Falundafa.org

Giảng Pháp tại Hội giao lưu Quốc tế tại Bắc Kinh [1996]

Lý Hồng Chí
Ngày 11 tháng 11 năm 1996

Tôi biết tâm tình của mọi người, tôi cũng rất nhớ mọi người. Nhưng tôi bảo chư vị, chỉ cần chư vị tu luyện cho tốt, thì tôi luôn luôn ở bên cạnh chư vị. Rất nhiều học viên tu rất tốt, tôi cũng biết. Rất nhiều học viên sắp sửa khai ngộ.

Thời kỳ gần đây tôi đã giảng cho các học viên như thế này, tôi nói rằng đắc được Pháp này thật không dễ dàng. Có thể có người cảm thấy rằng mình chỉ là [do] nghe được tin tức, hoặc là bạn bè bảo cho mình biết, ngẫu nhiên đọc được cuốn sách này, hoặc là đọc được tin tức trên báo, thì mình bèn đến, từ đó trở đi đã bước vào con đường tu luyện Đại Pháp này. Kỳ thực chư vị chớ thấy rằng quá đơn giản, chư vị chớ thấy rằng trên bề mặt đắc được Pháp này dường như quá dễ dàng, bởi vì rất ít [trường hợp] có một vị Thần tiên đến bảo chư vị đắc Pháp, đại đa số đều là [đắc Pháp dưới] hình thức người thường như thế này, rất bình thường là biết được rồi. Nhưng tôi bảo chư vị, chư vị vì để đắc được Pháp này, lại rất là không dễ dàng, cũng có thể những khổ cực mà chư vị phải chịu trong nửa đời trước đây đều là vì để đắc Pháp này, đó là điều chư vị biết; còn có những điều chư vị không biết, cũng có thể trong mấy đời trước của chư vị thậm chí thời gian lâu hơn nữa, đều là vì để đắc Pháp này mà chịu khổ, chịu tội. Còn có người vì để đắc Pháp này mà đã phải chịu đựng thống khổ lớn hơn nữa, điều này chư vị không biết. Tương lai sau khi chư vị viên mãn, chư vị sẽ biết, cũng sẽ nhìn thấy, rất không dễ dàng. Pháp này mọi người đã hiểu khá rõ ràng rồi, vì sao mọi người có thể tu luyện như thế này? Chính là bởi vì chư vị đã biết rằng Pháp này không phải là Pháp thường. Quá khứ trong Phật giáo, Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ được rất nhiều thứ, ông cũng lưu lại cho con người rất nhiều thứ. Nhưng người ta trong quá trình kế thừa những thứ mà Phật Thích Ca Mâu Ni lưu lại cho con người, đã dần dần đánh mất đi rất nhiều, hơn nữa những ghi chép trong kinh sách cũng có người sửa đổi, cải biến. Trong các loại phiên bản kinh sách Phật giáo [khác nhau] thì cùng một sự việc giống nhau được viết ra rất khác nhau, đây cũng là một nhân tố khiến cho những thứ Phật Thích Ca Mâu Ni truyền đi vào [thời] mạt Pháp. Đương nhiên còn có những nguyên nhân khác khiến nó đi vào thời kỳ mạt Pháp.

Xã hội ngày nay đã tương đối phức tạp rồi, càng không thể khiến con người tu luyện được nữa. Tôi nói bộ Pháp tôi truyền đây là Pháp rất lớn, điểm này các học viên có thể đã thể [nghiệm và quan] sát được rồi. Trong lịch sử không có ai dạy Pháp lý vũ trụ chân chính cho con người một cách hệ thống cả, lại còn bảo cho con người tu luyện như thế nào, như thế nào để có thể tu lên trên. Đương nhiên, Thích Ca Mâu Ni là Phật, lời Ông giảng ra là có mang theo Phật tính. Nhưng tôi bảo mọi người, Phật Thích Ca Mâu Ni xác thực chưa từng giảng cho con người Pháp căn bản của vũ trụ, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni lúc cuối đời đã nói: “Ta chưa từng giảng Pháp nào hết”, cuối cùng còn bảo đệ tử “lấy Giới làm thầy”. Vì sao như vậy? Chính là bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni biết vào thời kỳ mạt Pháp tối hậu sẽ xuất hiện hiện tượng, [đó là] Pháp mà ông truyền sẽ bị làm loạn. Ông bảo đệ tử của mình rằng: “Chỉ cần chư vị chiểu theo giới luật ta giảng mà tu, thì chư vị sẽ có thể đạt đến tiêu chuẩn của người tu luyện, sẽ có thể viên mãn”, cho nên [điều mà] Ông thực sự lưu lại cho con người chính là giới luật.

