công, luyện liễu ni, hội vãng lý diện gia đông tây. Ngã đích đông tây tại nhĩ thân thượng tựu bất thuần chính liễu. Khán thư giảng tâm tính đích hài khả dĩ. Đãn hữu nhất ta thư tác giả tự kỷ một cảo minh bạch, tựu hạ kết luận, hội cảo loạn nhĩ đích tư tưởng.

Thầy: Học tập xoa bóp, võ tự vệ thì cũng được thôi, nhưng có lúc phát tâm tàn nhẫn thì cảm thấy không được tự tại nữa. Nhất Chỉ Thiền, Thái Cực Quyền là thuộc về khí công, [nếu] đã luyện, [thì] sẽ thêm những thứ vào trong này. Những gì của tôi trên thân chư vị sẽ không thuần chính nữa. Đọc sách giảng về tâm tính thì còn khả dĩ. Nhưng có một số sách mà ngay bản thân tác giả chưa hề minh bạch, mà đã đưa ra kết luận rồi, sẽ làm loạn tư tưởng của chư vị.

弟子:「頭前抱輪」有時手會碰上,有沒有關係?

Đệ tử: “Đầu tiền bão luân” hữu thời thủ hội bính thượng, hữu một hữu quan hệ?

Đệ tử: Khi [làm tư thế] “đầu tiền bão luân” thì có lúc để chạm ngón tay, thế có sao không?

師:不要碰,我們要求是離縫的,碰上,手上的能量會回去的。

Sư: Bất yếu bính, ngã môn yêu cầu thị ly phùng đích, bính thượng, thủ thượng đích năng lượng hội hồi khứ đích.

Thầy: Đừng để chạm, chúng tôi yêu cầu là cách ra mà, nếu để chạm, thì năng lượng trên bàn tay sẽ quay về.

弟子:煉第二套功法臂堅持不住時,放下來再煉行不行?

Đệ tử: Luyện đệ nhị sáo công pháp tý kiên trì bất trụ thời, phóng hạ lai tái luyện hành bất hành?

Đệ tử: Luyện bài công pháp thứ hai khi tay không kiên trì được, thì hạ xuống [nghỉ chút] rồi luyện [tiếp] được không?

師:煉功是很苦的,一酸就拿下來等於沒起作用,要求時間越長越好,但要量力而行。

Sư: Luyện công thị ngận khổ đích, nhất toan tựu nã hạ lai đẳng ư một khởi tác dụng, yêu cầu thời gian việt trường việt hảo, đãn yếu lượng lực nhi hành.

Thầy: Luyện công rất là khổ, hễ đau mỏi liền hạ xuống thì bằng như không có tác dụng, yêu cầu thời gian càng lâu càng tốt, nhưng cần lượng sức mà làm.

弟子:雙盤為甚麼女的左腿在下、右腿在上?

Đệ tử: Song bàn vi thậm ma nữ đích tả thối tại hạ, hữu thối tại thượng?

Đệ tử: Khi ngồi song bàn thì tại sao nữ chân trái ở dưới, chân phải ở trên?

師:因為我們煉功講一個基點,女身和男身不一樣,所以要以她的本體去演煉自己,就得符合女性的生理才有效,女的通常是左腿托右腿,符合自身狀態,男的相反,基點不一樣。

Sư: Nhân vi ngã môn luyện công giảng nhất cá cơ điểm, nữ thân hoà nam thân bất nhất dạng, sở dĩ yếu dĩ tha đích bản thể khứ diễn luyện tự kỷ, tựu đắc phù hợp nữ tính đích sinh lý tài hữu hiệu, nữ đích thông thường thị tả thối thác hữu thối, phù hợp tự thân trạng thái, nam đích tương phản, cơ điểm bất nhất dạng.

Thầy: Là vì chúng ta luyện công là giảng về cơ điểm [rằng], thân nữ và thân nam là khác nhau, cho nên muốn bản thể của họ đi diễn luyện tự nó, thì cần phù hợp với sinh lý nữ tính thì mới hữu hiệu, nữ thì thường là chân trái đỡ chân phải, phù hợp với trạng thái tự thân, nam thì ngược lại, cơ điểm khác nhau.

弟子:聽錄音帶或聽音樂或念口訣煉功行嗎?

Đệ tử: Thính lục âm đới hoặc thính âm nhạc hoặc niệm khẩu quyết luyện công hành ma?

Đệ tử: Nghe băng thu âm hoặc nghe nhạc hoặc niệm khẩu quyết [khi] luyện công thì có được không?

師:如果有好的佛家音樂可以聽,但真正煉功甚麼音樂都不要,因為要求定力,聽錄音帶為了一念代萬念。

Sư: Như quả hữu hảo đích Phật gia âm nhạc khả dĩ thính, đãn chân chính luyện công thậm ma âm nhạc đô bất yếu, nhân vi yêu cầu định lực, thính lục âm đới vi liễu nhất niệm đại vạn niệm.

Thầy: Nếu có âm nhạc tốt của Phật gia thì nghe cũng được, nhưng luyện công chân chính thì không cần âm nhạc nào cả, là vì yêu cầu định lực, nghe băng thu âm là để một niệm thay vạn niệm.

弟子:貫通兩極法是放鬆,還是要求用力?

Đệ tử: Quán Thông Lưỡng Cực pháp thị phóng túng, hài thị yêu cầu dụng lực?

Đệ tử: Bài Quán Thông Lưỡng Cực pháp là thả lỏng, hay là yêu cầu dùng lực?

師:貫通兩極法要求自然站立、放鬆,不要求像第一套功法那樣,我們其他的都不像第一套功法,都要放鬆。

Sư: Quán Thông Lưỡng Cực pháp yêu cầu tự nhiên trạm lập, phóng túng, bất yêu cầu tượng đệ nhất sáo công pháp na dạng, ngã môn kỳ tha đích đô bất tượng đệ nhất sáo công pháp, đô yếu phóng túng.

Thầy: Quán Thông Lưỡng Cực yêu cầu đứng thẳng tự nhiên, thả lỏng, không yêu cầu giống như bài công pháp thứ nhất, các bài khác của chúng ta cũng đều không như bài công pháp thứ nhất, đều cần buông lỏng.

三、修煉心性

Tam, Tu luyện tâm tính

III. Tu luyện tâm tính

弟子:我想做到「真、善、忍」,但昨天做夢和別人吵架,吵的很兇,我想忍,沒忍住,這是不是在幫我提高心性?

Đệ tử: Ngã tưởng tố đáo “Chân-Thiện-Nhẫn”, đãn tạc thiên tố mộng hoà biệt nhân sảo giá, sảo đích ngận hung, ngã tưởng nhẫn, một nhẫn trụ, giá thị bất thị tại bang ngã đề cao tâm tính?

Đệ tử: Con muốn làm được “Chân-Thiện-Nhẫn”, nhưng hôm qua trong giấc mộng đã cãi vã với người khác, cãi vã rất ghê, con muốn nhẫn, nhưng không nhẫn được, đó có phải là đang giúp con đề cao tâm tính?

師:當然是。夢是怎麼回事我們已經講了,大家自己去悟。提高心性的事來的很突然,不是等你做好思想準備去迎接它時才來的。看一個人是好是壞,只有在沒有思想準備的情況下才能試的出來。

Sư: Đương nhiên thị. Mộng thị chẩm ma hồi sự ngã môn dĩ kinh giảng liễu, đại gia tự kỷ khứ ngộ. Đề cao tâm tính đích sự lai đích ngận đột nhiên, bất thị đẳng nhĩ tố hảo tư tưởng chuẩn bị khứ nghinh tiếp tha thời tài lai đích. Khán nhất cá nhân thị hảo thị hoại, chỉ hữu tại một hữu tư tưởng chuẩn bị đích tình huống hạ tài năng thí đích xuất lai.

Thầy: Tất nhiên rồi. Trong mộng là chuyện gì thì chúng ta đã giảng rồi, tự mọi người hãy ngộ ra. Những việc đề cao tâm tính là tới một cách đột nhiên, chứ không đợi chư vị làm tốt chuẩn bị tư tưởng để nghênh đón nó thì nó mới tới. Nhìn xem một cá nhân là tốt hay xấu, chỉ trong tình huống chưa chuẩn bị tư tưởng thì mới có thể thử ra được.

弟子:法輪功「真、善、忍」中的「忍」,是否一切事物都要忍,不管正確與否?

Đệ tử: Pháp Luân Công “Chân-Thiện-Nhẫn” trung đích “Nhẫn”, thị phủ nhất thiết sự vật đô yếu Nhẫn, bất quản chính xác dữ phủ?

Đệ tử: “Nhẫn” trong “Chân-Thiện-Nhẫn” của Pháp Luân Công, phải chăng hết thảy sự vật đều cần Nhẫn, bất kể là đúng đắn hay không đúng?

師:我講的「忍」,是指在關係到你個人利益的問題上,你執著放不下的這些東西上提高你的心性。實際上「忍」不是件壞事,就是對常人來說也不壞。咱們講個故事:韓信是個大將軍,從小就好武,當時的煉武人就愛挎劍。韓信走在街上,過來一個無賴說:「你挎這個幹甚麼?你敢殺人嗎?你敢殺人先把我殺了。」說著脖子就伸過去:「如果不敢,就從我胯下鑽過去!」韓信就鑽過去了,他「忍」的本事很大。有人把忍看成軟弱可欺,其實能忍的人意志是很堅強的。至於事情的正確與否,要看它是否真正符合宇宙的理。你認為一件事不怨你,是別人惹你生氣了,其實你不知道到底為甚麼?你說:「我知道呀,就是為一件小事情。」我說的是另外一個理,不是我們這個物質空間看的見的。講個笑話,也許你前世欠人家的,你怎麼能判斷它正確或錯誤呢?我們就得忍。哪有先把別人惹生氣了再去忍的?對真正惹你生氣的人,你不但要忍,還要謝他。他罵了你,去老師面前告了你一狀,你回頭心裏還得說謝謝。你說:「那不成了阿Q了嗎?」那是你的想法。通過這件事,如果你和他不一樣看待,你的心性就提高了。在這個物質空間他佔有了,在那邊他是不是給你東西了?你的心性提高了,黑色物質就轉化了,一舉三得,為甚麼不謝人家?站在常人角度上不好理解。我不是在給一般人講,而是在對煉功人講。

Sư: Ngã giảng đích “nhẫn”, thị chỉ tại quan hệ đáo nhĩ cá nhân lợi ích đích vấn đề thượng, nhĩ chấp trước phóng bất hạ đích giá ta đông tây thượng đề cao nhĩ đích tâm tính. Thực tế thượng “nhẫn” bất thị kiện hoại sự, tựu thị đối thường nhân lai thuyết dã bất hoại. Cha môn giảng cá cố sự: Hàn Tín thị cá đại tướng quân, tùng tiểu tựu hiếu võ, đương thời đích luyện võ nhân tựu ái khoá kiếm. Hàn Tín tẩu tại nhai thượng, quá lai nhất cá vô lại thuyết: “Nhĩ khoá giá cá cán thậm ma? Nhĩ cảm sát nhân ma? Nhĩ cảm sát nhân tiên bả ngã sát liễu.” Thuyết trước bột tử tựu thân quá khứ: “Như quả bất cảm, tựu tùng ngã khố hạ toàn quá khứ!” Hàn Tín tựu toàn quá khứ liễu, tha “nhẫn” đích bản sự ngận đại. Hữu nhân bả nhẫn khán thành nhuyễn nhược khả khi, kỳ thực năng nhẫn đích nhân ý chí thị ngận kiên cường đích. Chí ư sự tình đích chính xác dữ phủ, yếu khán tha thị phủ chân chính phù hợp vũ trụ đích Lý. Nhĩ nhận vi nhất kiện sự bất oán nhĩ, thị biệt nhân nhạ nhĩ sinh khí liễu, kỳ thực nhĩ bất tri đạo đáo để vi thậm ma? Nhĩ thuyết: “Ngã tri đạo nha, tựu thị vi nhất kiện tiểu sự tình.” Ngã thuyết đích thị lánh ngoại nhất cá Lý, bất thị ngã môn giá cá vật chất không gian khán đích kiến đích. Giảng cá tiếu thoại, dã hứa nhĩ tiền thế khiếm nhân gia đích, nhĩ chẩm ma năng phán đoán tha chính xác hoặc thác ngộ ni? Ngã môn tựu đắc nhẫn. Nả hữu tiên bả biệt nhân nhạ sinh khí liễu tái khứ nhẫn đích? Đối chân chính nhạ nhĩ sinh khí đích nhân, nhĩ bất đãn yếu nhẫn, hài yếu tạ tha. Tha mạ liễu nhĩ, khứ Lão sư diện tiền cáo liễu nhĩ nhất trạng, nhĩ hồi đầu tâm lý hài đắc thuyết tạ tạ. Nhĩ thuyết: “Na bất thành liễu AQ liễu ma?” Na thị nhĩ đích tưởng pháp. Thông quá giá kiện sự, như quả nhĩ hoà tha bất nhất dạng khán đãi, nhĩ đích tâm tính tựu đề cao liễu. Tại giá cá vật chất không gian tha chiếm hữu liễu, tại na biên tha thị bất thị cấp nhĩ đông tây liễu? Nhĩ đích tâm tính đề cao liễu, hắc sắc vật chất tựu chuyển hoá liễu, nhất cử tam đắc, vi thậm ma bất tạ nhân gia? Trạm tại thường nhân giác độ thượng bất hảo lý giải. Ngã bất thị tại cấp nhất ban nhân giảng, nhi thị tại đối luyện công nhân giảng.

Thầy: “Nhẫn” mà tôi giảng, là nói tới đề cao tâm tính chư vị về vấn đề liên quan tới lợi ích cá nhân của chư vị, và về những gì chư vị chấp trước và không buông được. Trên thực tế “Nhẫn” không phải là việc xấu, mà cả với người thường mà nói cũng không là xấu. Chúng ta kể một chuyện xưa: Hàn Tín là đại tướng quân, từ nhỏ đã hiếu võ, bấy giờ người luyện võ thích đeo kiếm. Khi Hàn Tín đi trên đường, một kẻ vô lại tới và nói: “Ngươi khoác cái kia làm gì? Ngươi dám sát nhân không? Ngươi dám giết người thì trước hãy giết ta đi.” Vừa nói vừa vươn cổ ra: “Nếu không dám, thì hãy chui háng ta!” Hàn Tín bèn chui qua, khả năng “nhẫn” của ông rất lớn. Có người cho rằng nhẫn là mềm yếu dễ bị bắt nạt, kỳ thực người có thể nhẫn thì ý chí rất là kiên cường. Còn về sự việc đúng hay không, thì cần xét xem nó có chân chính phù hợp với Lý của vũ trụ hay không. Chư vị nhìn nhận rằng một việc là không phải lỗi chư vị, mà là người khác làm chư vị phát cáu, mà thật ra chư vị không biết rốt cuộc là sao? Chư vị [bèn] nói: “Tôi biết, chỉ là vì một chuyện nhỏ thôi.” Điều tôi nói là một cái Lý khác, không phải điều nhìn thấy được ở không gian vật chất chúng ta. Nói đùa thế này, có lẽ đời trước chư vị mắc nợ người ta, chư vị làm sao có thể phán đoán nó là đúng hay sai? Chúng ta cần phải nhẫn. Lẽ nào trước tiên làm người khác nổi cáu rồi thì [ta] nhẫn [trước sự nổi cáu của họ]? Đối với người thật sự làm chư vị cáu giận, thì chư vị không chỉ cần phải nhẫn, mà còn cảm ơn họ. Họ mạ lỵ chư vị, đi cáo trạng chư vị trước mặt Thầy, chư vị quay lại thì trong tâm còn cảm ơn họ. Chư vị bảo: “Đó chẳng phải là A-Q sao?” Ấy là chư vị nghĩ thế thôi. Thông qua việc này, nếu chư vị đối đãi với họ không giống [họ đối đãi chư vị], thì tâm tính chư vị đã đề cao rồi. Tại không gian vật chất này họ đã chiếm được, thì ở bên kia chẳng phải họ đưa cho chư vị gì đó? Tâm tính chư vị đề cao rồi, vật chất màu đen đã chuyển hoá rồi, nhất cử tam đắc[13], sao còn không cảm tạ người ta? Đứng ở góc độ người thường thì không dễ mà lý giải cho được. Tôi không phải đang giảng cho người bình thường, mà là đang giảng cho người luyện công.

[13] nhất cử tam đắc: một lần làm mà được cả ba, một mũi tên trúng ba con chim.

弟子:沒有附體的人提高心性可以避免附體,有附體的人怎麼辦?怎樣才能擺脫?

Đệ tử: Một hữu phụ thể đích nhân đề cao tâm tính khả dĩ tỵ miễn phụ thể, hữu phụ thể đích nhân chẩm ma biện? Chẩm dạng tài năng bài thoát?

Đệ tử: Người không bị phụ thể đề cao tâm tính thì có thể miễn khỏi phụ thể, còn người có phụ thể rồi thì sao? Làm thế nào mới có thể thoát khỏi?