Đương nhiên, Thích Ca Mâu Ni cũng là Phật, lời Ông giảng có mang theo Phật tính, cho nên những lời Ông giảng ra chư vị không thể nói rằng Nó không phải là Pháp, tuy nhiên Nó không phải là Đại Pháp căn bản, Thiên Lý tối cao của vũ trụ. [Pháp mà] hôm nay tôi lưu lại cho mọi người lại là bắt đầu từ trình độ người thường này, có thể nói là một mạch cho đến Pháp tối cao trong vũ trụ này, đều bao quát cả [trong Pháp này]. Có điều người thường nhìn không thấy được từ bề mặt cuốn sách “Chuyển Pháp Luân” này, bởi vì người không muốn tu luyện lật xem một lượt là xong, suy nghĩ của họ sau khi xem xong cuốn sách này là: “Đây là một cuốn sách dạy người ta làm người như thế nào”, đọc lần đầu tiên đều có cảm giác này. Lúc mới đầu chư vị tu luyện có lẽ đều có cảm giác này. Nhưng khi chư vị xem lần thứ hai, chư vị sẽ phát hiện Nó lại không phải là chuyện đó nữa. Những câu hỏi nảy ra trong tư tưởng sau khi chư vị xem xong lần đầu, khi xem lần thứ hai đều có thể được giải quyết, đồng thời chư vị phát hiện đây không phải là một cuốn sách của người thường, nhưng chư vị không nhất định có thể kết luận được đây là gì. Nhưng khi chư vị tiếp tục xem lần thứ ba, chư vị phát hiện Nó là một cuốn sách tu luyện chân chính. Nếu chư vị có thể xem bốn lần, năm lần, thì từ đó về sau cuốn sách này sẽ đi theo chư vị suốt cuộc đời, chư vị sẽ không buông [Nó] ra.

Vì sao như vậy? Bởi vì tôi đã từng giảng, dùng đạo lý của người thường để chỉ đạo chư vị tu luyện đến cảnh giới của Phật là điều không thể. Nhưng nội hàm của cuốn sách này vô cùng lớn, cùng một câu nói ở các tầng thứ khác nhau, các cảnh giới khác nhau chư vị sẽ có cảm thụ khác nhau, lý giải khác nhau, còn ở các sách vở bình thường của người thường tuyệt đối sẽ không có loại cảm thụ này, bởi vì có rất nhiều điều ảo diệu ở bên trong. Tôi chưa hề triển hiện thần thông gì cho mọi người, thậm chí tôi trị bệnh cho con người đều là vì để phù hợp với tình huống của khí công đương thời mà làm, nếu không thì ngay cả trị bệnh tôi cũng không làm. Chư vị nếu muốn tu luyện, khiến thân thể chư vị cải biến, khiến chư vị tu xuất ra tất cả Phật Pháp thần thông, khiến cho tầng thứ của chư vị không ngừng đề cao, bao gồm tất cả những gì đắc được sau khi viên mãn, tôi đều đã dung [nhập] vào trong Pháp lý này. Chư vị chỉ cần học thì thân thể chư vị sẽ biến đổi, chư vị chỉ cần xem [sách] thì tư tưởng chư vị sẽ thăng hoa, chư vị chỉ cần tu thì ở trong các cảnh giới khác nhau chư vị sẽ có thể đắc được những trạng thái trong các cảnh giới khác nhau, nếu có thể đọc đến cuối cùng, thế thì chư vị sẽ có thể [đạt] viên mãn theo sự chỉ đạo của cuốn sách này. Chính là cuốn sách như vậy, nhưng nội hàm bác đại tinh thâm của Nó thì người thường lại không nhìn thấy được.

Đương nhiên trong này còn có một vấn đề, tất cả những người đã đắc Pháp ngồi tại đây, tất cả những người tu luyện trong Đại Pháp đều biết, chư vị trong quá trình tu luyện đã thể ngộ được rồi, trong các cảnh giới khác nhau, tầng thứ khác nhau cũng đều đã cảm thụ được những nội hàm khác nhau của Nó rồi, cho nên tôi vừa mới nói rằng Pháp này không phải là một Pháp thông thường, Nó là đặc tính của vũ trụ, tôi đã đem những thứ tối căn bản của vũ trụ truyền cấp cho con người. Đương nhiên việc [tôi] làm đây là rất lớn. Tôi cứ luôn nhấn mạnh rằng Đại Pháp, Đại Pháp, có thể có người cho rằng [do] nội dung tôi giảng rất nhiều, [nên] gọi Nó là “Đại Pháp”, kỳ thực không phải vậy. [Ý] tôi nói rằng, hàm nghĩa của Đại Pháp này [rất] cao thâm.