師:一正壓百邪。你今天得到這個法,以後就是它給你帶來好處你都不要。若是那個東西給你帶來錢、名、利的時候,你心裏高高興興的,「看我多有本事」,人前顯示一下。在你難受的時候你不幹了,要找老師給你治一治,那麼它給你好處的時候你怎麼幹呀?那是不能管的,因為它給你好處你接受了,你光想著得到好處那不成。只有你自心不要,帶來好處也不要,就是按老師說的方法去修煉。你人一正,心一堅定,它已經擔驚受怕了,給你好處你又不要了,它就該走了。再不走就是做壞事了,那個時候我就能管它了,一揮手它就沒影了。但有好處你如果想要就不成。

Sư: Nhất chính áp bách tà. Nhĩ kim thiên đắc đáo giá cá Pháp, dĩ hậu tựu thị tha cấp nhĩ đới lai hảo xứ nhĩ đô bất yếu. Nhược thị na cá đông tây cấp nhĩ đới lai tiền, danh, lợi đích thời hậu, nhĩ tâm lý cao cao hứng hứng đích, “khán ngã đa hữu bản sự”, nhân tiền hiển thị nhất hạ. Tại nhĩ nan thụ đích thời hậu nhĩ bất cán liễu, yếu trảo Lão sư cấp nhĩ trị nhất trị, na ma tha cấp nhĩ hảo xứ đích thời hậu nhĩ chẩm ma cán nha? Na thị bất năng quản đích, nhân vi tha cấp nhĩ hảo xứ nhĩ tiếp thụ liễu, nhĩ quang tưởng trước đắc đáo hảo xứ na bất thành. Chỉ hữu nhĩ tự tâm bất yếu, đới lai hảo xứ dã bất yếu, tựu thị án Lão sư thuyết đích phương pháp khứ tu luyện. Nhĩ nhân nhất chính, tâm nhất kiên định, tha dĩ kinh đảm kinh thụ phạ liễu, cấp nhĩ hảo xứ nhĩ hựu bất yếu liễu, tha tựu cai tẩu liễu. Tái bất tẩu tựu thị tố hoại sự liễu, na cá thời hậu ngã tựu năng quản tha liễu, nhất huy thủ tha tựu một ảnh liễu. Đãn hữu hảo xứ nhĩ như quả tưởng yếu tựu bất thành.

Thầy: ‘Nhất chính áp bách tà’. Hôm nay chư vị đắc Pháp này, sau này [con phụ thể] mang ‘chỗ tốt’ cho chư vị chư vị cũng không cần. Còn nếu khi thứ kia mang đến tiền, danh, lợi cho chư vị, và trong tâm chư vị cảm thấy rất vui mừng, “hãy xem ta là có bản lĩnh”, và hiển thị trước mặt người khác. Khi chư vị thấy khó chịu chư vị không muốn [nó] nữa, liền muốn tìm Thầy để trị [nó] cho chư vị, vậy [hỏi] lúc nó mang ‘chỗ tốt’ cho chư vị thì chư vị đã làm gì? Nên [tôi] không thể quản [những việc như thế], vì lúc nó cấp chỗ tốt cho chư vị thì chư vị nhận rồi, chư vị muốn toàn là lấy chỗ tốt thôi thì không được đâu. Chỉ khi mà tự tâm chư vị không cần, mang điều tốt tới cũng không cần, chỉ chiểu theo phương pháp mà Thầy nói để tu luyện. Hễ chư vị làm người ngay chính, tâm kiên định, thì nó sẽ sợ hãi, đưa thứ tốt tới chư vị cũng không cần, thì nó phải rời đi. Nếu vẫn không đi thì đã là làm điều xấu rồi, lúc ấy tôi có thể quản nó, huơ tay một cái là nó [biến mất] không còn dấu tích. Nhưng chư vị cứ nghĩ tới những ‘thứ tốt’ kia thì không được.

弟子:在公園煉功會不會有附體?

Đệ tử: Tại công viên luyện công hội bất hội hữu phụ thể?

Đệ tử: Luyện công ở công viên sẽ có phụ thể không?

師:我都跟大家講了多少回了,我們是正法修煉,心正壓百邪!正法修煉,心很純正,甚麼東西也上不來。法輪可是了不起的東西,不好的東西不僅是上不來,到它跟前都害怕。你不信到別的地方去煉功,它都怕你。我說出個數,大家都覺的嚇人,好多人是有附體的。達到祛病健身目地了還往下練,你想得到甚麼呢?心不正就引起這些問題。不過也不怨那些人,他不知道這些理嘛,我出山的目地其中也包括這個,給大家糾正這些錯誤的東西。

Sư: Ngã đô cân đại gia giảng liễu đa thiểu hồi liễu, ngã môn thị chính Pháp tu luyện, tâm chính áp bách tà! Chính Pháp tu luyện, tâm ngận thuần chính, thậm ma đông tây dã thượng bất lai. Pháp Luân khả thị liễu bất khởi đích đông tây, bất hảo đích đông tây bất cận thị thượng bất lai, đáo tha cân tiền đô hại phạ. Nhĩ bất tín đáo biệt đích địa phương khứ luyện công, tha đô phạ nhĩ. Ngã thuyết xuất cá số, đại gia đô giác đích hách nhân, hảo đa nhân thị hữu phụ thể đích. Đạt đáo khứ bệnh kiện thân mục địa liễu hài vãng hạ luyện, nhĩ tưởng đắc đáo thậm ma ni? Tâm bất chính tựu dẫn khởi giá ta vấn đề. Bất quá dã bất oán na ta nhân, tha bất tri đạo giá ta Lý ma, ngã xuất sơn đích mục địa kỳ trung dã bao quát giá cá, cấp đại gia củ chính giá ta thác ngộ đích đông tây.

Thầy: Tôi đã giảng cho mọi người bao nhiêu lần rồi, chúng ta là tu luyện chính Pháp, ‘tâm chính áp bách tà’! Tu luyện chính Pháp, tâm rất thuần chính, [thì] sẽ không có thứ gì bám lên nổi. Mà Pháp Luân là điều rất mạnh, những thứ bất hảo sẽ không chỉ không gắn lên nổi, mà ở gần thì chúng sẽ thấy sợ hãi. Nếu không tin thì chư vị thử tới chỗ khác luyện công, chúng đều sợ chư vị. [Nếu] tôi nói ra con số [những người bị phụ thể], mọi người sẽ cảm thấy bị hù doạ, có rất nhiều người là bị phụ thể đó. Đạt mục đích trừ bệnh khoẻ thân rồi và tiếp tục luyện, chư vị nghĩ muốn đắc điều gì? Tâm mà bất chính sẽ chiêu dẫn những thứ đó tới. Chẳng qua cũng không trách người ta được, họ không biết Lý này, mục đích tôi ra công chúng cũng bao gồm việc này, là để chỉnh lại sai lầm ấy cho mọi người.

弟子:將來會出現甚麼功能?

Đệ tử: Tương lai hội xuất hiện thậm ma công năng?

Đệ tử: Tương lai sẽ xuất hiện công năng gì?

師:我不想講,因為每個人的情況不一樣,所以很難說。在這個層次上出哪些,那個層次上出哪些,關鍵是每個層次當中你的心性。執著心可能在這方面去掉了,這個方面出現了功能,但你出現的功能必定是在初期,不會很高的。心性達不到很高的時候,功能也不可能給你。但我們傳授班上有人根基很不錯,已經出現神足通,下雨淋不著,也有出現搬運的。

Sư: Ngã bất tưởng giảng, nhân vi mỗi cá nhân đích tình huống bất nhất dạng, sở dĩ ngận nan thuyết. Tại giá cá tầng thứ thượng xuất nả ta, na cá tầng thứ thượng xuất nả ta, quan kiện thị mỗi cá tầng thứ đương trung nhĩ đích tâm tính. Chấp trước tâm khả năng tại giá phương diện khứ điệu liễu, giá cá phương diện xuất hiện liễu công năng, đãn nhĩ xuất hiện đích công năng tất định thị tại sơ kỳ, bất hội ngận cao đích. Tâm tính đạt bất đáo ngận cao đích thời hậu, công năng dã bất khả năng cấp nhĩ. Đãn ngã môn truyền thụ ban thượng hữu nhân căn cơ ngận bất thác, dĩ kinh xuất hiện thần túc thông, hạ vũ lâm bất trước, dã hữu xuất hiện ban vận đích.

Thầy: Tôi không muốn giảng ra, vì tình huống mỗi cá nhân là khác nhau, cho nên rất khó nói. Ở tầng thứ này thì xuất cái này, ở tầng thứ kia thì xuất cái kia, điều then chốt là tâm tính chư vị tại mỗi tầng thứ. Tâm chấp trước ở phương diện nào đó có thể trừ bỏ đi, thì phương diện đó xuất hiện công năng, nhưng chư vị xuất công năng ấy ắt là sơ kỳ, chứ sẽ không phải rất là cao. Khi mà tâm tính chưa đạt tới rất cao, thì công năng cũng không thể cấp cho chư vị. Nhưng ở lớp truyền thụ chúng ta có những người căn cơ rất tốt, đã xuất hiện thần túc thông, [có người] đi dưới trời mưa mà không bị ướt, cũng có người xuất hiện ban vận [công].

弟子:修心性,去掉一切執著心,是不是指達到佛家的「空」,道家的「無」?

Đệ tử: Tu tâm tính, khứ điệu nhất thiết chấp trước tâm, thị bất thị chỉ đạt đáo Phật gia đích “không”, Đạo gia đích “vô”?

Đệ tử: Tu tâm tính, trừ bỏ hết thảy tâm chấp trước, phải chăng là nói về đạt tới cái “không” của Phật gia, cái “vô” của Đạo gia?

師:我們所說的心性或是「德」,都不是佛家的「空」、道家的「無」所包容得了的,相反,他們那些都包括在我們的心性之中。

Sư: Ngã môn sở thuyết đích tâm tính hoặc thị “đức”, đô bất thị Phật gia đích “không”, Đạo gia đích “vô” sở bao dung đắc liễu đích, tương phản, tha môn na ta đô bao quát tại ngã môn đích tâm tính chi trung.

Thầy: Tâm tính hay là “đức” mà chúng ta nói đến, đều không bao dung trong cái “không” của Phật gia, cái “vô” của Đạo gia, mà trái lại, những thứ của họ đều bao hàm ở trong ‘tâm tính’ của chúng ta.

弟子:佛永遠是佛嗎?

Đệ tử: Phật vĩnh viễn thị Phật ma?

Đệ tử: Phật có phải vĩnh viễn là Phật?

師:修煉得道者,開悟之後,你就屬於大覺者,也就是高級生命,但不能保證你永遠不做壞事。當然一般在那個層次你不會做壞事,因為看到了真相,但如果做壞事,照樣下來。永遠做好事就永遠在那兒。

Sư: Tu luyện đắc Đạo giả, khai ngộ chi hậu, nhĩ tựu thuộc ư Đại Giác Giả, dã tựu thị cao cấp sinh mệnh, đãn bất năng bảo chứng nhĩ vĩnh viễn bất tố hoại sự. Đương nhiên nhất ban tại na cá tầng thứ nhĩ bất hội tố hoại sự, nhân vi khán đáo liễu chân tướng, đãn như quả tố hoại sự, chiếu dạng hạ lai. Vĩnh viễn tố hảo sự tựu vĩnh viễn tại na nhi.

Thầy: Người tu luyện đắc Đạo, đã khai ngộ, thì chư vị thuộc về Đại Giác Giả, cũng chính là sinh mệnh cao cấp, nhưng không thể bảo đảm rằng chư vị vĩnh viễn không làm điều xấu. Tuy rằng thông thường khi ở tầng thứ đó thì chư vị không làm điều xấu, vì đã nhìn thấy chân tướng, nhưng nếu làm điều xấu, thì vẫn là hạ xuống giống vậy thôi. Vĩnh viễn làm điều tốt thì vĩnh viễn ở đó.

弟子:甚麼是大根器的人?

Đệ tử: Thậm ma thị đại căn khí đích nhân?

Đệ tử: Thế nào là người ‘đại căn khí’?

師:這由幾個方面的因素可以決定:①他的根基很好;②悟性很高;③忍耐力很強;④執著心小,對世間的東西看的很淡,這就是大根器。大根器的人很難得。

Sư: Giá do kỷ cá phương diện đích nhân tố khả dĩ quyết định: (1) tha đích căn cơ ngận hảo; (2) ngộ tính ngận cao; (3) nhẫn nại lực ngận cường; (4) chấp trước tâm tiểu, đối thế gian đích đông tây khán đích ngận đạm, giá tựu thị đại căn khí. Đại căn khí đích nhân ngận nan đắc.

Thầy: Cái này là do nhân tố về mấy phương diện mà có thể quyết định: (1) người ấy có căn cơ rất là tốt; (2) ngộ tính rất cao; (3) lực nhẫn nại rất mạnh; (4) tâm chấp trước là nhỏ, rất xem nhẹ những thứ của thế gian, đó chính là ‘đại căn khí’. Người đại căn khí rất là khó gặp.

弟子:無大根基者煉法輪功能出功嗎?

Đệ tử: Vô đại căn cơ giả luyện Pháp Luân Công năng xuất công ma?

Đệ tử: Người mà không phải đại căn cơ mà luyện Pháp Luân Công thì có thể xuất công không?

師:無大根基者也能出功,因為每個人都帶有德的成份。沒有一點德的成份是不可能的,沒有這樣的人。如果你身上沒有白的物質,也還有黑的物質,黑的物質通過煉功可以轉換成白的物質,只是多了一道手續。在煉功中你吃了苦,提高了心性,有了付出,也就有了功,煉是先決條件,然後由師父法身把它化成功。

Sư: Vô đại căn cơ giả dã năng xuất công, nhân vi mỗi cá nhân đô đới hữu đức đích thành phần. Một hữu nhất điểm đức đích thành phần thị bất khả năng đích, một hữu giá dạng đích nhân. Như quả nhĩ thân thượng một hữu bạch đích vật chất, dã hài hữu hắc đích vật chất, hắc đích vật chất thông quá luyện công khả dĩ chuyển hoán thành bạch đích vật chất, chỉ thị đa liễu nhất đạo thủ tục. Tại luyện công trung nhĩ ngật liễu khổ, đề cao liễu tâm tính, hữu liễu phó xuất, dã tựu hữu liễu công, luyện thị tiên quyết điều kiện, nhiên hậu do Sư phụ Pháp thân bả tha hoá thành công.

Thầy: Người không phải đại căn cơ cũng có thể xuất công, vì mỗi cá nhân đều có mang thành phần đức. Không có một thành phần đức nào là điều không thể, không có người như thế. Nếu trên thân chư vị hết vật chất màu trắng, mà vẫn còn vật chất màu đen, [thì] vật chất màu đen thông qua luyện công có thể hoán chuyển thành vật chất màu trắng, chẳng qua thêm một đoạn thủ tục thôi. Trong luyện công chư vị chịu khổ, đề cao tâm tính, có phó xuất, thì cũng có công, ‘luyện’ là điều kiện tiên quyết, sau nữa là do Pháp thân của Sư phụ hoá nó thành ‘công’.

弟子:一個人出生時,他的一生就是定好的,那麼通過奮鬥能改變嗎?

Đệ tử: Nhất cá nhân xuất sinh thời, tha đích nhất sinh tựu thị định hảo đích, na ma thông quá phấn đấu năng cải biến ma?

Đệ tử: Khi một người được sinh ra, cả cuộc đời người đó đã được định xong rồi, vậy thông qua phấn đấu là có thể cải biến không?

師:當然可以改變,你奮鬥也是安排好的,不奮鬥也不成,你是常人,但大的東西改變不了。

Sư: Đương nhiên khả dĩ cải biến, nhĩ phấn đấu dã thị an bài hảo đích, bất phấn đấu dã bất thành, nhĩ thị thường nhân, đãn đại đích đông tây cải biến bất liễu.

Thầy: Tất nhiên có thể cải biến, [mà] ‘phấn đấu’ của chư vị cũng là được an bài xong rồi, không phấn đấu cũng không được, chư vị là người thường, mà những thứ lớn là không cải biến nổi.

弟子:天目沒開的情況下,怎樣辨別接到的信息是好是壞?

Đệ tử: Thiên mục một khai đích tình huống hạ, chẩm dạng biện biệt tiếp đáo đích tín tức thị hảo thị hoại?

Đệ tử: Trong tình huống chưa mở thiên mục, làm thế nào phân biệt được tín tức nhận được là tốt hay xấu?

師:你自己不好辨別,在你煉功中,存在著許多考驗你心性的問題。法身保護你是不叫你出生命危險,但有些東西出現他不一定管,需要你自己去過,自己去化,自己去悟。有時不良信息來了,它告訴你今天獎券是多少號,也許是對的,也許不對,或者告訴你其它的事,就看你怎麼做。心正邪不侵。只要你守住心性就沒問題。

Sư: Nhĩ tự kỷ bất hảo biện biệt, tại nhĩ luyện công trung, tồn tại trước hứa đa khảo nghiệm nhĩ tâm tính đích vấn đề. Pháp thân bảo hộ nhĩ thị bất khiếu nhĩ xuất sinh mệnh nguy hiểm, đãn hữu ta đông tây xuất hiện Tha bất nhất định quản, nhu yếu nhĩ tự kỷ khứ quá, tự kỷ khứ hoá, tự kỷ khứ ngộ. Hữu thời bất lương tín tức lai liễu, tha cáo tố nhĩ kim thiên tưởng khoán thị đa thiểu hiệu, dã hứa thị đối đích, dã hứa bất đối, hoặc giả cáo tố nhĩ kỳ tha đích sự, tựu khán nhĩ chẩm ma tố. Tâm chính tà bất xâm. Chỉ yếu nhĩ thủ trụ tâm tính tựu một vấn đề.

Thầy: Tự chư vị không dễ phân biệt đâu, trong luyện công của chư vị, tồn tại rất nhiều khảo nghiệm về vấn đề tâm tính chư vị. Pháp thân bảo hộ chư vị là để chư vị không xuất hiện nguy hiểm đến sinh mệnh, nhưng có những thứ xuất hiện mà họ không nhất định là sẽ quản, [mà] cần chư vị tự vượt qua, tự hoá [giải], tự ngộ. Có những lúc tín tức bất lương tới, nó bảo chư vị rằng hôm nay xổ số là số bao nhiêu, có lẽ đúng, có lẽ sai, hoặc bảo chư vị việc khác nào đó, ấy là để xem chư vị làm thế nào. ‘Tâm chính tà bất xâm’. Chừng nào chư vị giữ vững tâm tính thì sẽ không sao cả.

弟子:心情、情緒不穩定時可不可以煉功?

Đệ tử: Tâm tình, tình tự bất ổn định thời khả bất khả dĩ luyện công?

Đệ tử: Khi tâm tình, cảm tình bất ổn định thì có thể luyện công chăng?

師:在心情不太好時你往那兒一坐也靜不下來,思想盡想不好的事,煉功是有信息存在的,腦子裏想不好的東西,你煉功就煉進去了,人為的練邪法。你煉的功也許是名師教你的,也許是哪個上師教你的,或是密宗活佛傳的,可是你沒嚴格按他們要求的心性去要求就不是他那個功,別看是他教的。咱們大家都想一想,假如你在那兒煉站樁累的夠嗆,但腦子裏很活躍:我們單位裏的某某怎麼這麼壞呢?他怎麼告我的狀?長工資想甚麼辦法能長上?現在的物價漲了,我要多買點兒。那麼是不是你人為的、下意識的、不自覺的在練邪法?所以心情不好時儘量不要煉。

Sư: Tại tâm tình bất thái hảo thời nhĩ vãng na nhi nhất toạ dã tĩnh bất hạ lai, tư tưởng tận tưởng bất hảo đích sự, luyện công thị hữu tín tức tồn tại đích, não tử lý tưởng bất hảo đích đông tây, nhĩ luyện công tựu luyện tiến khứ liễu, nhân vi đích luyện tà pháp. Nhĩ luyện đích công dã hứa thị danh sư giáo nhĩ đích, dã hứa thị nả cá thượng sư giáo nhĩ đích, hoặc thị Mật tông hoạt Phật truyền đích, khả thị nhĩ một nghiêm cách án tha môn yêu cầu đích tâm tính khứ yêu cầu tựu bất thị tha na cá công, biệt khán thị tha giáo đích. Cha môn đại gia đô tưởng nhất tưởng, giả như nhĩ tại na nhi luyện trạm trang luỵ đích cú sang, đãn não tử lý ngận hoạt dược: Ngã môn đơn vị lý đích mỗ mỗ chẩm ma giá ma hoại ni? Tha chẩm ma cáo ngã đích trạng? Trưởng công tư tưởng thậm ma biện pháp năng trưởng thượng? Hiện tại đích vật giá trướng liễu, ngã yếu đa mãi điểm nhi. Na ma thị bất thị nhĩ nhân vi đích, hạ ý thức đích, bất tự giác đích tại luyện tà pháp? Sở dĩ tâm tình bất hảo thời tận lượng bất yếu luyện.

Thầy: Khi tâm tình không tốt lắm chư vị ngồi xuống đó cũng không tĩnh lại được, tư tưởng cứ nghĩ chuyện bất hảo; luyện công là có tồn tại tín tức, trong đầu não mà suy nghĩ những thứ bất hảo, chư vị luyện công thì sẽ luyện lẫn vào, [ấy là] do mình mà luyện tà pháp. Công mà chư vị luyện có lẽ do danh sư dạy chư vị, có lẽ do thượng sư nào đó dạy chư vị, hoặc Phật sống của Mật tông truyền cho, nhưng chư vị mà không nghiêm khắc chiểu theo tâm tính do họ yêu cầu mà yêu cầu [tự mình] thì đó vẫn không phải là công của họ, dù đó là họ dạy đi nữa. Mọi người chúng ta thử nghĩ, ví như chư vị ở kia luyện trạm trang đã mỏi lắm rồi, nhưng trong đầu vẫn chạy loạn: ‘ABC ở đơn vị [công tác] mình sao mà tệ quá? Nó cáo trạng mình là sao?’ ‘Có cách nào tăng lương nhỉ?’ ‘Bây giờ vật giá đang lên, mình cần mua nhiều hơn một chút’. Đó chẳng phải chư vị luyện tà pháp một cách cố ý, [nhưng lại] không ý thức được, không tự biết? Do đó khi tâm tình không tốt thì hết sức không nên luyện.

弟子:「極高心性」的標準是甚麼?

Đệ tử: “Cực cao tâm tính” đích tiêu chuẩn thị thậm ma?

Đệ tử: Tiêu chuẩn “tâm tính cực cao” là gì?

師:心性是修煉的,沒有甚麼標準,全靠你自己去悟。假如非要說有標準的話,就是遇到事時你想想:假如覺者他該怎麼去做?先進者當然是很突出的,但他還是常人的模範。

Sư: Tâm tính thị tu luyện đích, một hữu thậm ma tiêu chuẩn, toàn kháo nhĩ tự kỷ khứ ngộ. Giả như phi yếu thuyết hữu tiêu chuẩn đích thoại, tựu thị ngộ đáo sự thời nhĩ tưởng tưởng: Giả như Giác Giả tha cai chẩm ma khứ tố? Tiên tiến giả đương nhiên thị ngận đột xuất đích, đãn tha hài thị thường nhân đích mô phạm.

Thầy: Tâm tính là tu luyện [mà ra], không có tiêu chuẩn gì, toàn là dựa vào tự chư vị ngộ ra. Nếu cứ phải là có tiêu chuẩn, vậy hễ khi đụng việc gì thì chư vị hãy nghĩ: ‘Nếu Giác Giả thì họ sẽ làm thế nào?’ Những mẫu hình tiên tiến tất nhiên là tốt, nhưng họ chỉ là tấm gương của người thường thôi.

弟子:對各個氣功師的報告、講話不能抱懷疑態度,但遇到騙人騙錢的怎麼辦?

Đệ tử: Đối các cá khí công sư đích báo cáo, giảng thoại bất năng bão hoài nghi thái độ, đãn ngộ đáo biển nhân biển tiền đích chẩm ma biện?

Đệ tử: Đối với các báo cáo và thuyết giảng của các khí công sư thì không thể mang thái độ hoài nghi, nhưng gặp phải [thầy khí công] lừa người lừa tiền thì làm thế nào?

師:那不一定,首先你要看講的甚麼。遇到騙人的,你自己去辨別。看一個氣功師的好壞,可以看他的心性,心性多高,功就多高。

Sư: Na bất nhất định, thủ tiên nhĩ yếu khán giảng đích thậm ma. Ngộ đáo biển nhân đích, nhĩ tự kỷ khứ biện biệt. Khán nhất cá khí công sư đích hảo hoại, khả dĩ khán tha đích tâm tính, tâm tính đa cao, công tựu đa cao.

Thầy: Cái đó là không nhất định, trước hết chư vị cần xem giảng là điều gì. Gặp phải [kẻ] lừa người, thì tự chư vị phân biệt. Xét một khí công sư tốt xấu thế nào, thì có thể xem tâm tính của họ, tâm tính cao bao nhiêu, thì công cao bấy nhiêu.

弟子:如何消去業力,即佛教中講的消業障?

Đệ tử: Như hà tiêu khứ nghiệp lực, tức Phật giáo trung giảng đích tiêu nghiệp chướng?

Đệ tử: Tiêu trừ nghiệp lực như thế nào, tức là tiêu ‘nghiệp chướng’ giảng trong Phật giáo?

師:煉功本身就是消業。最好是提高自己的心性,能把黑的物質轉化成白白的東西,即「德」的物質,把德轉化成功。

Sư: Luyện công bản thân tựu thị tiêu nghiệp. Tối hảo thị đề cao tự kỷ đích tâm tính, năng bả hắc đích vật chất chuyển hoá thành bạch bạch đích đông tây, tức “đức” đích vật chất, bả đức chuyển hoá thành công.

Thầy: Bản thân việc luyện công đã là tiêu nghiệp. Tốt nhất là đề cao tâm tính của mình, có thể chuyển hoá vật chất màu đen thành những thứ màu trắng, tức là vật chất “đức”, chuyển hoá ‘đức’ thành ‘công’.

弟子:煉法輪功有甚麼戒律?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công hữu thậm ma giới luật?

Đệ tử: Luyện Pháp Luân Công có ‘giới luật’ gì?

師:佛教中要戒的東西,我們大部份都戒。但看法不一樣,我們不是出家人,要生活在常人之中,所以就不一樣。有些東西把它看淡了,就可以了。當然,隨著功力的不斷提高,達到極高層次時,對你的心性的要求也是極高的。

Sư: Phật giáo trung yếu giới đích đông tây, ngã môn đại bộ phận đô giới. Đãn khán pháp bất nhất dạng, ngã môn bất thị xuất gia nhân, yếu sinh hoạt tại thường nhân chi trung, sở dĩ tựu bất nhất dạng. Hữu ta đông tây bả tha khán đạm liễu, tựu khả dĩ liễu. Đương nhiên, tuỳ trước công lực đích bất đoạn đề cao, đạt đáo cực cao tầng thứ thời, đối nhĩ đích tâm tính đích yêu cầu dã thị cực cao đích.

Thầy: Những thứ trong Phật giáo yêu cầu ‘giới’ cấm, thì đại bộ phận [trong đó] chúng ta cũng ‘giới’ cấm. Nhưng cách nhìn nhận là không giống, chúng ta không phải người xuất gia, cần sinh sống trong người thường, cho nên không giống. Có một số điều là [chỉ cần] coi nó thật nhẹ nhàng đạm bạc, là được rồi. Tuy nhiên, thuận theo công lực không ngừng đề cao, khi đạt tới tầng thứ cực cao, thì yêu cầu tâm tính chư vị cũng là cực cao.

四、天目

Tứ, Thiên mục

IV. Thiên mục

弟子:老師說法時看到老師頭上三尺高的金色光環,背後有許多人頭大小的金色光環?

Đệ tử: Lão sư thuyết Pháp thời khán đáo Lão sư đầu thượng tam xích cao đích kim sắc quang hoàn, bối hậu hữu hứa đa nhân đầu đại tiểu đích kim sắc quang hoàn?

Đệ tử: Khi Thầy thuyết Pháp thì [con] thấy trên đầu có vòng sáng vàng kim cao ba thước, sau lưng có nhiều vòng sáng vàng kim cỡ khoảng đầu người?

師:這個人的天目層次已經不低了。

Sư: Giá cá nhân đích thiên mục tầng thứ dĩ kinh bất đê liễu.

Thầy: Thiên mục của vị này có tầng thứ đã không hề thấp nữa.

弟子:看見老師弟子為別人治病用酒噴霧時夾帶著金光?

Đệ tử: Khán kiến Lão sư đệ tử vi biệt nhân trị bệnh dụng tửu phún vụ thời giáp đới trước kim quang?

Đệ tử: [Con] nhìn thấy khi trị bệnh cho người khác thì đệ tử của Thầy phun ra rượu có lấp lánh màu vàng kim?

師:我說這個人煉的不錯了,打出的功能都看見了。

Sư: Ngã thuyết giá cá nhân luyện đích bất thác liễu, đả xuất đích công năng đô khán kiến liễu.

Thầy: Tôi nói vị này luyện công rất là khá, nhìn thấy cả công năng đả xuất ra.

弟子:孩子開天目是否對他有影響?天目開了是否在釋放能量?

Đệ tử: Hài tử khai thiên mục thị phủ đối tha hữu ảnh hưởng? Thiên mục khai liễu thị phủ tại thích phóng năng lượng?

Đệ tử: Trẻ em mở thiên mục có ảnh hưởng đến trẻ em đó không? Thiên mục khai mở rồi có phóng thích năng lượng không?

師:六歲以下小孩很容易開天目,小孩不煉功,開天目就是能量外泄,但家裏一定要有人煉功。最好是叫他每天看上一遍,保持不關閉,同時又不過多外泄。小孩最好自己煉功。用的多能量泄的多,它影響的不是他們的肉體,而是最根本的東西。但如果保持好,不會有影響。我剛才講的是小孩,不是大人。有些人的天目不是一開就怕放能量,它是敞開的,不怕放能量,但是看不到很高層次的東西。也有能看高層次的,看的時候,法身或其他上師供給能量,這沒有問題。

Sư: Lục tuế dĩ hạ tiểu hài ngận dung dị khai thiên mục, tiểu hài bất luyện công, khai thiên mục tựu thị năng lượng ngoại tiết, đãn gia lý nhất định yếu hữu nhân luyện công. Tối hảo thị khiếu tha mỗi thiên khán thượng nhất biến, bảo trì bất quan bế, đồng thời hựu bất quá đa ngoại tiết. Tiểu hài tối hảo tự kỷ luyện công. Dụng đích đa năng lượng tiết đích đa, tha ảnh hưởng đích bất thị tha môn đích nhục thể, nhi thị tối căn bản đích đông tây. Đãn như quả bảo trì hảo, bất hội hữu ảnh hưởng. Ngã cương tài giảng đích thị tiểu hài, bất thị đại nhân. Hữu ta nhân đích thiên mục bất thị nhất khai tựu phạ phóng năng lượng, tha thị sưởng khai đích, bất phạ phóng năng lượng, đãn thị khán bất đáo ngận cao tầng thứ đích đông tây. Dã hữu năng khán cao tầng thứ đích, khán đích thời hậu, Pháp thân hoặc kỳ tha thượng sư cung cấp năng lượng, giá một hữu vấn đề.

Thầy: Trẻ em từ sáu tuổi trở xuống rất dễ khai mở thiên mục, trẻ nhỏ không luyện công, khai thiên mục sẽ tiết năng lượng ra ngoài, nhưng trong nhà nhất định là có người luyện công. Tốt nhất là bảo cháu mỗi ngày nhìn một lần, bảo trì rằng không đóng lại, và đồng thời cũng không tiết ra ngoài nhiều quá. Trẻ nhỏ tốt nhất là tự mình luyện công. Dùng nhiều thì năng lượng tiết ra nhiều, ảnh hưởng của nó không phải là ở thân xác thịt của trẻ, mà là những thứ căn bản nhất. Nhưng nếu bảo trì tốt, sẽ không có ảnh hưởng. Tôi vừa giảng ấy là về trẻ nhỏ, không phải [giảng về] người lớn. Có những người thiên mục không phải hễ khai mở liền sợ phóng năng lượng đâu, nó mở rộng, không sợ phóng năng lượng, nhưng mà nhìn không tới những thứ ở tầng thứ cao. Cũng có [người] có thể nhìn tới tầng thứ cao, khi nhìn, thì Pháp thân hoặc thượng sư của họ cung cấp năng lượng cho họ, như thế không có vấn đề.

弟子:看到老師身上出現黃燦燦的光,還有老師的影子,轉眼就沒有了,怎麼回事?

Đệ tử: Khán đáo Lão sư thân thượng xuất hiện hoàng xán xán đích quang, hài hữu Lão sư đích ảnh tử, chuyển nhãn tựu một hữu liễu, chẩm ma hồi sự?

Đệ tử: [Con] nhìn thấy trên thân của Thầy xuất hiện ánh sáng vàng chói lọi, còn có bóng ảnh của Thầy, nhưng đảo mắt một cái thì biến mất, đó là chuyện gì?

師:這就是我的法身,我在講法,頭頂有功柱,在我這個層次就是這樣的。轉眼就沒有了,是你還不會用天目,用了眼睛看了。

Sư: Giá tựu thị ngã đích Pháp thân, ngã tại giảng Pháp, đầu đỉnh hữu công trụ, tại ngã giá cá tầng thứ tựu thị giá dạng đích. Chuyển nhãn tựu một hữu liễu, thị nhĩ hài bất hội dụng thiên mục, dụng liễu nhãn tình khán liễu.

Thầy: Đó chính là Pháp thân tôi, tôi đang giảng Pháp, trên đỉnh đầu có cột công trụ, ở tầng thứ của tôi thì là vậy đó. Đảo mắt một cái liền mất, là [vì] chư vị vẫn chưa biết dùng thiên mục, đã dùng mắt [thường] để nhìn rồi.

弟子:特異功能怎樣運用?

Đệ tử: Đặc dị công năng chẩm dạng vận dụng?

Đệ tử: Vận dụng công năng đặc dị như thế nào?

師:把特異功能用在軍事科學或其它高科技上,或用於搞情報,我想這裏邊有個問題。我們這個宇宙是有特性的,只要它符合這個特性,它就靈;不符合這個特性,它就不好使。儘管叫他辦好事,高層次上的東西他搞不來,也就是感應感應。做些小術對正常發展的社會無妨。他要是想改變甚麼的話,那要做很大很大的事,需不需要他做,他說了不算,因為社會的發展不是按人的意志而轉移的。他想達到甚麼成度,這事誰也做不了主。

Sư: Bả đặc dị công năng dụng tại quân sự khoa học hoặc kỳ tha cao khoa kỹ thượng, hoặc dụng ư cảo tình báo, ngã tưởng giá lý biên hữu cá vấn đề. Ngã môn giá cá vũ trụ thị hữu đặc tính đích, chỉ yếu tha phù hợp giá cá đặc tính, tha tựu linh; bất phù hợp giá cá đặc tính, tha tựu bất hảo sử. Tận quản khiếu tha biện hảo sự, cao tầng thứ thượng đích đông tây tha cảo bất lai, dã tựu thị cảm ứng cảm ứng. Tố ta tiểu thuật đối chính thường phát triển đích xã hội vô phương. Tha yếu thị tưởng cải biến thậm ma đích thoại, na yếu tố ngận đại ngận đại đích sự, nhu bất nhu yếu tha tố, tha thuyết liễu bất toán, nhân vi xã hội đích phát triển bất thị án nhân đích ý chí nhi chuyển di đích. Tha tưởng đạt đáo thậm ma thành độ, giá sự thuỳ dã tố bất liễu chủ.