Các học viên tu luyện tại cảnh giới rất cao sẽ nhìn thấy một loại cảnh tượng, sẽ phát hiện không chỉ có con người đang học Đại Pháp, mà sinh mệnh ở cảnh giới rất cao cũng đều đang học, Pháp này thực sự là quá lớn. [Mọi người] ngồi đây đều là có duyên phận, chư vị mới đắc được Pháp này. Tôi vẫn là câu nói ấy: Không phải mỗi người đều có thể nghe được Pháp này. Chư vị luyện công tại công viên lớn như thế, người qua người lại, có người chính là không nhìn thấy, có người ngay cả tới rồi họ cũng nghe không lọt, cho nên họ vẫn là không đắc được gì cả, không phải nói rằng ai ai cũng đều có thể đắc được. Có người vừa xem sách đã cảm thấy tốt, có người xem rồi nhưng không tiếp thụ được, con người chính là khác nhau, nhưng ở đây cũng là có nguyên nhân. Tôi vừa giảng rồi, bởi vì cuốn sách này không phải là sách của người thường. Tôi cũng giảng như thế này ở Mỹ quốc: Đại Pháp này vì sao có thể chỉ đạo con người tu luyện đến cảnh giới rất cao? Bởi vì Pháp này, nhìn ở tầng thứ rất thấp thì mỗi câu giảng ra đều là đạo lý, nhưng nếu chư vị có thể nhìn thấy tình huống chân thực của Nó, sẽ phát hiện mỗi chữ đều là hình tượng Phật. Nếu chư vị có thể tu được rất cao, thiên mục của chư vị cũng có thể nhìn được rất cao, chư vị sẽ phát hiện một hiện tượng: đằng sau mỗi chữ đều là hiển hiện của tầng tầng lớp lớp vô số các Phật ở tầng thứ khác nhau, mọi người nghĩ thử xem [Pháp] này có nội hàm cao nhường nào? Vì sao một câu nói trong các cảnh giới khác nhau lại có sự biến hóa với trạng thái khác nhau, [và tại sao] trong các tầng thứ khác nhau thì Lý của toàn bộ Pháp này đều biến [hóa]? Chính là như vậy đó, cho nên mọi người đừng coi cuốn sách này như một cuốn sách người thường, nhất định phải trân quý Nó.

Người trong quá khứ nói đến Phật sẽ sinh khởi tâm kính ngưỡng vô hạn, ở trong trạng thái vô cùng thù thắng mà nói về Phật, Bồ Tát, La Hán. Nhưng con người ngày nay nói đến Phật thì là thuận miệng mà nói, vô cùng tùy tiện, như thể rất bình thường, đó là do nhân loại đã phát triển đến [giai đoạn] không tin có Thần mà tạo thành. Bởi vì Phật không phải là tùy tiện để cho con người nói đến, đây là vấn đề có [tôn] kính đối với Phật hay không. Nhưng con người hiện này, tùy tiện mang Phật ra để đùa giỡn, thậm chí khi ăn cũng [phỉ] báng Phật, có rất nhiều món ăn đều là [phỉ] báng Phật, nào là “La Hán trai”, “Phật nhảy tường” những danh từ này đều đã xuất hiện rồi, đều là đang [nhục] mạ Phật, [phỉ] báng Phật, thậm chí những quán ăn chay này có cái là do cư sỹ, hòa thượng mở ra. Họ dường như đã không biết rằng họ đang [nhục] mạ Phật. Vì sao người xuất gia [ngày nay] không thể tu luyện được nữa? Họ đã không còn biết tu thế nào nữa, có thể họ còn cho rằng: “Nói La Hán trai thì có gì không tốt chứ?” Mọi người nghĩ xem, vị La Hán kia, Ông đã không còn tất cả các chấp trước sắc vị của thế gian, mà món “La Hán trai” đó là đầy đủ sắc vị. Chư vị đứng trong cảnh giới đó mà thử nhìn vấn đề này, chẳng bằng như đang [nhục] mạ Ông hay sao? Nói “Phật nhảy tường”, Phật hễ ngửi thấy hương vị món ăn ngon này của nhân gian là đều nhảy qua tường mà tới, đó chẳng phải là [nhục] mạ Phật sao? Phật mà chấp trước vào đồ ăn của con người sao? Tôi là giảng hiện tượng ngày hôm nay, kỳ thực rất nhiều việc đối với Phật đã là tương đối bất kính rồi, đã đến mức độ nào rồi! Khi nói đến Phật người ta căn bản là không có chính niệm, thậm chí dám trực tiếp [nhục] mạ Phật, trong tác phẩm văn nghệ cũng đang ngụy hóa {giả mạo} Phật một cách ác độc, đã đến tình trạng này rồi. Mọi người nghĩ xem, xã hội nhân loại đã [trở thành] cái dạng gì rồi? Tôi bảo mọi người, cuốn sách này, Đại Pháp này là tôi tới truyền, tôi phải chính lại tất cả những gì bất chính, trong Pháp bao hàm Pháp lý của Phật, Đạo, Thần tại các cảnh giới của vô số tầng, cho nên mọi người nhất định phải trân quý cuốn sách này, chớ tùy tiện quăng, tùy tiện để [lung tung]. Thời kỳ đầu khi truyền Pháp tôi chưa giảng vấn đề này, có người [trong khi đang] nghe giảng còn đặt cả [sách] dưới mông ngồi, lúc đó chư vị chưa biết thì cũng không trách chư vị. Hôm nay mọi người đều đã tu luyện lên trên rồi, đều đã hiểu Pháp này là gì rồi, cho nên hôm nay tôi mới giảng vấn đề này, bảo mọi người cần phải chú ý những chuyện này.

Còn có một vấn đề, tiện đây tôi cũng giảng một chút cho mọi người. Chúng ta có rất nhiều người tu luyện rất tốt, bản thân cũng biết dường như là tu luyện rất tốt, nhưng có lúc trong não thường xuyên còn phản ứng ra một số vấn đề, tư tưởng phản ứng ra những thứ chấp trước trong người thường, các loại biểu hiện của tình. Có những học viên rất lo lắng: “Rốt cuộc thì mình tu ra sao?” Tôi bảo mọi người, nếu như chư vị biết chư vị là một người tu luyện, chư vị cũng đang chiểu theo tiêu chuẩn tu luyện mà yêu cầu bản thân, khi trong tư tưởng chư vị xác thực xuất hiện loại trạng thái này, chư vị chớ lo lắng về nó. Vì sao vậy? Bởi vì tu luyện trong xã hội người thường, nếu vứt bỏ toàn bộ những thứ của người thường và nghiệp lực của chư vị, thì tôi bảo chư vị, dẫu chỉ một ngày chư vị cũng không thể ở lại trong chốn người thường được. Các loại tư tưởng phản ứng ra trong tư tưởng của người thường chư vị đều không thể chịu được, bởi vì mỗi lời nói, mỗi hành [vi], mỗi [ý] niệm của người thường đều có mang mục đích, mà loại mục đích này thường đều là ích kỷ, cho nên chư vị chịu không nổi. [Khi] chư vị không có những thứ này thì sẽ nhìn thấy [những thứ này ở] người khác, [nên] mỗi lần chư vị hễ tiếp xúc với người thường chư vị tất nhiên sẽ không chịu nổi. Chư vị sẽ cảm nhận được rằng nhất ngôn nhất hành của người ta đều mang theo chấp trước rất mạnh, chư vị sẽ không thể tu luyện trong người thường được nữa, chư vị cũng không ở được, công việc chư vị cũng không làm được, cho nên tôi loại bỏ dần dần từng chút những thứ con người ở bề mặt cho mọi người, liên tục cho đến khi sắp viên mãn mới có thể loại bỏ toàn bộ được.

Vậy thì chút những thứ để có thể [giúp chư vị] sinh hoạt trong người thường mà vẫn chưa loại bỏ hết này có thể khiến chư vị tu luyện trong người thường, khi chư vị nhận thức được những thứ bất hảo này của mình, thì chư vị đã là tiến bộ rồi, chư vị có thể bài xích nó thì chư vị chính là đang tu chính mình. Nhưng có một số thứ chư vị không nhất định là có thể hoàn toàn loại bỏ được ngay lập tức, bởi vì đó là những thứ loại bỏ rất chậm trong [quá trình] tu luyện, những thứ này mọi người cần phải phân biệt cho rõ. Vào ngày viên mãn, những thứ này sẽ được loại bỏ toàn bộ.