Thầy: Dùng công năng đặc dị vào khoa học quân sự hoặc khoa học kỹ thuật cao khác, hoặc dùng trong tình báo, [thì] tôi nghĩ rằng có vấn đề ở đó. Vũ trụ chúng ta là có đặc tính, chừng nào nó phù hợp với đặc tính ấy, thì nó mới linh [nghiệm]; không phù hợp đặc tính ấy, thì nó không dùng được. Ngay cả bảo họ làm việc tốt, thì họ không làm được những gì ở tầng thứ cao đâu, cũng chỉ là cảm ứng một chút. Còn những tiểu thuật đối với xã hội phát triển bình thường thì không sao cả. Nếu họ là muốn cải biến gì đó, muốn làm việc rất to lớn nào đó, thì có cần họ làm hay không cần, ấy là họ không quyết định được, bởi vì sự phát triển của xã hội là không vận chuyển chiểu theo ý chí của con người. [Có thể là] họ muốn đạt được mức độ nào đó, [nhưng] việc đó không ai làm chủ được.

弟子:人的意識是怎麼進出的?

Đệ tử: Nhân đích ý thức thị chẩm ma tiến xuất đích?

Đệ tử: Ý thức của con người là vào ra như thế nào?

師:我們講意識,一般是從頭頂上出去。當然,不侷限這樣,他可以從任何一個地方出去。不像有些功法強調的一定從頭頂上出去,甚麼地方都可以離體。進去也是一樣。

Sư: Ngã môn giảng ý thức, nhất ban thị tùng đầu đỉnh thượng xuất khứ. Đương nhiên, bất cuộc hạn giá dạng, tha khả dĩ tùng nhậm hà nhất cá địa phương xuất khứ. Bất tượng hữu ta công pháp cường điệu đích nhất định tùng đầu đỉnh thượng xuất khứ, thậm ma địa phương đô khả dĩ ly thể. Tiến khứ dã thị nhất dạng.

Thầy: Ý thức mà chúng ta giảng ấy, thông thường xuất ra từ đỉnh đầu. Tất nhiên, không chỉ giới hạn như vậy, nó có thể xuất ra từ bất kỳ chỗ nào. Không hề giống như một số công pháp nhấn mạnh rằng nhất định phải xuất ra từ đỉnh đầu, mà có thể ‘ly thể’ từ bất kỳ chỗ nào. Tiến vào thì cũng như thế.

弟子:天目區有紅光,中間是黑洞,迅速一層層開花,是不是在開天目?還有時有星光、閃電?

Đệ tử: Thiên mục khu hữu hồng quang, trung gian thị hắc động, tấn tốc nhất tầng tầng khai hoa, thị bất thị tại khai thiên mục? Hài hữu thời hữu tinh quang, thiểm điện?

Đệ tử: Khu thiên mục [của con] có ánh sáng đỏ, chỗ giữa có lỗ đen, hoa khai nở rất nhanh, đó là đang khai thiên mục chăng? Đôi khi vẫn là có ánh sao, điện chớp?

師:當你開到有星光時就開的差不多了,有閃電實際上快開透了。

Sư: Đương nhĩ khai đáo hữu tinh quang thời tựu khai đích sai bất đa liễu, hữu thiểm điện thực tế thượng khoái khai thấu liễu.

Thầy: Khi chư vị mở tới lúc có ánh sao là đã mở gần xong, có điện chớp thì trên thực tế sắp khai mở thấu hẳn rồi.

弟子:看到老師頭上身上有紅色、綠色光環,但閉上眼甚麼也看不見,是不是用餘光看的?

Đệ tử: Khán đáo Lão sư đầu thượng thân thượng hữu hồng sắc, lục sắc quang hoàn, đãn bế thượng nhãn thậm ma dã khán bất kiến, thị bất thị dụng dư quang khán đích?

Đệ tử: [Con] nhìn thấy trên đỉnh đầu và trên thân của Thầy có quầng sáng màu đỏ, màu xanh lá cây, nhưng nhắm mắt thì không thấy gì, đó có phải là dùng ‘dư quang’ để nhìn chăng?

師:不是用餘光看到的,你只是不會閉著看,是睜著眼看。往往天目開了的人不會用,有時睜著眼無意之中能看到的,可是你要是一定想仔細看看,實際上是用了眼睛,又看不見了,當你不注意時又看見了。

Sư: Bất thị dụng dư quang khán đáo đích, nhĩ chỉ thị bất hội bế trước khán, thị tranh trước nhãn khán. Vãng vãng thiên mục khai liễu đích nhân bất hội dụng, hữu thời tranh trước nhãn vô ý chi trung năng khán đáo đích, khả thị nhĩ yếu thị nhất định tưởng tử tế khán khán, thực tế thượng thị dụng liễu nhãn tình, hựu khán bất kiến liễu, đương nhĩ bất chú ý thời hựu khán kiến liễu.

Thầy: Không phải dùng ‘dư quang’ để nhìn, chư vị chỉ là không biết nhìn khi nhắm mắt, là [chỉ biết] nhìn khi mở mắt. Thông thường người ta mở thiên mục xong sẽ không biết dùng, đôi lúc vô ý mở mắt có thể nhìn thấy, nhưng chư vị muốn nhất định nhìn kỹ, thì thực tế là dùng sang con mắt [thường], và lại không thấy nữa, lúc chư vị không chú ý thì lại nhìn thấy.

弟子:我的女兒在空中看到一些圓圈,她說不清,叫她看法輪章,她說就是這個,她是否真的開了天目?

Đệ tử: Ngã đích nữ nhi tại không trung khán đáo nhất ta viên khuyên, tha thuyết bất thanh, khiếu tha khán Pháp Luân chương, tha thuyết tựu thị giá cá, tha thị phủ chân đích khai liễu thiên mục?

Đệ tử: Con gái của con nhìn thấy những vòng tròn trên không, cháu nói không được rành mạch, bảo cháu thử nhìn đồ hình Pháp Luân, thì cháu bảo rằng chính là cái đó, phải chăng cháu quả thật đã khai thiên mục?

師:咱們的法輪章,六歲以下的小孩看一眼天目就開了,不過你可不要去做,小孩是可以看到的。

Sư: Cha môn đích Pháp Luân chương, lục tuế dĩ hạ đích tiểu hài khán nhất nhãn thiên mục tựu khai liễu, bất quá nhĩ khả bất yếu khứ tố, tiểu hài thị khả dĩ khán đáo đích.

Thầy: Đồ hình Pháp Luân của chúng ta, trẻ nhỏ sáu tuổi trở xuống hễ nhìn là khai thiên mục, nhưng chư vị [người lớn] đừng đi làm việc đó, trẻ nhỏ là có thể nhìn thấy.

弟子:天目開了不會應用,請教師解答?

Đệ tử: Thiên mục khai liễu bất hội ứng dụng, thỉnh giáo sư giải đáp?

Đệ tử: Thiên mục [của con] mở rồi mà không biết dùng, thỉnh Thầy giải đáp?

師:當天目開的很透的時候,不會用的也會用了;很亮、很好使的時候,不會用的也會用了。用天目看東西是在無意狀態下看見的,想仔細看時,無意中動了眼睛,走了視神經,所以就看不見了。

Sư: Đương thiên mục khai đích ngận thấu đích thời hậu, bất hội dụng đích dã hội dụng liễu; ngận lượng, ngận hảo sử đích thời hậu, bất hội dụng đích dã hội dụng liễu. Dụng thiên mục khán đông tây thị tại vô ý trạng thái hạ khán kiến đích, tưởng tử tế khán thời, vô ý trung động liễu nhãn tình, tẩu liễu thị thần kinh, sở dĩ tựu khán bất kiến liễu.

Thầy: Khi thiên mục khai mở thấu hết, thì không biết dùng cũng sẽ biết dùng; khi rất sáng, rất dễ dùng, thì không biết dùng cũng sẽ biết dùng. Dùng thiên mục nhìn các thứ là trong trạng thái vô ý mà nhìn thấy, khi muốn nhìn kỹ, thì khi vô ý đã sang mắt [thường], đi qua thần kinh thị giác, nên không thấy nữa.

弟子:天目開後看到的是不是整個宇宙空間的東西?

Đệ tử: Thiên mục khai hậu khán đáo đích thị bất thị chỉnh cá vũ trụ không gian đích đông tây?

Đệ tử: Thiên mục khai mở rồi thì những gì nhìn thấy phải chăng là những thứ của toàn thể không gian vũ trụ?

師:我們開天目是分層次的,也就是說你看到的真相多少,是分層次決定的。開天目不見得宇宙中的一切都看的到,而是在以後的煉功中逐漸提高你的層次,最後達到開悟,你才能看到更多的層次,那也不保證你看到的是整個宇宙的真理。因為釋迦牟尼當時在他有生之年傳法時,也是不斷提高,每當提高一個層次時,他發現以前所講的東西又不穩定了,再往高往下看又不對,所以他最後講「法無定法」,一個層次一個理。他也不可能完全看到整個宇宙的真理。在我們一般人看來,世間修煉達到如來層次就以為是不可思議的了,因為他就知道如來這個層次。再高的東西他也不知道,就接受不了,如來是佛法中一個小小的層次,大法無邊,就指這個。

Sư: Ngã môn khai thiên mục thị phân tầng thứ đích, dã tựu thị thuyết nhĩ khán đáo đích chân tướng đa thiểu, thị phân tầng thứ quyết định đích. Khai thiên mục bất kiến đắc vũ trụ trung đích nhất thiết đô khán đích đáo, nhi thị tại dĩ hậu đích luyện công trung trục tiệm đề cao nhĩ đích tầng thứ, tối hậu đạt đáo khai ngộ, nhĩ tài năng khán đáo cánh đa đích tầng thứ, na dã bất bảo chứng nhĩ khán đáo đích thị chỉnh cá vũ trụ đích Chân Lý. Nhân vi Thích Ca Mâu Ni đương thời tại Tha hữu sinh chi niên truyền Pháp thời, dã thị bất đoạn đề cao, mỗi đương đề cao nhất cá tầng thứ thời, Tha phát hiện dĩ tiền sở giảng đích đông tây hựu bất ổn định liễu, tái vãng cao vãng hạ khán hựu bất đối, sở dĩ Tha tối hậu giảng “Pháp vô định Pháp”, nhất cá tầng thứ nhất cá Lý. Tha dã bất khả năng hoàn toàn khán đáo chỉnh cá vũ trụ đích Chân Lý. Tại ngã môn nhất ban nhân khán lai, thế gian tu luyện đạt đáo Như Lai tầng thứ tựu dĩ vi thị bất khả tư nghị đích liễu, nhân vi tha tựu tri đạo Như Lai giá cá tầng thứ. Tái cao đích đông tây tha dã bất tri đạo, tựu tiếp thụ bất liễu, Như Lai thị Phật Pháp trung nhất cá tiểu tiểu đích tầng thứ, Đại Pháp vô biên, tựu chỉ giá cá.

Thầy: Chúng ta khai thiên mục là có phân tầng thứ, nghĩa là chư vị thấy chân tướng được bao nhiêu, là do phân tầng thứ quyết định. Khai thiên mục không phải nhìn thấy hết thảy những gì trong vũ trụ, mà là trong tu luyện về sau dần dần đề cao tầng thứ của chư vị, cuối cùng đạt tới ‘khai ngộ’, thì chư vị mới nhìn thấy nhiều tầng thứ hơn, khi đó cũng không bảo chứng rằng chư vị nhìn thấy là Chân Lý của toàn thể vũ trụ. Vì Thích Ca Mâu Ni bấy giờ khi truyền Pháp trong những năm tại thế, cũng là không ngừng đề cao, mỗi khi đề cao thêm một tầng thứ, Ông phát hiện rằng những điều giảng trước đó cũng không ổn định, lên cao hơn mà nhìn xuống thì thấy là không còn đúng, do đó cuối cùng Ông giảng “Pháp vô định Pháp”, mỗi tầng thứ một Lý. Ông cũng không thể hoàn toàn nhìn thấy Chân Lý toàn thể vũ trụ. Từ một người bình thường chúng ta mà nhìn, thế gian tu luyện cho tới tầng thứ Như Lai thì đã là điều rất khó tưởng tượng nổi rồi, là vì họ chỉ là biết tới tầng thứ Như Lai ấy. Những gì cao hơn thì họ không biết, nên không tiếp thu nổi, [nhưng mà] Như Lai chỉ là một tầng thứ rất rất nhỏ trong Phật Pháp, [nói] ‘Đại Pháp vô biên’, là có ý như vậy.

弟子:我們看到您身上的東西是否真的存在?

Đệ tử: Ngã môn khán đáo Nâm thân thượng đích đông tây thị phủ chân đích tồn tại?

Đệ tử: Những gì chúng con nhìn thấy trên thân của Ngài phải chăng thật sự tồn tại?

師:當然是真的存在,所有空間都是物質構成的,只不過結構和我們的不一樣。

Sư: Đương nhiên thị chân đích tồn tại, sở hữu không gian đô thị vật chất cấu thành đích, chỉ bất quá kết cấu hoà ngã môn đích bất nhất dạng.

Thầy: Đương nhiên là thật sự tồn tại, tất cả không gian đều là vật chất cấu thành, chỉ bất quá kết cấu khác với [không gian] chúng ta thôi.

弟子:我的預感往往跟所發生的事相一致?

Đệ tử: Ngã đích dự cảm vãng vãng cân sở phát sinh đích sự tương nhất trí?

Đệ tử: Dự cảm của con thông thường rất nhất trí với những gì phát sinh?

師:這就是我們所談的預測功能,實際上就是宿命通的低層次階段。我們煉的功都是在另外空間,在那個空間沒有時空概念,不管隔多遠都是一樣的。

Sư: Giá tựu thị ngã môn sở đàm đích dự trắc công năng, thực tế thượng tựu thị túc mệnh thông đích đê tầng thứ giai đoạn. Ngã môn luyện đích công đô thị tại lánh ngoại không gian, tại na cá không gian một hữu thời không khái niệm, bất quản cách đa viễn đô thị nhất dạng đích.

Thầy: Đó chính là công năng ‘dự trắc’ [tiên đoán] mà chúng ta nói đến, trên thực tế chính là giai đoạn tầng thứ thấp của ‘túc mệnh thông’. Công mà chúng ta luyện đều ở không gian khác, ở không gian đó không có khái niệm thời không, bất kể là cách bao nhiêu cũng đều như nhau.

弟子:煉功中出現彩色人、彩色天空、圖象?

Đệ tử: Luyện công trung xuất hiện thái sắc nhân, thái sắc thiên không, đồ tượng?

Đệ tử: Trong luyện công xuất hiện người có màu sắc, bầu trời nhiều màu, các hình ảnh?

師:你天目開了,你所看到的東西是另外空間的。另外空間是分層次的,你看到的可能是其中一個層次,它就是這樣漂亮。

Sư: Nhĩ thiên mục khai liễu, nhĩ sở khán đáo đích đông tây thị lánh ngoại không gian đích. Lánh ngoại không gian thị phân tầng thứ đích, nhĩ khán đáo đích khả năng thị kỳ trung nhất cá tầng thứ, tha tựu thị giá dạng phiêu lượng.

Thầy: Thiên mục chư vị đã khai mở, những gì chư vị thấy là của không gian khác. Không gian khác là có phân tầng thứ, điều chư vị thấy có thể là một tầng thứ trong ấy, nó chính là đẹp đẽ như vậy.

弟子:煉功中突然一聲響,覺的身體被衝開了,有許多事物都豁然明白了?

Đệ tử: Luyện công trung đột nhiên nhất thanh hưởng, giác đích thân thể bị xung khai liễu, hữu hứa đa sự vật đô khoát nhiên minh bạch liễu?

Đệ tử: Khi luyện công đột nhiên một âm thanh vang lên, cảm thấy thân thể được xung khai mở ra, có rất nhiều điều đột nhiên trở nên minh bạch [hiểu rõ]?

師:有些人煉功容易出現這種情況,炸開身體的一部份,某些方面開悟了,是屬於漸悟的情況。當你修煉的一個層次走完了,就炸開一部份,這都是正常的。

Sư: Hữu ta nhân luyện công dung dị xuất hiện giá chủng tình huống, tạc khai thân thể đích nhất bộ phận, mỗ ta phương diện khai ngộ liễu, thị thuộc ư tiệm ngộ đích tình huống. Đương nhĩ tu luyện đích nhất cá tầng thứ tẩu hoàn liễu, tựu tạc khai nhất bộ phận, giá đô thị chính thường đích.

Thầy: Một số người khi luyện công dễ xuất hiện tình huống loại này —khai nổ một phần của thân thể, khai ngộ phương diện nào đó— đây là thuộc tình huống ‘tiệm ngộ’. Khi chư vị luyện công bước hết qua một tầng thứ, thì khai nổ phần ấy, đó đều là bình thường.

弟子:有時有動不了的感覺,甚麼原因?

Đệ tử: Hữu thời hữu động bất liễu đích cảm giác, thậm ma nguyên nhân?

Đệ tử: Đôi lúc cảm giác không động đậy nổi, nguyên nhân là gì?

師:煉功初期,你可能會有這種感覺,突然手或某個部位動不了了,為甚麼呢?因為你有了一種功能,叫定功。這是你本身存在的一種功能。這個功能本事很大,當一個人做了壞事正跑的時候,你說「定」,當時他就動不了了。

Sư: Luyện công sơ kỳ, nhĩ khả năng hội hữu giá chủng cảm giác, đột nhiên thủ hoặc mỗ cá bộ vị động bất liễu liễu, vi thậm ma ni? Nhân vi nhĩ hữu liễu nhất chủng công năng, khiếu định công. Giá thị nhĩ bản thân tồn tại đích nhất chủng công năng. Giá cá công năng bản sự ngận đại, đương nhất cá nhân tố liễu hoại sự chính bào đích thời hậu, nhĩ thuyết “định”, đương thời tha tựu động bất liễu liễu.