Còn nữa, tôi bảo mọi người, tu luyện xác thực rất khổ. Bởi vì chư vị tu luyện trong người thường, khi ở trong lợi ích và tình mà vứt bỏ các tâm chấp trước thì chư vị sẽ thể hội được. Các đệ tử mới khi vẫn còn chưa tiến nhập vào trạng thái này thì vẫn chưa thể hội được trở lực lớn như thế. Bởi vì con người chính là có nghiệp lực, mà những nhân tố do nghiệp lực tạo thành này đều đang cản trở con người tu luyện. Thể hiện ra chính là gặp khó khăn trong công việc, công việc không như ý, mâu thuẫn giữa người với người, hoặc là biểu hiện ra thân thể không được thoải mái. Những phiền phức này thông thường khi xảy đến đều là rất đột ngột, rất kịch liệt. Có những lúc chư vị biết rằng mình đang tu luyện, [nhưng] dường như cũng rất khó vứt bỏ cái tâm ấy. Điểm này tôi biết. Nhưng rốt cuộc mọi người trong [quá trình] tu luyện chư vị vẫn phải vượt qua, chư vị tự nguyện hay không tự nguyện, dù thế nào vẫn phải kinh qua sự việc như vậy, không ngừng ma luyện chư vị, cuối cùng vẫn [phải] vứt bỏ cái tâm ấy đi.

Còn có một vấn đề nữa, tôi bảo mọi người: Những người nghe Pháp, những người đắc Pháp, có thể đều là có duyên phận. Pháp hôm nay tôi giảng cho chư vị xác thực là rất cao, những thứ lưu cấp cho chư vị cũng rất cao, chư vị tu cũng rất nhanh, đặc biệt là những người tới đắc Pháp gần đây, có cảm giác những người đến sau [vượt lên] trên. Lần này đến Mỹ quốc tôi có cảm giác, có rất nhiều đệ tử là Hoa kiều, lưu học sinh, tiến sỹ, thạc sỹ, phần tử trí thức cao cấp, hoặc đang làm giáo sư, làm nghiên cứu khoa học, từ Trung Quốc Đại Lục, Đài Loan và nước ngoài, những người này đột phá tầng thứ rất nhanh. Đương nhiên không phải là nói rằng họ có học vấn cao thì tốt, mà là căn cơ tốt. Bởi vì họ đắc Pháp sau, nhưng một khi đắc được Pháp, tôi phát hiện rằng [họ] thường không có quá trình nhận thức dần dần. Trước kia rất nhiều người đều có quá trình nhận thức, dần dần thăng hoa lên trên. Rất nhiều [trong số] họ không có quá trình này, đắc được [Pháp] rồi thì nắm lấy tu ngay, không những lý giải nhanh, [mà còn] lập tức dung nhập vào [trong Pháp]. Không phải ý nói rằng [đây là do] người ta có học vấn người thường cao mà tạo thành, trên thực chất là [do] vấn đề căn cơ. Đương nhiên, người đắc Pháp cũng là [do] có nhân tố duyên phận.

Pháp mà tôi truyền cơ bản đã được trao hết toàn bộ cho chư vị [một cách] hệ thống rồi, [những gì] cần phải truyền đều đã hoàn toàn lưu cấp cho chư vị rồi, hơn nữa [những điều] cao nhất [mà tôi] giảng đã tương đối cao rồi. Vậy [nếu] tôi lại giảng lặp lại nữa, giảng đi giảng lại, thì sẽ gây tác dụng can nhiễu, bởi vì tôi giảng bài không thể [lần nào cũng] giảng giống nhau không sai khác một chữ được, vậy thì những thứ được lưu lại này có thể sẽ can nhiễu đến bộ Pháp đã được cấp cho chư vị một cách cố định. Vậy nên tôi không thể lại giảng Pháp một cách hệ thống nữa. Nếu không xuất hiện tình huống đặc thù, những thứ tôi giảng sau này sẽ đều là về một số vấn đề mà xã hội nhân loại đang gặp phải và những sự việc trong tương lai, đây đều là sự việc của con người rồi. Những thứ [liên quan đến] tu luyện thời kỳ này [về] cơ bản đã giao toàn bộ [cho chư vị] rồi. “Chuyển Pháp Luân” đã viết tương đối cao tương đối cao rồi. Vậy trong giai đoạn về sau, tôi lại giảng một số thứ, tương lai cũng phải chỉnh lý thành văn bản {sách}. Nhưng tôi bảo mọi người rằng, [cuốn sách] thực sự khiến mọi người có thể tu luyện chính là “Chuyển Pháp Luân”, còn những [cuốn sách] khác cho dù xuất [bản] ra bao nhiêu sách đi nữa cũng đều là phụ trợ cho “Chuyển Pháp Luân”, cho nên mọi người tu luyện nhất định phải nắm vững cuốn sách “Chuyển Pháp Luân” này mà tu.