Thầy: Luyện công thời kỳ đầu, chư vị có thể sẽ có loại cảm giác này, đột nhiên tay hoặc bộ phận nào đó không động được nữa, tại sao? Là vì chư vị đã có một loại công năng, gọi là ‘định công’. Đây là công năng mà bản thân chư vị đã có. Công năng này bản sự rất lớn, khi một người làm điều xấu và đang bỏ chạy, chư vị nói “định”, thì người đó bèn không động được nữa.

弟子:甚麼時候可以看病?我以前給人看病有一些療效,學習法輪功後,有人找我看病,我能否給人看?

Đệ tử: Thậm ma thời hậu khả dĩ khán bệnh? Ngã dĩ tiền cấp nhân khán bệnh hữu nhất ta liệu hiệu, học tập Pháp Luân Công hậu, hữu nhân trảo ngã khán bệnh, ngã năng phủ cấp nhân khán?

Đệ tử: Tới khi nào thì có thể chữa bệnh [cho người khác]? Trước đây con chữa bệnh là có một số hiệu quả, sau khi học Pháp Luân Công, có người tìm con để chữa bệnh, con có thể chữa cho họ chăng?

師:我看這個班上的人,不管你以前學過哪一家功法,練了多長時間,能達到看病成度與否,低層次上,不想叫大家看病,因為你自己都不知道自己是個甚麼狀態。你是給別人看過病,可能是因為你當時心正,起了作用,也可能是哪個過路的師父幫了你一下,因為你在做好事嘛。即使你煉的那點能量能起作用,也保護不了你自己。你看病時,和病人同在一個場,久而久之,身上的黑氣,你比病人病的還要厲害。問病人:好沒好?他說「舒服一點兒」,那叫甚麼看病?有的氣功師講:明天來一次,後天再來一次,我給你看一個療程。他也講「療程」,這不是騙人嗎?等你到了高層次上看多好?看一個好一個,那多痛快!如果你已經出功了,而且也不算低,實在需要看病的時候,我會給你開手的,我可以把你的治病功能給你拿出來。但是你往高層次上修,我想最好還是別做這種事。為了宣傳大法和參加社會活動,我的弟子有一部份在看病,因為他在我身邊,我帶著他,他有保障,所以沒關係。

Sư: Ngã khán giá cá ban thượng đích nhân, bất quản nhĩ dĩ tiền học quá nả nhất gia công pháp, luyện liễu đa trường thời gian, năng đạt đáo khán bệnh thành độ dữ phủ, đê tầng thứ thượng, bất tưởng khiếu đại gia khán bệnh, nhân vi nhĩ tự kỷ đô bất tri đạo tự kỷ thị cá thậm ma trạng thái. Nhĩ thị cấp biệt nhân khán quá bệnh, khả năng thị nhân vi nhĩ đương thời tâm chính, khởi liễu tác dụng, dã khả năng thị nả cá quá lộ đích sư phụ bang liễu nhĩ nhất hạ, nhân vi nhĩ tại tố hảo sự ma. Tức sử nhĩ luyện đích na điểm năng lượng năng khởi tác dụng, dã bảo hộ bất liễu nhĩ tự kỷ. Nhĩ khán bệnh thời, hoà bệnh nhân đồng tại nhất cá trường, cửu nhi cửu chi, thân thượng đích hắc khí, nhĩ tỷ bệnh nhân bệnh đích hài yếu lệ hại. Vấn bệnh nhân: Hảo một hảo? Tha thuyết “Thư phục nhất điểm nhi”, na khiếu thậm ma khán bệnh? Hữu đích khí công sư giảng: Minh thiên lai nhất thứ, hậu thiên tái lai nhất thứ, ngã cấp nhĩ khán nhất cá liệu trình. Tha dã giảng “liệu trình”, giá bất thị biển nhân ma? Đẳng nhĩ đáo liễu cao tầng thứ thượng khán đa hảo? Khán nhất cá hảo nhất cá, na đa thống khoái! Như quả nhĩ dĩ kinh xuất công liễu, nhi thả dã bất toán đê, thực tại nhu yếu khán bệnh đích thời hậu, ngã hội cấp nhĩ khai thủ đích, ngã khả dĩ bả nhĩ đích trị bệnh công năng cấp nhĩ nã xuất lai. Đãn thị nhĩ vãng cao tầng thứ thượng tu, ngã tưởng tối hảo hài thị biệt tố giá chủng sự. Vi liễu tuyên truyền Đại Pháp hoà tham gia xã hội hoạt động, ngã đích đệ tử hữu nhất bộ phận tại khán bệnh, nhân vi tha tại ngã thân biên, ngã đới trước tha, tha hữu bảo chướng, sở dĩ một quan hệ.

Thầy: Tôi thấy những người ở lớp học này, bất kể chư vị trước đây từng học công pháp của ‘gia’ nào, luyện bao nhiêu lâu, đã đạt mức độ chữa bệnh hay chưa, thì ở tầng thứ thấp, là không muốn bảo chư vị chữa bệnh, vì bản thân chư vị còn không biết được tự mình là trạng thái nào. Chư vị mà đi khám chữa bệnh cho người khác, có thể vì chư vị lúc đó tâm chính, nên khởi tác dụng, cũng có thể vị sư phụ qua đường kia giúp chư vị một chút, vì chư vị đang làm việc tốt mà. Ngay cả nếu chút năng lượng do chư vị luyện có thể khởi tác dụng, thì cũng không bảo hộ nổi bản thân [chư vị]. Chư vị khi chữa bệnh, là ở cùng một trường với bệnh nhân, dần dà, với khí đen trên thân ấy, chư vị bệnh còn nặng hơn cả người bệnh. Hỏi bệnh nhân: ‘Khỏi bệnh chưa?’ Họ nói “Thấy dễ chịu hơn chút rồi”, đó là chữa bệnh kiểu gì chứ? Có khí công sư nói: ‘Mai lại tới lần nữa, hôm sau nữa thì lại tới lần nữa, tôi sẽ chữa cho chư vị theo một liệu trình’. Họ cũng giảng “liệu trình” ư, đó chẳng phải lừa người? Hãy đợi chư vị tới tầng thứ cao rồi xem sẽ tốt hơn ngần nào? Chữa một cái là khỏi ngay một người, rất nhanh gọn! Nếu chư vị đã xuất công rồi, hơn nữa cũng không thấp, và thực tại tới lúc cần chữa bệnh, thì tôi sẽ khai mở tay cho chư vị, tôi có thể để chư vị xuất ra công năng trị bệnh của chư vị. Nhưng mà chư vị tu lên tầng thứ cao, thì tôi nghĩ rằng tốt nhất vẫn là đừng làm loại việc này. Vì để tuyên truyền Đại Pháp và tham gia hoạt động xã hội, có một phần trong các đệ tử của tôi là có khám chữa bệnh, vì họ ở bên tôi, tôi mang họ theo, họ có bảo đảm, cho nên không thành vấn đề.

弟子:出了功能可以和別人說嗎?

Đệ tử: Xuất liễu công năng khả dĩ hoà biệt nhân thuyết ma?

Đệ tử: Xuất công năng rồi thì có thể nói cho người khác không?

師:出了功能和煉法輪功的人說,謙虛點,沒有問題。把大家集中起來煉功就是為了大家可以切磋。當然,在外面碰到有功能的人也可以和他說,無所謂,只是不要顯耀,如果想顯耀一下我有本事就不成。顯耀的時間長了,那東西就沒有了。如果想講氣功現象,探討一下,沒有一點個人雜念,我說是沒有問題的。

Sư: Xuất liễu công năng hoà luyện Pháp Luân Công đích nhân thuyết, khiêm hư điểm, một hữu vấn đề. Bả đại gia tập trung khởi lai luyện công tựu thị vi liễu đại gia khả dĩ thiết tha. Đương nhiên, tại ngoại diện bính đáo hữu công năng đích nhân dã khả dĩ hoà tha thuyết, vô sở vị, chỉ thị bất yếu hiển diệu, như quả tưởng hiển diệu nhất hạ ngã hữu bản sự tựu bất thành. Hiển diệu đích thời gian trường liễu, na đông tây tựu một hữu liễu. Như quả tưởng giảng khí công hiện tượng, thám thảo nhất hạ, một hữu nhất điểm cá nhân tạp niệm, ngã thuyết thị một hữu vấn đề đích.

Thầy: Xuất công năng rồi nói với người luyện Pháp Luân Công, khiêm tốn một chút, thì không có vấn đề. [Tôi] bảo mọi người tập trung lại luyện công chính là để mọi người có thể trao đổi. Đương nhiên, ở bên ngoài mà gặp người có công năng thì cũng có thể nói với họ, không sao cả, chỉ là không được khoe khoang, nếu khoe khoang rằng ta có khả năng này nọ thì không được đâu. Khoe khoang một thời gian lâu lâu, thì những thứ đó sẽ mất. Nếu là muốn giảng về hiện tượng khí công, tham khảo thử chút, không có tạp niệm cá nhân trong đó, thì tôi nói rằng không thành vấn đề.

弟子:佛家講「空」道家講「無」,我們講甚麼?

Đệ tử: Phật gia giảng “không” Đạo gia giảng “vô”, ngã môn giảng thậm ma?

Đệ tử: Phật gia giảng “không” Đạo gia giảng “vô”, chúng ta giảng gì?

師:佛家的「空」,道家的「無」是它本功所特有的東西,當然我們這裏也需要達到這種境界。我們講有心煉功無心得功。修心性,去執著心,所以還是空無,但是我們不特殊強調它。因為你生活在物質世界裏,你要上班,你要工作,必然要做事。做事就必然帶來一個好事、壞事的問題,怎麼辦呢?我們修的是心性,這是我們這個功最突出的東西,只要你心正,做出來的事符合我們要求的,心性就沒有問題。

Sư: Phật gia đích “không”, Đạo gia đích “vô” thị tha bản công sở đặc hữu đích đông tây, đương nhiên ngã môn giá lý dã nhu yếu đạt đáo giá chủng cảnh giới. Ngã môn giảng hữu tâm luyện công vô tâm đắc công. Tu tâm tính, khứ chấp trước tâm, sở dĩ hài thị không vô, đãn thị ngã môn bất đặc thù cường điệu tha. Nhân vi nhĩ sinh hoạt tại vật chất thế giới lý, nhĩ yếu thượng ban, nhĩ yếu công tác, tất nhiên yếu tố sự. Tố sự tựu tất nhiên đới lai nhất cá hảo sự, hoại sự đích vấn đề, chẩm ma biện ni? Ngã môn tu đích thị tâm tính, giá thị ngã môn giá cá công tối đột xuất đích đông tây, chỉ yếu nhĩ tâm chính, tố xuất lai đích sự phù hợp ngã môn yêu cầu đích, tâm tính tựu một hữu vấn đề.

Thầy: Cái “không” của Phật gia, cái “vô” của Đạo gia là những điều riêng có ở công của họ, tất nhiên chúng ta đây cũng yêu cầu đạt tới loại cảnh giới đó. Chúng ta giảng ‘hữu tâm luyện công vô tâm đắc công’. Tu tâm tính, vứt bỏ tâm chấp trước, nên vẫn là ‘không’ ‘vô’, nhưng chúng ta không nhấn mạnh một cách đặc thù về điều ấy. Vì chư vị sinh sống trong thế giới vật chất, chư vị cần đi làm, chư vị cần công tác, tất nhiên cần làm các việc. Làm các việc thì tất nhiên mang tới vấn đề việc tốt việc xấu, vậy làm thế nào? Điều chúng ta tu là tâm tính, đây là điều nổi bật nhất trong công của chúng ta, miễn là tâm chư vị ‘chính’, những việc làm ra phù hợp với yêu cầu chúng tôi, thì tâm tính sẽ không có vấn đề.

弟子:我們在平時怎樣才能體會功能的增長呢?

Đệ tử: Ngã môn tại bình thời chẩm dạng tài năng thể hội công năng đích tăng trưởng ni?

Đệ tử: Bình thường chúng ta làm sao mới thể hội được sự tăng trưởng của công năng?

師:在你煉功初期,如果出了功能會體會出來。如果沒出功能身體敏感的話,能體會出來。如果兩樣都不具備,就沒法感覺了,只好閉著眼睛煉。我們學員有百分之六十至百分之七十是開了天目的,能看到,我都知道。你們不出聲只是瞪著眼睛看,為甚麼叫大家一起煉功?是想你們小組內部可以互相交流切磋。但本著對功法負責,到外邊不要亂說,內部之間交流、互相提高可以。

Sư: Tại nhĩ luyện công sơ kỳ, như quả xuất liễu công năng hội thể hội xuất lai. Như quả một xuất công năng thân thể mẫn cảm đích thoại, năng thể hội xuất lai. Như quả lưỡng dạng đô bất cụ bị, tựu một pháp cảm giác liễu, chỉ hảo bế trước nhãn tình luyện. Ngã môn học viên hữu bách phân chi lục thập chí bách phân chi thất thập thị khai liễu thiên mục đích, năng khán đáo, ngã đô tri đạo. Nhĩ môn bất xuất thanh chỉ thị trừng trước nhãn tình khán, vi thậm ma khiếu đại gia nhất khởi luyện công? Thị tưởng nhĩ môn tiểu tổ nội bộ khả dĩ hỗ tương giao lưu thiết tha. Đãn bản trước đối công pháp phụ trách, đáo ngoại biên bất yếu loạn thuyết, nội bộ chi gian giao lưu, hỗ tương đề cao khả dĩ.

Thầy: Vào thời đầu luyện công, nếu xuất công năng thì sẽ thể hội ra. Nếu không xuất công năng [nhưng] nếu thân thể mẫn cảm, có thể thể hội ra được. Nếu đều không phải là hai loại trên, thì không có cách nào cảm giác được, chỉ cứ là [như] nhắm mắt mà luyện. Học viên chúng ta có 60%~70% đã khai thiên mục, có thể nhìn thấy; tôi đều biết. [Mặc dù] chư vị lẳng lặng không nói gì chỉ mở mắt nhìn; tại sao [tôi] bảo mọi người luyện công cùng nhau? Là muốn nội bộ trong nhóm nhỏ của chư vị trao đổi giao lưu với nhau. Nhưng mang trách nhiệm với công pháp, ra ngoài không được nói lung tung, giao lưu và đề cao với nhau trong nội bộ là được rồi.

弟子:法身甚麼樣?我自己有法身嗎?

Đệ tử: Pháp thân thậm ma dạng? Ngã tự kỷ hữu Pháp thân ma?

Đệ tử: Pháp thân như thế nào? Tự bản thân con có Pháp thân không?

師:法身長的和本人一樣。你現在沒有法身,等煉到一定成度,走出世間法,修煉進入極高成度,才能出法身。

Sư: Pháp thân trường đích hoà bản nhân nhất dạng. Nhĩ hiện tại một hữu Pháp thân, đẳng luyện đáo nhất định thành độ, tẩu xuất thế gian pháp, tu luyện tiến nhập cực cao thành độ, tài năng xuất Pháp thân.

Thầy: Pháp thân trông cũng như bản thân người đó. Hiện nay chư vị không có Pháp thân, đợi khi luyện tới trình độ nhất định, ra khỏi thế gian pháp, tu luyện tiến nhập tới mức độ cực cao, thì mới xuất Pháp thân.

弟子:傳授班結束後,老師的法身還能跟多久?

Đệ tử: Truyền thụ ban kết thúc hậu, Lão sư đích Pháp thân hài năng cân đa cửu?

Đệ tử: Sau khi kết thúc lớp truyền thụ, thì Pháp thân của Thầy vẫn có thể theo bao lâu?

師:一個學員一下子煉高層次上的東西,對他來說就是一個相當大的轉變,不是指思想轉變,而是指你整個人的轉變。因為一個常人突然得到了他作為常人不應該得到的東西,那是危險的,生命就要受到威脅,我的法身必須得保護他。如果我做不到這一點,而在這裏傳法,就是害人。好多氣功師不敢做、不敢傳,就是因為他負不了這個責任。我的法身會一直保護著你,一直到你修成。中途你不修了,法身自己就走了。

Sư: Nhất cá học viên nhất hạ tử luyện cao tầng thứ thượng đích đông tây, đối tha lai thuyết tựu thị nhất cá tương đương đại đích chuyển biến, bất thị chỉ tư tưởng chuyển biến, nhi thị chỉ nhĩ chỉnh cá nhân đích chuyển biến. Nhân vi nhất cá thường nhân đột nhiên đắc đáo liễu tha tác vi thường nhân bất ưng cai đắc đáo đích đông tây, na thị nguy hiểm đích, sinh mệnh tựu yếu thụ đáo uy hiếp, ngã đích Pháp thân tất tu đắc bảo hộ tha. Như quả ngã tố bất đáo giá nhất điểm, nhi tại giá lý truyền Pháp, tựu thị hại nhân. Hảo đa khí công sư bất cảm tố, bất cảm truyền, tựu thị nhân vi tha phụ bất liễu giá cá trách nhiệm. Ngã đích Pháp thân hội nhất trực bảo hộ trước nhĩ, nhất trực đáo nhĩ tu thành. Trung đồ nhĩ bất tu liễu, Pháp thân tự kỷ tựu tẩu liễu.

Thầy: Một học viên mà đột nhiên luyện những điều ở tầng thứ cao, đối với họ mà nói thì chính là chuyển biến rất to lớn, không phải nói về chuyển biến của tư tưởng, mà là chuyển biến của toàn thể cá nhân đó. Vì một người thường đột nhiên đắc được những điều mà một người thường như họ lẽ ra không có được, thế thì nguy hiểm, sinh mệnh sẽ chịu uy hiếp, Pháp thân của tôi ắt phải bảo hộ họ. Nếu tôi không làm nổi điều ấy, mà cứ truyền Pháp nơi đây, thì chính là hại người. Hằng bao nhiêu khí công sư không dám làm, không dám truyền, chính là vì họ không gánh nổi trách nhiệm ấy. Pháp thân của tôi sẽ luôn một mạch bảo hộ chư vị, một mạch cho tới khi chư vị tu thành. Nếu giữa chừng chư vị không tu nữa, thì Pháp thân sẽ tự mình rời đi.

弟子:老師說:普通人修行不是靠煉功,而是靠心性。是否可以說,只要心性高不要煉功也可以得正果?

Đệ tử: Lão sư thuyết: Phổ thông nhân tu hành bất thị kháo luyện công, nhi thị kháo tâm tính. Thị phủ khả dĩ thuyết, chỉ yếu tâm tính cao bất yếu luyện công dã khả dĩ đắc chính quả?

Đệ tử: Thầy nói rằng: Người bình thường tu hành là không phải bằng vào luyện công, mà là bằng vào tâm tính. Phải chăng có thể nói, chỉ cần tâm tính cao và không cần luyện công cũng có thể đắc ‘chính quả’?

師:按道理是這樣的,只要你修心性,德就可以轉化為功。但是,你必須把你當作煉功人。你不當作煉功人,只能積德積德,你可能積好多德,一味做好人去積德,即使把自己當作煉功人也不行,你還沒得高層次上的法。大家知道,我講出很多東西來,沒有師父保護你,你是很難修上去的,你一天都不能在高層次上煉功。所以要想得正果不是那麼容易的。但是,心性提高之後,同化於宇宙特性。

Sư: Án đạo lý thị giá dạng đích, chỉ yếu nhĩ tu tâm tính, đức tựu khả dĩ chuyển hoá vi công. Đãn thị, nhĩ tất tu bả nhĩ đương tác luyện công nhân. Nhĩ bất đương tác luyện công nhân, chỉ năng tích đức tích đức, nhĩ khả năng tích hảo đa đức, nhất vị tố hảo nhân khứ tích đức, tức sử bả tự kỷ đương tác luyện công nhân dã bất hành, nhĩ hài một đắc cao tầng thứ thượng đích Pháp. Đại gia tri đạo, ngã giảng xuất ngận đa đông tây lai, một hữu Sư phụ bảo hộ nhĩ, nhĩ thị ngận nan tu thượng khứ đích, nhĩ nhất thiên đô bất năng tại cao tầng thứ thượng luyện công. Sở dĩ yếu tưởng đắc chính quả bất thị na ma dung dị đích. Đãn thị, tâm tính đề cao chi hậu, đồng hoá ư vũ trụ đặc tính.

Thầy: Về lý thì đúng như vậy, chỉ cần chư vị tu tâm tính, ‘đức’ sẽ có thể chuyển hoá thành ‘công’. Nhưng, chư vị nhất định phải đặt mình làm người luyện công. Chư vị mà không [đặt mình] làm người luyện công, [thì] chỉ có thể tích đức tích đức, chư vị có thể tích nhiều đức lắm, thuần tuý làm người tốt đi tích đức, mà ngay cả đặt mình làm người luyện công cũng không được, [vì] chư vị còn chưa đắc Pháp tầng thứ cao. Mọi người biết, tôi giảng ra rất nhiều điều, không có Sư phụ bảo hộ chư vị, thì chư vị rất khó tu lên, chư vị ngay cả một ngày luyện công lên tầng thứ cao cũng không làm được. Cho nên muốn đắc chính quả không dễ thế đâu. Tuy nhiên, tâm tính khi đã đề cao, [thì] đồng hoá với đặc tính vũ trụ.

弟子:遙治的原理是甚麼?

Đệ tử: Dao trị đích nguyên lý thị thậm ma?

Đệ tử: Nguyên lý trị [bệnh] từ xa là gì?

師:道理很簡單,宇宙能大能小,功能發出去也是能大能小。我在原地沒有動,但功能發出去可以觸及到像在美國那麼遠的病人。可以把功打過去,也可以直接把他的元神調過來。這就是遙治的道理。

Sư: Đạo lý ngận giản đơn, vũ trụ năng đại năng tiểu, công năng phát xuất khứ dã thị năng đại năng tiểu. Ngã tại nguyên địa một hữu động, đãn công năng phát xuất khứ khả dĩ xúc cập đáo tượng tại Mỹ quốc na ma viễn đích bệnh nhân. Khả dĩ bả công đả quá khứ, dã khả dĩ trực tiếp bả tha đích nguyên thần điều quá lai. Giá tựu thị dao trị đích đạo lý.

Thầy: Đạo lý rất đơn giản, vũ trụ có thể phóng lớn thu nhỏ, công năng phát ra cũng có thể thành lớn thành nhỏ. Tôi ở nguyên chỗ này bất động, nhưng công năng phát ra có thể động chạm tới bệnh nhân xa như ở Mỹ quốc. Có thể đưa công năng tới đó, cũng có thể trực tiếp điều nguyên thần của người đó qua đây. Đó chính là đạo lý của trị [bệnh] từ xa.

弟子:能否知道會出多少種功能?

Đệ tử: Năng phủ tri đạo hội xuất đa thiểu chủng công năng?

Đệ tử: Có thể biết được có bao nhiêu loại công năng xuất ra hay không?

師:功能上萬種而不止,具體知道多少都是無關緊要的,知道這個理、這個法就成了,剩下的自己去煉。也沒必要知道那麼多東西,對你也沒有好處。師父找徒弟,收徒弟,那徒弟甚麼都不知道,也不告訴你,全靠自己去悟。

Sư: Công năng thượng vạn chủng nhi bất chỉ, cụ thể tri đạo đa thiểu đô thị vô quan khẩn yếu đích, tri đạo giá cá Lý, giá cá Pháp tựu thành liễu, thặng hạ đích tự kỷ khứ luyện. Dã một tất yếu tri đạo na ma đa đông tây, đối nhĩ dã một hữu hảo xứ. Sư phụ trảo đồ đệ, thu đồ đệ, na đồ đệ thậm ma đô bất tri đạo, dã bất cáo tố nhĩ, toàn kháo tự kỷ khứ ngộ.

Thầy: Công năng có hơn cả vạn loại, biết được cụ thể là bao nhiêu cũng không quan trọng, biết được Lý này, Pháp này là được rồi, còn lại chính là tự mình đi luyện. Cũng không tất yếu phải biết nhiều những cái kia đâu, đối với chư vị không có chỗ tốt. [Ngày xưa] sư phụ chọn đồ đệ, nhận đồ đệ, mà đồ đệ ấy không biết gì cả, cũng không bảo cho chư vị, toàn bằng tự mình ngộ.

弟子:我在班上閉眼睛能看到您在上面講課,上身是黑的,桌子也是黑的,後面布是粉色的,有時您周圍是一片綠光,這是怎麼回事兒?

Đệ tử: Ngã tại ban thượng bế nhãn tình năng khán đáo Nâm tại thượng diện giảng khoá, thượng thân thị hắc đích, trác tử dã thị hắc đích, hậu diện bố thị phấn sắc đích, hữu thời Nâm chu vi thị nhất phiến lục quang, giá thị chẩm ma hồi sự nhi?

Đệ tử: Tại lớp con nhắm mắt có thể thấy Ngài ở trên đó giảng bài, phần thân trên là đen, cái bàn cũng là đen, tấm màn phía sau là màu phấn, đôi lúc quanh Ngài là một mảng ánh sáng màu xanh lá cây, đó là chuyện gì?

師:這是你層次問題。因為天目剛開時會把白的看成黑的,黑的看成白的。稍微提高層次之後,看一切都是白的;再提高層次之後,顏色就分開了。

Sư: Giá thị nhĩ tầng thứ vấn đề. Nhân vi thiên mục cương khai thời hội bả bạch đích khán thành hắc đích, hắc đích khán thành bạch đích. Sảo vi đề cao tầng thứ chi hậu, khán nhất thiết đô thị bạch đích; tái đề cao tầng thứ chi hậu, nhan sắc tựu phân khai liễu.

Thầy: Đây là vấn đề tầng thứ của chư vị. Vì khi thiên mục mới khai mở sẽ nhìn trắng thành đen, nhìn đen thành trắng. Sau khi đề cao tầng thứ một chút, nhìn hết thảy đều là trắng; lại đề cao tầng thứ nữa, thì màu sắc sẽ phân biệt được ra.

五、魔難

Ngũ, Ma nạn

V. Ma nạn

弟子:魔難是師父對弟子安排的考驗嗎?

Đệ tử: Ma nạn thị Sư phụ đối đệ tử an bài đích khảo nghiệm ma?

Đệ tử: Ma nạn là khảo nghiệm do Sư phụ an bài cho đệ tử đúng không?

師:可以說是這麼回事。這是為了提高大家的心性而安排的。假如說,你心性沒達到那麼高就讓你修上去能成嗎?就像一個小學生,送他到大學裏去行嗎?我想那不成吧!你的心性沒得到真正提高,一切都不能看淡,都不能放下的時候,假如讓你修上去,你會為一點小事和覺者鬧起來,那不行!為甚麼把心性看的這麼重要,就是這個道理。

Sư: Khả dĩ thuyết thị giá ma hồi sự. Giá thị vi liễu đề cao đại gia đích tâm tính nhi an bài đích. Giả như thuyết, nhĩ tâm tính một đạt đáo na ma cao tựu nhượng nhĩ tu thượng khứ năng thành ma? Tựu tượng nhất cá tiểu học sinh, tống tha đáo đại học lý khứ hành ma? Ngã tưởng na bất thành ba! Nhĩ đích tâm tính một đắc đáo chân chính đề cao, nhất thiết đô bất năng khán đạm, đô bất năng phóng hạ đích thời hậu, giả như nhượng nhĩ tu thượng khứ, nhĩ hội vi nhất điểm tiểu sự hoà Giác Giả nháo khởi lai, na bất hành! Vi thậm ma bả tâm tính khán đích giá ma trọng yếu, tựu thị giá cá đạo lý.

Thầy: Có thể nói như thế. Đây là an bài để đề cao tâm tính của mọi người. Chẳng hạn như tâm tính chư vị chưa tu lên cao thế mà để chư vị tu lên đó thì có thể được chăng? Ví như một học sinh tiểu học, đưa vào đại học thì có được chăng? Tôi nghĩ là sẽ không được đâu! Khi mà tâm tính chư vị chưa hề đạt được đề cao chân chính, đối với mọi thứ không thể xem nhẹ nhàng đạm bạc và không thể buông bỏ, giả sử cứ để chư vị tu lên, [thế thì] chỉ vì chút việc nhỏ chư vị bèn nháo lên với các Giác Giả, thế là không được! Tại sao coi trọng tâm tính đến thế, chính là đạo lý này.

弟子:煉功人和常人的魔難有甚麼區別?

Đệ tử: Luyện công nhân hoà thường nhân đích ma nạn hữu thậm ma khu biệt?

Đệ tử: Ma nạn của người luyện công và của người thường có gì khác nhau?

師:我們煉功人和常人沒有甚麼區別。你的魔難是按煉功人的道路給你安排的,常人是在還常人的業,都有魔難,不是說你煉功就有了,常人就沒有了,都一樣會有。只不過你這個魔難是為了提高你的心性而設的;他的那個魔難是為了還清他的業而設的。其實魔難是自己的業力,我利用了一下來提高弟子心性。

Sư: Ngã môn luyện công nhân hoà thường nhân một hữu thậm ma khu biệt. Nhĩ đích ma nạn thị án luyện công nhân đích đạo lộ cấp nhĩ an bài đích, thường nhân thị tại hoàn thường nhân đích nghiệp, đô hữu ma nạn, bất thị thuyết nhĩ luyện công tựu hữu liễu, thường nhân tựu một hữu liễu, đô nhất dạng hội hữu. Chỉ bất quá nhĩ giá cá ma nạn thị vi liễu đề cao nhĩ đích tâm tính nhi thiết đích; tha đích na cá ma nạn thị vi liễu hoàn thanh tha đích nghiệp nhi thiết đích. Kỳ thực ma nạn thị tự kỷ đích nghiệp lực, ngã lợi dụng liễu nhất hạ lai đề cao đệ tử tâm tính.

Thầy: [Ma nạn của] người luyện công chúng ta và [của] người thường không có gì khác biệt. Ma nạn của chư vị là được an bài chiểu theo con đường của người tu luyện, còn người thường là hoàn trả nghiệp người thường, đều có ma nạn, không nói rằng chư vị luyện công liền có [ma nạn ấy], chứ người thường không có, đều có như nhau thôi. Chẳng qua ma nạn của chư vị được xếp đặt để đề cao tâm tính chư vị; còn ma nạn của họ được xếp đặt để hoàn trả hết nghiệp của họ. Thực ra ma nạn là nghiệp lực của tự mình, tôi lợi dụng để đề cao tâm tính của đệ tử.

弟子:魔難是不是像西天取經的那八十一難?

Đệ tử: Ma nạn thị bất thị tượng Tây Thiên thủ kinh đích na bát thập nhất nạn?

Đệ tử: Ma nạn phải chăng giống như 81 nạn đi Tây Thiên thỉnh kinh?

師:有點類似。煉功人的一生已經安排好了,不會多,也不會少。但不一定是八十一難。這要看你的根基能修多高,是根據你可能達到的水平而安排的。常人所具有的而煉功人應該去掉的那些東西,都要過一遍,的確是很苦的。你放不下的東西都要想方設法讓你放下,通過魔煉來提高你的心性。

Sư: Hữu điểm loại tự. Luyện công nhân đích nhất sinh dĩ kinh an bài hảo liễu, bất hội đa, dã bất hội thiểu. Đãn bất nhất định thị bát thập nhất nạn. Giá yếu khán nhĩ đích căn cơ năng tu đa cao, thị căn cứ nhĩ khả năng đạt đáo đích thuỷ bình nhi an bài đích. Thường nhân sở cụ hữu đích nhi luyện công nhân ưng cai khứ điệu đích na ta đông tây, đô yếu quá nhất biến, đích xác thị ngận khổ đích. Nhĩ phóng bất hạ đích đông tây đô yếu tưởng phương thiết pháp nhượng nhĩ phóng hạ, thông quá ma luyện lai đề cao nhĩ đích tâm tính.

Thầy: Có chút tương tự. Một đời của người luyện công đã được an bài xong rồi, sẽ không nhiều hơn, sẽ không ít hơn. Nhưng không nhất định là 81 nạn. Đây là xét theo căn cơ của chư vị có thể tu cao ngần nào, là căn cứ theo mức độ chư vị có thể đạt tới mà an bài. Những thứ mà người thường có nhưng người tu luyện cần phải trừ bỏ ấy, đều phải vượt qua một lượt, xác thực sẽ rất khổ đấy. Những gì chư vị chưa buông bỏ được thì đều tìm mọi cách để chư vị buông bỏ, thông qua ma luyện mà đề cao tâm tính chư vị.

弟子:煉功時有人破壞怎麼辦?

Đệ tử: Luyện công thời hữu nhân phá hoại chẩm ma biện?

Đệ tử: Khi luyện công có người phá hoại thì làm thế nào?

師:煉法輪功不怕別人破壞。在初期,有我的法身保護著你,但你不是絕對甚麼事都遇不到了。整天坐在沙發上,喝著茶水就長功,不是這樣的!有時你遇到魔難,喊我名字,看見我在你眼前,也許不幫你,那是因為你應該過的一關。但是你真正遇到危險時是會管你的。不過,一般這種真正的危險也不會存在,因為你那條路已經改變了,不允許意外的東西插進來。

Sư: Luyện Pháp Luân Công bất phạ biệt nhân phá hoại. Tại sơ kỳ, hữu ngã đích Pháp thân bảo hộ trước nhĩ, đãn nhĩ bất thị tuyệt đối thậm ma sự đô ngộ bất đáo liễu. Chỉnh thiên toạ tại sa phát thượng, hát trước trà thuỷ tựu trưởng công, bất thị giá dạng đích! Hữu thời nhĩ ngộ đáo ma nạn, hám ngã danh tự, khán kiến ngã tại nhĩ nhãn tiền, dã hứa bất bang nhĩ, na thị nhân vi nhĩ ưng cai quá đích nhất quan. Đãn thị nhĩ chân chính ngộ đáo nguy hiểm thời thị hội quản nhĩ đích. Bất quá, nhất ban giá chủng chân chính đích nguy hiểm dã bất hội tồn tại, nhân vi nhĩ na điều lộ dĩ kinh cải biến liễu, bất duẫn hứa ý ngoại đích đông tây sáp tiến lai.

Thầy: Luyện Pháp Luân Công không sợ người khác phá hoại. Thời kỳ đầu, có Pháp thân của tôi bảo hộ chư vị, tuy nhiên chư vị không phải là tuyệt đối sẽ không đụng phải gì cả. Cả ngày ngồi ghế sô-pha, uống trà rồi thì công tăng trưởng lên, không phải như thế đâu! Có lúc chư vị gặp ma nạn, gọi tên tôi, và nhìn thấy tôi ở trước mắt chư vị, có lẽ không giúp chư vị, đó là vì chư vị cần phải vượt qua quan [ải] ấy. Nhưng chư vị quả thật gặp lúc nguy hiểm thì [tôi] sẽ quản chư vị. Chẳng qua là, thông thường nguy hiểm thật sự ấy là sẽ không tồn tại, vì con đường của chư vị đã được cải biến rồi, không cho phép lọt vào những việc ngoài ý liệu.