Các học viên chúng ta rất thiếu hụt [hiểu biết] khái niệm cụ thể về “Phật”, nhận thức về Phật, bởi vì những năm ấy tôi chỉ là truyền Pháp, rất ít giảng về tình huống của Phật trong các cảnh giới khác nhau, và tình huống của Phật, Đạo, Thần và vũ trụ. Chưa giảng là bởi vì Pháp tôi truyền này rất lớn, bất cứ thứ cụ thể nào cũng đều không thể xen vào được, đều không đáng xen vào, cho nên rất nhiều học viên đã thiếu hụt hiểu biết về phương diện này, rất ít hiểu biết về Phật và chúng sinh các tầng thứ thượng hạ khác nhau. Phật, Bồ Tát, hoặc là cảnh giới của Phật, thế giới của Phật, [học viên] rất ít hiểu biết về phương diện này. Kỳ thực [nếu] thực sự giảng về sinh hoạt cụ thể của Phật, chư vị sẽ dùng tư tưởng của con người mà lý giải, đó là bất kính đối với Phật. Tương lai trong tu luyện rất nhiều học viên các vị đều sẽ thấy được, tự chư vị sẽ bổ sung bộ phận này.

Vũ trụ này tương đối phức tạp, hơn nữa mức độ phức tạp khiến cả Phật, Đạo, Thần [cũng] đều kinh ngạc và thán phục, [chứ] không chỉ con người. Mà vũ trụ mà con người nhận thức được này chỉ là trên một tầng diện mà thôi. Trước kia tôi đã từng giảng, bề mặt vật chất mà nhân loại có thể nhận thức được, lạp tử lớn nhất nhìn thấy được chính là tinh cầu, hệ Ngân Hà; các lạp tử nhỏ nhất mà dùng máy móc có thể biết được còn có phân tử, nguyên tử, hạt nhân nguyên tử, neutron, điện tử, hạt quark, neutrino, xuống dưới nữa thì không biết được. Nhưng còn cách không biết là bao xa so với vật chất bản nguyên của con người, vật chất bản nguyên cấu thành các sinh mệnh. Gấp vô số ức lần, vô số ức vô số ức lần vẫn chưa đến tận cùng, vật chất vi quan đến mức độ ấy. Nhưng vật chất càng vi quan, thì thể tích chỉnh thể càng lớn. Chư vị không thể chỉ nhìn riêng lẻ một lạp tử. Một cái lạp tử chỉ là một điểm của thể tích, nhưng nó lại là một chỉnh thể. Vậy lạp tử vật chất càng vi quan, thì có thể cái diện chỉnh thể của nó có thể càng lớn; lạp tử cấu thành vật chất càng lớn, thì tầng diện của nó không nhất định là càng lớn. Nhân loại chỉ nhận thức được không gian do phân tử tổ [hợp] thành này, lại còn dậm chân tại chỗ, dùng các loại định nghĩa khoa học thực chứng mà tự hạn chế chính mình, đột phá không nổi. Ví như chư vị nói không khí, nước, sắt thép, gỗ, và cả thân thể con người, tất cả không gian chư vị sinh sống đều là do phân tử cấu thành. Chư vị giống như sinh sống trong đại dương của cảnh giới phân tử này, giống như một bức họa lập thể do phân tử tổ [hợp] thành. Phi thuyền vũ trụ bay cao đến đâu, cũng không chạy ra khỏi không gian cấu thành từ phân tử này; máy tính dẫu phát triển tới đâu cũng không sánh được não người. Đương nhiên xã hội nhân loại cũng không phải là không đột phá được chút gì, nhân loại đã nhận thức được phân tử, nguyên tử, hạt quark, thậm chí neutrino, nhưng những gì khoa học nhìn thấy chỉ là lạp tử tồn tại theo một điểm thôi, không thấy được các lạp tử khác nhau tồn tại theo toàn bộ mặt. Nếu như nhìn thấy được cái mặt ấy, thì con người sẽ nhìn thấy được cảnh tượng tồn tại chân thực tại các không gian khác của vũ trụ rồi. Hơn nữa nguyên tử kia không chỉ là một lạp tử mà nhân loại nhìn thấy. Bản thân lạp tử ấy, nếu như có thể phóng đại nó lên mà nhìn, phóng đại lớn đến [mức] như một tiểu tinh cầu, thì sẽ có thể nhìn thấy trên vật thể do vật chất nguyên tử tổ thành [có] những sinh mệnh, vật chất, nước, thực vật, tất cả các hình thức vật chất tồn tại do nguyên tử tổ thành. Nhân loại không đột phá nổi điểm này.

Kỳ thực con người sống giữa hai [tầng] lạp tử: phân tử mà tổ thành hết thảy mọi thứ, và lạp tử lớn nhất mà chúng ta thấy được bằng mắt đó chính là tinh cầu. [Con người đang] sinh sống giữa lạp tử phân tử và tinh cầu. Đương nhiên [nếu] hôm nay tôi không giảng, các nhà khoa học cũng không nhận thức được, nhân loại vẫn không nghĩ được rằng tinh cầu cũng là một lạp tử. Nhưng vô số tinh cầu lại tổ thành các lạp tử còn lớn hơn, đó chính là các hệ ngân hà, mà các thiên hà lại tổ thành phạm vi vũ trụ lớn hơn nữa, nhưng đó vẫn chưa phải là lạp tử lớn nhất. Đương nhiên khái niệm mà tôi giảng này có thể ngay lập tức đẩy tư tưởng của chư vị lên rất cao. Nếu thân thể của chư vị to lớn như thân thể tổ thành từ tầng lạp tử tinh cầu kia, chư vị quay đầu lại nhìn Trái Đất xem, có phải giống như phân tử không? Dùng nhận thức của nhân loại đối với vật chất mà xét, kỳ thực tinh cầu xác thực là một tầng lạp tử. Đây là giảng từ hoành quan.

Con người thường nói “lên trên trời” {thượng Thiên}, đâu là “trời”? Đâu là “trên”? Trong vũ trụ này căn bản không có khái niệm trên dưới trái phải trước sau. Lên trên có thể là “trên”, nhưng xuống dưới chẳng phải cũng là “trên”? Vũ trụ này là [hình] tròn, Trái Đất hầu như ở vị trí trung tâm. Bên trái là “trên”, bên phải cũng là “trên”, bên dưới là “trên”, đỉnh đầu cũng là “trên”. Vậy điều này nói ra một thiên cơ. Tôi vừa giảng rằng lạp tử càng vi quan thì tầng diện của nó lại rất lớn, kỳ thực [nếu] khi một sinh mệnh có thể lùi vào trong vi quan hơn thì chính là đã ở nơi lớn hơn, cao hơn rồi, đã là ở Thiên thượng {trên trời} rồi, bởi vì lạp tử càng vi quan, thì tầng thứ của nó càng cao. Đây là một loại nhận thức khái niệm rất to lớn. Phương pháp nhận thức vũ trụ tôi vừa giảng, đó mới chỉ là giảng cho mọi người một chút, một loại phương pháp nhận thức không gian. Vẫn còn [phương pháp nhận thức] phức tạp hơn nữa. Đương nhiên, nhiều hơn nữa thì tương lai sau khi khai ngộ chư vị sẽ tự mình nhận thức.

Không thể lưu cấp cho con người quá nhiều thứ cụ thể của Thiên thượng. Kỳ thực nếu khoa học thực chứng của nhân loại có thể phát triển tương đối cao hoặc siêu việt khỏi cảnh giới của nhân loại, thì như vậy sẽ càng nguy hiểm hơn cho nhân loại. Bởi vì con người tuyệt đối không thể thông qua phương pháp khoa học kỹ thuật mà đạt đến cảnh giới Phật, đây là điều tuyệt đối không được phép. Bởi vì con người là có thất tình lục dục và các chủng tâm chấp trước, tâm tranh đấu, tâm tật đố, sắc dục, những thứ này nếu đem đến Thiên thượng thì quá kinh khủng, [con người] sẽ đấu với Phật và Bồ Tát, thực sự sẽ xảy ra đại chiến vũ trụ. Vĩnh viễn không thể để con người mang theo các tâm của người thường mà khiến khoa [học] kỹ [thuật] đạt đến cảnh giới của Phật, do vậy khoa học kỹ thuật của nhân loại chỉ bất quá là đang phát triển chiểu theo [an bài] đã định sẵn từ trước. Nếu nó phát triển được rất cao, thì bản thân khoa học kỹ thuật và con người cũng sẽ đối mặt với nguy hiểm bị tiêu hủy như thế, đây là cảnh tượng mà tôi thấy được.