弟子:怎樣對待魔難?

Đệ tử: Chẩm dạng đối đãi ma nạn?

Đệ tử: Đối đãi ma nạn như thế nào?

師:我反覆強調了,守住你的心性!做出的事你認為沒做壞就很好。特別是因為某種事別人侵犯了你的利益的時候,你也像常人一樣和他打起來,那你也就是常人了。因為你是煉功人,就不能那樣去對待。你所遇到干擾你心性的事情,都是在提高你的心性,就看你怎樣對待,看你能不能守住,看你能不能在這件事中提高你的心性。

Sư: Ngã phản phục cường điệu liễu, thủ trụ nhĩ đích tâm tính! Tố xuất đích sự nhĩ nhận vi một tố hoại tựu ngận hảo. Đặc biệt thị nhân vi mỗ chủng sự biệt nhân xâm phạm liễu nhĩ đích lợi ích đích thời hậu, nhĩ dã tượng thường nhân nhất dạng hoà tha đả khởi lai, na nhĩ dã tựu thị thường nhân liễu. Nhân vi nhĩ thị luyện công nhân, tựu bất năng na dạng khứ đối đãi. Nhĩ sở ngộ đáo can nhiễu nhĩ tâm tính đích sự tình, đô thị tại đề cao nhĩ đích tâm tính, tựu khán nhĩ chẩm dạng đối đãi, khán nhĩ năng bất năng thủ trụ, khán nhĩ năng bất năng tại giá kiện sự trung đề cao nhĩ đích tâm tính.

Thầy: Tôi đã nhấn mạnh nhiều lần rồi, hãy giữ vững tâm tính của chư vị! Việc làm ra mà chư vị tin tưởng rằng không làm sai thì [đó] là rất tốt. Nhất là những lúc vì việc nào đó mà người khác xâm phạm lợi ích của chư vị, chư vị cũng giống người thường đi gây lộn với họ, thế thì chư vị chính là người thường rồi. Vì chư vị là người luyện công, nên không được đối đãi như thế. Việc can nhiễu đến tâm tính chư vị mà chư vị đụng phải ấy, đều đang đề cao tâm tính của chư vị, chính là nhìn xem chư vị đối đãi như thế nào, nhìn xem chư vị có thể trụ vững hay không, nhìn xem chư vị có thể đề cao tâm tính chư vị trong sự việc đó hay không?

六、空間與人類

Lục, Không gian dữ nhân loại

VI. Không gian và nhân loại

弟子:宇宙有多少層次空間?

Đệ tử: Vũ trụ hữu đa thiểu tầng thứ không gian?

Đệ tử: Vũ trụ có bao nhiêu tầng thứ không gian?

師:據我所知,宇宙中有無數層次空間,對於更多層次空間的存在,以及那些空間中有甚麼,誰在那裏?以現有的科學方法是很難知道的,現代科學還不能做出實證。而我們一些氣功師和特異功能者能夠看到其它空間,因為看其它空間只能用天目看,而不能用肉眼看。

Sư: Cứ ngã sở tri, vũ trụ trung hữu vô số tầng thứ không gian, đối ư cánh đa tầng thứ không gian đích tồn tại, dĩ cập na ta không gian trung hữu thậm ma, thuỳ tại na lý? Dĩ hiện hữu đích khoa học phương pháp thị ngận nan tri đạo đích, hiện đại khoa học hài bất năng tố xuất thực chứng. Nhi ngã môn nhất ta khí công sư hoà đặc dị công năng giả năng cú khán đáo kỳ tha không gian, nhân vi khán kỳ tha không gian chỉ năng dụng thiên mục khán, nhi bất năng dụng nhục nhãn khán.

Thầy: Theo tôi biết, trong vũ trụ có vô số tầng thứ không gian, đối với sự tồn tại của nhiều tầng thứ không gian hơn, cũng như những không gian đó có gì, ai ở trong đó? Thì bằng phương pháp khoa học hiện nay rất khó biết được, khoa học hiện đại vẫn không thể làm ra chứng thực. Nhưng một số khí công sư chúng tôi và người có công năng đặc dị là có thể nhìn thấy không gian khác, vì chỉ có thể dùng thiên mục mới nhìn thấy không gian khác, chứ không thể dùng mắt thịt để nhìn.

弟子:各個空間都包含「真、善、忍」特性嗎?

Đệ tử: Các cá không gian đô bao hàm “Chân-Thiện-Nhẫn” đặc tính ma?

Đệ tử: Các không gian đều bao hàm đặc tính “Chân-Thiện-Nhẫn” phải không?

師:對,每個空間都包含「真、善、忍」的特性。順應這種特性的人,就是好人;背道而行的,就是壞人;同化於他的就是得道者。

Sư: Đối, mỗi cá không gian đô bao hàm “Chân-Thiện-Nhẫn” đích đặc tính. Thuận ưng giá chủng đặc tính đích nhân, tựu thị hảo nhân; bối đạo nhi hành đích, tựu thị hoại nhân; đồng hoá ư Tha đích tựu thị đắc Đạo giả.

Thầy: Đúng thế, mỗi từng không gian đều bao hàm đặc tính “Chân-Thiên-Nhẫn”. Người thuận với đặc tính này, chính là người tốt; còn hành xử trái đi, thì là người xấu; [ai] đồng hoá với Ông thì chính là người đắc Đạo.

弟子:最初的人類是從哪裏來的?

Đệ tử: Tối sơ đích nhân loại thị tùng nả lý lai đích?

Đệ tử: Nhân loại tối nguyên sơ là từ đâu tới?

師:最初的宇宙沒有這麼多的縱向層次,也沒有這麼多的橫向層次,它是很單一的。在它的發展運轉過程中產生了生命,也就是我們所說的最原始的生命,他和宇宙是同化的,沒有不好的東西存在。同化宇宙,就是和宇宙一樣,宇宙中的一切功能他都有。隨著宇宙的發展、演化,又出現了一些天國。往後,出現越來越多的生命,在我們低層次上講,就是形成了社會群體,相互之間發生了聯繫。在這個演變過程中,有些人發生了變化,偏離宇宙的特性越來越遠,變的不那麼好了,神通也就小了。所以煉功人要講「歸真」,就是回歸到原始狀態,層次越高,就越同化宇宙,本事就越大。這時在宇宙演化中一些生命變不好了,又不能毀滅他,就想辦法叫他再提高上去同化宇宙,讓他到較低的一個層次去,吃點苦,提高提高。後來不斷有人到這個層次來。以後在這個層次中又發生了分化,心性變的更不好的人,這個層次也留不住了,於是又創造了下一個層次。就這樣,越來越往下,逐漸分化,直到今天,產生了我們人類所在的這一層次。這就是人類的來源。

Sư: Tối sơ đích vũ trụ một hữu giá ma đa đích tung hướng tầng thứ, dã một hữu giá ma đa đích hoành hướng tầng thứ, tha thị ngận đơn nhất đích. Tại tha đích phát triển vận chuyển quá trình trung sản sinh liễu sinh mệnh, dã tựu thị ngã môn sở thuyết đích tối nguyên thuỷ đích sinh mệnh, tha hoà vũ trụ thị đồng hoá đích, một hữu bất hảo đích đông tây tồn tại. Đồng hoá vũ trụ, tựu thị hoà vũ trụ nhất dạng, vũ trụ trung đích nhất thiết công năng tha đô hữu. Tuỳ trước vũ trụ đích phát triển, diễn hoá, hựu xuất hiện liễu nhất ta thiên quốc. Vãng hậu, xuất hiện việt lai việt đa đích sinh mệnh, tại ngã môn đê tầng thứ thượng giảng, tựu thị hình thành liễu xã hội quần thể, tương hỗ chi gian phát sinh liễu liên hệ. Tại giá cá diễn biến quá trình trung, hữu ta nhân phát sinh liễu biến hoá, thiên ly vũ trụ đích đặc tính việt lai việt viễn, biến đích bất na ma hảo liễu, thần thông dã tựu tiểu liễu. Sở dĩ luyện công nhân yếu giảng “quy chân”, tựu thị hồi quy đáo nguyên thuỷ trạng thái, tầng thứ việt cao, tựu việt đồng hoá vũ trụ, bản sự tựu việt đại. Giá thời tại vũ trụ diễn hoá trung nhất ta sinh mệnh biến bất hảo liễu, hựu bất năng huỷ diệt tha, tựu tưởng biện pháp khiếu tha tái đề cao thượng khứ đồng hoá vũ trụ, nhượng tha đáo giảo đê đích nhất cá tầng thứ khứ, ngật điểm khổ, đề cao đề cao. Hậu lai bất đoạn hữu nhân đáo giá cá tầng thứ lai. Dĩ hậu tại giá cá tầng thứ trung hựu phát sinh liễu phân hoá, tâm tính biến đích cánh bất hảo đích nhân, giá cá tầng thứ dã lưu bất trụ liễu, ư thị hựu sáng tạo liễu hạ nhất cá tầng thứ. Tựu giá dạng, việt lai việt vãng hạ, trục tiệm phân hoá, trực đáo kim thiên, sản sinh liễu ngã môn nhân loại sở tại đích giá nhất tầng thứ. Giá tựu thị nhân loại đích lai nguyên.

Thầy: Vũ trụ tối [nguyên] sơ không có nhiều tầng thứ hướng dọc như thế này, cũng không có nhiều tầng thứ hướng ngang như thế này, nó rất là đơn nhất. Trong quá trình nó phát triển vận chuyển thì sản sinh các sinh mệnh, tức là điều mà chúng ta gọi là ‘sinh mệnh tối nguyên thuỷ’, họ là đồng hoá với vũ trụ, không tồn tại những thứ bất hảo. Đồng hoá vũ trụ, chính là cùng giống như vũ trụ, hết thảy công năng trong vũ trụ thì họ đều có. Thuận theo sự phát triển và diễn hoá của vũ trụ, bèn xuất hiện một số thiên quốc. Về sau xuất hiện càng ngày càng nhiều sinh mệnh hơn, tại tầng thứ thấp của chúng ta mà giảng, thì chính là hình thành các quần thể xã hội, và phát sinh những liên hệ với nhau. Trong quá trình diễn biến ấy, có những người đã phát sinh biến đổi, càng ngày càng rời xa đặc tính vũ trụ, biến thành không còn tốt như thế nữa, thần thông cũng nhỏ đi. Cho nên người luyện công phải giảng “quy chân”, chính là hồi quy về trạng thái nguyên thuỷ, tầng thứ càng cao, càng đồng hoá với vũ trụ, bản sự sẽ càng lớn. Bấy giờ trong sự diễn hoá của vũ trụ một số sinh mệnh biến thành bất hảo rồi, mà không thể huỷ diệt họ, bèn nghĩ biện pháp để họ đề cao trở lại đồng hoá với vũ trụ, để họ tới một tầng thứ thấp hơn, chịu chút khổ, đề cao đề cao. Sau này không ngừng có những người tới tầng thứ đó. Rồi sau đó ở tầng thứ đó phát sinh sự phân hoá, người mà tâm tính bất hảo hơn nữa, không ngụ tại tầng thứ đó được nữa, vì thế sáng tạo một tầng thứ thấp hơn nữa. Cứ như thế, càng ngày càng hạ xuống, dần dần phân hoá, một mạch cho tới hôm nay, sinh ra tầng thứ này nơi nhân loại chúng ta đang ở. Đó chính là [nguồn gốc] nguyên lai của nhân loại.


 

Phụ lục — Tra cứu từ ngữ

Tất cả các chú thích đều do người dịch viết theo nhận thức chủ quan, vậy nên chỉ có tác dụng tham khảo. Liệt kê trong phụ lục này chủ yếu là các từ ngữ Hán Việt. Có hai loại chính.

Thứ nhất, các thuật ngữ hay các từ ngữ thường gặp khi diễn đạt các khái niệm trong giới tu luyện nói chung và trong bổn môn Pháp Luân Đại Pháp nói riêng. Ví dụ: nguyên anh, huyền quan, công thân, thủ ấn, chu thiên. Người dịch nghĩ rằng các từ này không nên dịch mà nên dùng trực tiếp từ ngữ Hán Việt thì tốt hơn. Tại đây người dịch chỉ cố gắng diễn giải các từ theo chữ nghĩa bề mặt (chữ nghĩa) mà không can thiệp vào nội hàm cao thâm (hàm nghĩa). Xin đọc giả vui lòng thông qua học Pháp tu luyện, giao lưu tâm đắc thể hội mà ngộ ra nội hàm của Pháp.

Thứ hai, các từ hoặc các cụm từ khó dịch cho hết nhẽ, thường là các từ liên quan chặt chẽ đến văn hoá Trung Quốc hoặc gắn chặt vào cấu trúc ngôn ngữ tiếng Hán, do vậy trong từ vựng thuần Việt không có từ ngữ tương đương, hoặc nếu dịch ra thì khó truyền đạt được sức mạnh ngôn ngữ. Ví dụ: vật cực tất phản, đả bất hoàn thủ mạ bất hoàn khẩu, nan nhẫn năng nhẫn nan hành năng hành, tu tại tự kỷ công tại sư phụ. Tại đây người dịch chỉ diễn giải ngắn gọn đủ để hiểu đại khái. Mục đích là để đọc giả người Việt vượt qua được khoảng cách do văn hoá và ngôn ngữ khác biệt gây nên.

Đối với các tên riêng vốn có nguồn gốc là tiếng nước ngoài, không phải tiếng Hán, người dịch dùng tiếng gốc hoặc tiếng Anh, ví dụ: Afghanistan, Darwin, Galileo, neutron, neutrino. Tuy nhiên riêng với các từ ngữ có gốc tiếng Phạn (Sanskrit) thì người dịch giữ nguyên từ ngữ Hán Việt. Các từ ấy tuy gốc Phạn, nhưng đã được người Hoa dùng lâu rồi, một số từ cũng đã mang hàm nghĩa khác với gốc Phạn cổ xưa, vả lại người Việt đã quen với các từ tiếng Hán này; ví dụ: Thích Ca Mâu Ni, A Di Đà, niết bàn.

Các dấu nháy do người dịch chèn vào là các dấu nháy đơn ‘’ để khỏi lẫn với các dấu nháy kép “” ở nguyên tác.

A-Q: tên một nhân vật trong truyện A-Q chính truyện của Trung Quốc; thường được hiểu là một mẫu hình ngu ngốc.

an đỉnh thiết lư, thái dược luyện đan: lập đỉnh lư (lư đỉnh, lò luyện ()) chọn dùng thuốc (dược) để luyện đan (diễn trên chữ nghĩa bề mặt).

bách mạch giai thông: trăm mạch cùng thông, tất cả các kinh mạch đều thông cả; bách → 100, nói bách mạch hoặc trăm mạch là nói khái quát tất cả các đường khí mạch, thực ra số cách đường mạch lạc là nhiều hơn 100 rất nhiều.

bạch nhật phi thăng: bạch nhật → giữa ban ngày, phi thăng → bay lên.

ban vận: [công năng] di chuyển vật thể [từ xa]

bàn thối: xếp bằng, ngồi xếp bằng; bàn → cái bàn cái khay, thối → chân; đơn bàn: xếp bằng đơn, tức là chỉ xếp một chân lên chân kia; song bàn: xếp bằng đôi, toàn bàn, tức là hai chân gác lên nhau.

bản thể: thân thể nguyên bản ban đầu (kể cả không gian này và không gian khác). Người tu luyện có thể tu xuất ra các loại [thân] thể khác nhau, khi nói bản thể là ý nói về cái thân thể nguyên ban đầu (thân thể có được khi sinh ra, thân thể vốn có trước khi tu luyện).

bão luân: ôm (bão) bánh xe (luân).

bất thất bất đắc: không mất [thì] không được. đắc tựu đắc thất: được thì phải mất, được cái nọ ắt phải mất cái kia. bất thất giả bất đắc: [ai] mà không mất thì sẽ không được.

cách tường khán vật: [công năng] nhìn được vật cách qua bức tường, nhìn xuyên qua được vật chướng ngại (diễn nghĩa bề mặt).

câu thông: liên lạc, giao tiếp.

Chân-Thiện-Nhẫn: Chân → chân lý, chân thật, chân thành; Thiện → thiện lương, từ bi, hiền lành; Nhẫn → nhẫn nại, nhẫn chịu, nhường nhịn (đây chỉ là diễn đạt nghĩa bề mặt của từng chữ).

chính thường: bình thường, thông thường theo lẽ mà nó phải như thế.

chiều kim đồng hồ: khi nói về xoay chuyển của Pháp Luân hoặc động tác tay, tính chiều kim đồng hồ là theo người đứng trước mặt người luyện công mà nhìn vào người luyện công. Cũng có thể tạm hiểu Pháp Luân tựa cái đồng hồ ở khu vực đan điền với mặt đồng hồ quay ra ngoài, từ đó mà tham chiếu chiều quay.

chú ngữ: lời chú [quyết], câu chú.

chuyên nhất: chỉ chuyên về một thứ, trong ngữ cảnh tu luyện là nói rằng chỉ tu luyện một công pháp, không tạp lẫn với những cái khác.

công lýcông pháp: theo tập quán, người ta gọi phần lý luận, lý thuyết của bài tập công là công lý, và phần động tác là công pháp.

cường hoá: làm cho mạnh mẽ hơn.

dặm: một dặm ngày xưa là khoảng 0,5km.

dao thị: [công năng] nhìn từ xa (diễn nghĩa bề mặt); dao hoặc đọc là diêu → từ xa.

đả bất hoàn thủ, mạ bất hoàn khẩu: bị đánh không đấm trả, bị mắng chửi mạ lỵ cũng không nói lại.

đại Đạo chí giản chí dị: đại Đạo là giản dị nhất, Đạo lớn giản dị lắm. (diễn nghĩa bề mặt)

Đạo gia: công pháp tu Đạo nói chung; gia → nhà.

đê linh: linh thể (linh) ở tầng thứ thấp (đê).

đốn ngộ: ngộ ra lập tức, tức thời; trái với tiệm ngộ là ngộ ra từ từ, dần dần. (diễn trên chữ nghĩa)

động công: nói về luyện công trong trạng thái động.

đơn truyền: truyền cho một đệ tử, sư phụ truyền thụ cho một đệ tử chứ không phải truyền dạy nhiều đệ tử cùng lúc; công pháp đơn truyền là môn pháp truyền qua các đời theo cách đơn truyền như vậy.

giới tửu: cấm rượu. Lưu ý, bia trong tiếng Hán là ‘ti tửu’, rượu vang trong tiếng Hán là ‘bồ đào tửu’, trên mặt chữ mà xét, là cũng thuộc về rượu.

hoãn mạn viên: hoãn → từ tốn, mạn → chậm rãi, viên → tròn trịa.

hoành quan hoặc hồng quan: quan cảnh, quan sát ở mức lớn hơn, ở tầng với lạp tử lớn hơn; trái nghĩa là vi quan. So sánh tương đối thì thế giới ở tầng phân tử là hoành quan hơn so với thế giới ở tầng nguyên tử.

hữu tâm luyện công vô tâm đắc công: có tâm về việc luyện công, không có tâm vào việc đắc công (diễn chữ nghĩa).

khí cơ: cơ chế khí.

kỳ kinh bát mạch: nói về 12 đường kinh chính và 8 mạch, đôi khi là để nói về các kinh mạch nói chung. Theo truyền thống, khi nói cụ thể về các lưu thông của năng lượng thì thuật ngữ kinh hoặc kỳ kinh là nói về 12 đường kinh, liên quan tới bên trong (lục phủ ngũ tạng) với các chi bên ngoài (tay và chân); còn thuật ngữ mạch hoặc bát mạch là về 8 đường mạch. Trong sách có đề cập đến mạch Nhâm (chạy thẳng giữa thân người ở dưới da phía trước) và mạch Đốc (chạy thẳng giữa thân người dưới da sau lưng), nếu nối lại thì thành một vòng kín (tiểu chu thiên). Khi nói một khái quát chung chung, thì thuật ngữ kinh mạch, lạc mạch, bách mạch (trăm mạch), v.v. là chỉ các đường lưu thông nói chung, và nếu kể cả những đường rất nhỏ thì có rất nhiều, hàng nghìn hàng vạn.

lạp tử: các hạt, kiểu như phân tử, nguyên tử, neutrino,…

liên hoa chưởng: bàn tay sen; bàn tay duỗi tự nhiên với ngón tay giữa hơi nhíu vào trong, các ngón tay không khít vào nhau, cần nhìn thật kỹ hình chụp, băng hình để làm cho đúng.

ma luyện: chữ ma này là chữ ma trong từ ma tính, ma nạn,…

nãi bạch thể: thân trắng sữa; nãi → sữa.

nguyên thần ly thể: nguyên thần rời khỏi (ly khai) thân thể.

nhất chính áp bách tà: một điều ngay chính trấn áp cả trăm thứ tà (diễn nghĩa bề mặt). tâm chính áp bách tà: tâm chính thì trăm thứ tà đều bị áp chế.

nhất mạch đới bách mạch: một đường mạch vận chuyển dẫn theo tất cả các đường mạch khác vận chuyển theo.

nhục thân hoặc nhục thể: thân thể xác thịt.

nội hàm: hàm nghĩa, ý nghĩa, những thứ ở bên trong, chứ không phải là biểu diện là những thứ ở bề ngoài.

Pháp Luân: bánh xe (luân) Pháp (diễn nghĩa bề mặt).

phản tu: tu ngược (diễn nghĩa bề mặt).

Phật gia: nhà Phật, công pháp tu Phật nói chung; gia → nhà.

Phật giáo: tôn giáo của nhà Phật, công pháp thuộc Phật gia mà hình thành tôn giáo thì được coi là thuộc về Phật giáo. Người Việt ta thường hiểu Phật giáo đồng nghĩa với Thích giáo (tôn giáo có gốc gác từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni).

phụ thể: bám vào (phụ) thân thể (thể).

quan: quan ải, cửa ải, thường có nghĩa là khảo nghiệm, thử thách; quá quan tức là vượt quan, vượt qua khảo nghiệm, thử thách; một số huyệt vị quan trọng cũng được gọi là quan, hoặc đại quan.

quyết: trong sách này nghĩa là bài khẩu quyết, nhẩm đọc (mặc niệm) một lần trước mỗi bài công pháp. Chú ý: do đặc điểm của khẩu quyết cũng như các câu chú khác, học viên cần nghe trực tiếp tiếng Hán và phát âm tiếng Hán cũng như lặp theo phát âm Hán (có trong băng tiếng nhạc nền bài tập). Các phần phiên âm, phiên dịch hay diễn nghĩa chỉ để tham khảo cho dễ hiểu. Diễn ý theo nghiã bề mặt chữ đại khái các câu quyết của năm bài công pháp như sau.

1. Fó zhǎn qiānshǒu fǎ (phúa trản triên sấu phả) (Phật Triển Thiên Thủ pháp, bài công pháp Phật mở nghìn tay): Shēnshén héyī (sân sấn khứa y) (thân thần hợp nhất, thân và thần hợp làm một), Dòngjìng suíjī (tụng chịnh xuấy chi) (động tĩnh tuỳ cơ, động-tĩnh thế nào là tuỳ theo [khí] cơ), Dǐngtiān dúzūn (tỉnh thi-an tú dzun) (đỉnh thiên độc tôn, to lớn như đỉnh trời với sự cao quý độc nhất), Qiānshǒu Fó lì (triên sẩu phúa lị) (thiên thủ Phật lập, Phật lập ra nghìn tay).

2. Fǎlún zhuāng fǎ (phả luấn troang phả) (Pháp Luân Trang pháp, bài công pháp Pháp Luân đứng): Shēng huì zēng lì (sâng khuậy dzâng lị) (sinh huệ tăng lực, nảy sinh trí huệ tăng cường lực), Róng xīn qīng tǐ (rúng xin trinh thỉ) (dung tâm khinh thể, tâm bao dung thân thể nhẹ nhàng), Shì miào shì wù (sự mi-ạo sự ụ) (tự diệu tự ngộ, như là kỳ diệu như là ngộ), Fǎlún chū qǐ (phả luấn chu chỉ) (Pháp Luân sơ khởi, Pháp Luân bắt đầu khởi [động]).

3. Guàntōng liǎngjí fǎ (quạn thông li-ẻng chí phả) (Quán Thông Lưỡng Cực pháp, bài công pháp thông suốt hai cực): Jìnghuà běntǐ (chịnh khoạ bấn thỉ) (tịnh hoá bản thể), Fǎ kāi dǐng dǐ (phả kai tính tỉ) (Pháp khai đỉnh để, Pháp khai mở trên đỉnh và dưới đáy), Xīn cí yì měng (xin tsứ y mẩng) (tâm từ ý mãnh, tâm từ [bi] ý mạnh mẽ), Tōngtiān chè dì (thông thi-an chựa tị) (thông thiên triệt địa, thông lên trời và xuống tận đáy đất).

4. Fǎlún zhōutiān fǎ (phả luấn trâu thi-an phả) (Pháp Luân Chu Thiên pháp, bài công pháp Pháp Luân chu thiên): Xuánfǎ zhì xū (xoán phả chị xư) (toàn Pháp chí hư, quay Pháp [Luân] đến tận hư [không]), Xīn qīng sì yù (xin trinh sự uỳ) (tâm thanh tự ngọc, tâm thanh [tịnh] như ngọc), Fǎnběn guīzhēn (phán bẩn qui trân) (phản bổn quy chân), Yōuyōu shì qǐ (iêu iêu sự trỉ) (du du tự khởi, từ từ dâng lên).

5. Shéntōng jiāchí fǎ (sấn thông chi-a chí phả) (Thần Thông Gia Trì pháp, bài công pháp gia trì thần thông): Yǒuyì wúyì (yểu ị ú ị) (hữu ý vô ý, ý như có như không), Yìn suí jī qǐ (ìn xuấy chi trỉ) (ấn tuỳ cơ khởi, [thủ] ấn là chuyển động tuỳ theo [khí] cơ), Sì kōng fēi kōng (sự kông phây kông) (tự không phi không, như là không như là chẳng phải không), Dòngjìng rúyì (tụng chịnh rú ị) (động tĩnh như ý, động-tĩnh thế nào ấy là như ý).

sở cầu: chỗ truy cầu. hữu sở cầu: có truy cầu, mang tâm truy cầu. vô sở cầu: không có truy cầu.

sơn căn: huyệt vị ở gốc mũi, dưới chân mày.

vô tỷ: không gì sánh được.

tam hoa tụ đỉnh: ba bông hoa tụ trên đỉnh đầu.

tâm chính tà bất xâm: tâm mà ‘chính’ thì tà không xâm nhiễu được.

tá công: mượn công (diễn nghĩa bề mặt).

tải thể: thể truyền tải, có tác dụng truyền tải.

tân trần đại tạ: quá trình cái mới thay cho cái cũ kiểu như tế bào cũ già lão và bị đào thải và được thay thế bằng tế bào mới.

tay: trong sách này, chúng tôi thống nhất cách dịch các bộ phận như sau: cánh tay, hoặc tay là chỉ ‘tay’ nói chung (thủ, arm); bắp tay là đoạn từ vai đến khuỷu (đại tý, upper arm); cẳng tay là đoạn từ cùi chỏ đến bàn tay (tiểu tý, forearm).

tên động tác: diễn trên chữ nghĩa đại khái tên các động tác trong sách. Đọc giả cần quan sát thật kỹ hình chụp, băng hình để làm cho đúng. Jiéyìn (chía ịn) (kết ấn) → thế tay ‘kết ấn’. Mílè shēnyāo (mí lựa sân i-ao) (Di Lặc thân yêu) → Di Lặc duỗi lưng. Rúlái guàndǐng (rứ lái quạn tỉnh) (Như Lai quán đỉnh) → Như Lai quán đỉnh. Héshí (khứa sứ) (hợp thập) hoặc Shuāngshǒu héshí (soang sẩu khứa sứ) (song thủ hợp thập) → thế tay ‘hợp thập’, hai tay làm hình chữ thập, chắp tay trước ngực. Zhǎng zhǐ qiánkūn (tráng trỉ triến kuân) (chưởng chỉ càn khôn) → tay chỉ trời tay chỉ đất, tay chỉ càn khôn trời đất. Jīn hóu fēnshēn (chin khấu phân sân) (kim hầu phân thân) → khỉ vàng phân thân. Shuānglóng xiàhǎi (soang lúng xi-ạ khải) (song long hạ hải) → hai rồng xuống biển. Púsà fú lián (p’ú xạ phú liến) (Bồ Tát phù liên) → Bồ Tát vịn hoa sen. Luóhàn bèishān (lúa khạn pây san) (La Hán bối sơn) → La Hán vác núi. Jīngāng pái shān (chin cang pái san) (Kim Cương bài sơn, Kim Cang bài sơn) → Kim Cương đẩy núi, Kim Cang đẩy núi. Dié kòu xiǎofù (tiế kậu xi-áo phụ) (điệp khấu tiểu phúc) → xếp trùng hai tay (khẩu) ở bụng dưới. Tóuqián bàolún (thấu triến pạo luấn) (đầu tiền bão luân) → ôm bánh xe trước đầu, ôm bánh xe trước mặt. Fù qián bào lún (phụ triến pạo luấn) (phúc tiền bão luân) → ôm bánh xe trước bụng. Tóudǐng bàolún (thấu tỉnh pạo luấn) (đầu đỉnh bão luân) → ôm bánh xe trên đỉnh đầu. Liǎngcè bàolún (li-ẻng tsựa pạo luấn) (lưỡng trắc bão luân) → ôm bánh xe hai bên. Dān shǒu chōng guàn (tan sẩu trung quạn) (đơn thủ xung quán) → xung lên và quán xuống riêng từng tay. Tóngshí chōng guàn (thống sứ trung quạn) (đồng thời xung quán) hoặc Shuāngshǒu chōng guàn (soang sẩu trung quạn) (song thủ xung quán) → hay tay đồng thời lên xuống (xung quán). Shuāngshǒu tuīdòng fǎlún (soang sẩu thuây tụng phả luấn) (song thủ suy động Pháp Luân) → hai tay đẩy chuyển động Pháp Luân. Dǎ shǒuyìn (tả sẩu ịn) (đả thủ ấn) → làm động tác thủ ấn, động tác tay ấn. Shǒuyìn zhī yī, èr, sān, sì (sẩu ịn chi y, ạr, xan, sự) (thủ ấn chi nhất, nhị, tam, tứ) → động tác tay thủ ấn thứ một, hai, ba, bốn. Jiāchí (chi-a trí) (gia trì) → gia cường duy trì [thần thông]. Jiāchí qiú zhuàng shéntōng (chi-a trí tríu troạng sấn thông) (gia trì cầu trạng thần thông) → gia trì thần thông hình cầu. Jiāchí zhù zhuàng shéntōng (chi-a trí trụ troạng sấn thông) (gia trì trụ trạng thần thông) → gia trì thần thông hình trụ.

thập phương thế giới: thế giới mười phương.

thất phu: người dân thường.

thất tình lục dục: bẩy thứ tình cảm sáu thứ ham muốn, chỉ những tình cảm ham muốn nói chung.

thấu thị: [công năng] nhìn xuyên qua, nhìn thấu qua (diễn nghĩa bề mặt).

thấu thị nhân thể: [công năng] nhìn được bên trong thân thể người (diễn nghĩa bề mặt).

thể: chữ này có nhiều nghĩa; theo người dịch có một nghĩa chung trong các từ: nhân thể, Phật thể, Thiên thể, vật thể, phụ thể, bản thể, tải thể, sinh mệnh thể, nãi bạch thể, tịnh bạch thể, v.v. Trường hợp ấy, người dịch bảo lưu tiếng Hán; ngoại lệ: nhân thể → thân thể người, sinh mệnh thể → thể sinh mệnh, tùng quả thể → thể tùng quả.

thể tùng quả hoặc tùng quả thể: tuyến tùng, cơ quan có hình dạng quả cây tùng, hình nón thông ở trong não, khoảng giao hội của hai bán cầu đại não + tiểu não + tuỷ sống (theo y học hiện đại).

Thích giáo: tôn giáo có nguồn gốc từ đức Phật Thích Ca Mâu Ni (kiểu như người Hoa nói Lão giáo hoặc Khổng giáo là tôn giáo, giáo lý có nguồn gốc từ đức Lão Tử hoặc đức Khổng Tử).

thiên sai hoặc thiên hoặc xuất thiên: lệch lạc, sai lệch; chữ thiên nghĩa là thiên lệch.

Thiên Lý: Đạo Lý của Trời.

thước: đơn vị đo truyền thống của Trung Quốc, khoảng 33cm.

thường chuyển: vận chuyển, chuyển động mãi; cái gì lâu dài mãi mãi là thường, còn tạm thời mà không có tính lâu dài thì là vô thường.

thượng sư: thầy, sư phụ ở [cõi] trên.

thượng sỹ văn Đạo, cần nhi hành chi; trung sỹ văn Đạo, nhược tồn nhược vong; hạ sỹ văn Đạo, đại tiếu chi; bất tiếu bất túc dĩ vi Đạo: kẻ sỹ bậc thượng mà nghe được Đạo liền chuyên cần thực hành; kẻ sỹ bậc trung mà nghe Đạo thì cái còn cái mất; loại người bậc hạ mà nghe Đạo liền phá ra cười, không cười thì chưa đủ là Đạo. Đây là câu của Lão Tử. Từ thượng sỹ hay hạ sỹ trong giới tu luyện cũng là từ câu này mà ra.

thượng thừa: cao cấp.

trung thừa: trung cấp.

tiệm ngộ: ngộ ra từ từ, dần dần; trái với đốn ngộ là ngộ ra lập tức, tức thời. (diễn trên chữ nghĩa)

tĩnh công: nói về luyện công trong trạng thái tĩnh.

tịnh bạch thể: thân thể trắng tịnh.

trạm trang: bài tập với tư thế đứng tĩnh [thời gian lâu]; Pháp Luân Trang pháp là một bài công pháp thuộc loại trạm trang này.

Trung Y: (a) y học Trung Quốc, người Việt ta quen gọi là Đông Y; (b) thầy thuốc Đông Y.

tuỳ kỳ tự nhiên: thuận theo tự nhiên, không truy cầu, không cưỡng cầu.

vạn, chữ vạn (): hình phù hiệu chữ vạn (vạn tự phù).

vạn vật giai hữu linh: vạn vật đều có linh [tính].

vi lạp: các hạt nhỏ, kiểu như phân tử, nguyên tử, neutrino,…

vi quan: quan cảnh, quan sát ở mức nhỏ hơn, ở tầng với lạp tử nhỏ hơn; trái nghĩa là hoành quan hoặc hồng quan. So sánh tương đối thì thế giới ở tầng nguyên tử là vi quan hơn so với thế giới ở tầng phân tử.

vong ngã: quên đi chính mình, trạng thái mà lúc đó không ý thức được cái tôi (diễn nghĩa bề mặt); vong → quên; ngã → [cái] tôi.

Falun Gong, Vietnamese translation, 2013 ■