Sau đây, quay trở lại tôi lại giảng về không gian này. Loại hình thức không gian mà tôi vừa nói là một phương pháp nhận thức khái quát. Năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni cũng từng giảng về nhận thức về vũ trụ [trong một] phạm vi nhất định, ví dụ Ông đã giảng về nhân loại và tình huống cụ thể của phạm vi nhất định trong Tam Giới và ngoài Tam Giới, như thuyết về núi Tu Di, [Ông] cũng đã giảng về hình thức tồn tại của núi Tu Di. Bốn mặt núi Tu Di có tứ đại bộ châu, có hai tầng trời lớn. Kỳ thực trong quá trình lời giảng của Phật Thích Ca Mâu Ni được truyền đến Trung Quốc, phiên dịch thành tiếng Trung Quốc hoặc [trong khi] lưu truyền tại Ấn Độ đều là có sai lệch. Hai tầng trời lớn của núi Tu Di mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, căn bản không phải là hai tầng trời lớn, mà là khái niệm về hai vũ trụ, là nhận thức về tiểu vũ trụ và vũ trụ tầng thứ hai.

[Vậy] nhận thức như thế nào về vũ trụ tầng thứ hai? Vũ trụ mà nhân loại nhận thức được này là do rất nhiều hệ ngân hà tổ [hợp] thành, đây vẫn chỉ là giảng từ kết cấu của tầng không gian mà con người có thể nhận thức được, đây chính là vũ trụ mà chúng ta thường nói. Ngay cả cái vũ trụ này, nhân loại chúng ta cũng vĩnh viễn không thấy được biên của nó. Vậy thì vũ trụ này không phải là một vũ trụ duy nhất trong thiên thể, cũng không phải là một tầng lạp tử lớn nhất trong thiên thể mênh mông. Còn có rất nhiều vũ trụ to lớn như vậy, cấu thành nên phạm vi vũ trụ còn lớn hơn, nó cũng có vỏ ngoài, nó cũng chỉ là cấu thành một tầng lạp tử lớn hơn nữa mà thôi. Vũ trụ này quá to lớn, đối với nhân loại mà nói là không thể nghĩ bàn, nhưng đối với Thần mà nói thì đó vẫn chỉ là một bộ phận rất nhỏ của một tầng lạp tử mà thôi, nhưng với Phật lớn hơn nữa mà nói, thì nó nhỏ đến mức quả thật không là gì cả. Phương pháp suy nghĩ, phương pháp tư duy, và quan niệm ở các cảnh giới khác nhau đều sẽ phát sinh biến hóa.

Vừa rồi tôi giảng đến núi Tu Di mà Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ được, nó ở phía Bắc của hệ Ngân Hà và hệ Mặt Trời mà nhân loại chúng ta đang sinh tồn. Mà cái khái niệm “Bắc” này lại cũng không dễ nói, bởi vì trong vũ trụ không hề có cái khái niệm này, Trái Đất vẫn đang [xoay] chuyển. Chiểu theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni mà nói, thì chúng tôi giảng như vậy, [để] mọi người dễ lý giải khái niệm này. Nếu không, nếu tôi giảng là [nó] ở đây, ngày mai nó lại [xoay] chuyển đến đằng kia. Vậy chiểu theo lời Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, là ở phía Bắc, chúng ta hãy nói nó ở phía Bắc. Núi Tu Di này cao bao nhiêu? Núi Tu Di vượt ra ngoài hệ Ngân Hà, vượt ra ngoài phạm vi vũ trụ này, phạm vi cấu thành bởi rất nhiều rất nhiều thiên hà mà tôi vừa giảng. Mọi người nghĩ xem, rất nhiều thiên hà không đếm xuể ấy to lớn cỡ nào? Giữa thiên hà và thiên hà còn có một khoảng cách nhất định. Núi Tu Di vượt ra ngoài vũ trụ này, ở tại vị trí trung tâm của vũ trụ tầng thứ hai, ngọn núi lớn như thế. Kỳ thực núi Tu Di là một núi lớn [gồm] ba ngọn núi cạnh nhau, mà đối ứng ba ngọn núi này chính là Phật A Di Đà, Quan Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Phật A Di Đà là vị Phật đệ nhất của cảnh giới này.

Những gì Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ được vượt rất xa nhận thức của người ta về Ông. Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng rất nhiều câu chuyện trên Thiên thượng, chuyện các kiếp trước của Ông, nhưng chưa hoàn toàn giảng ra thân thế thực sự của mình, đặc biệt là chuyện sau khi niết bàn thì càng không có người biết.

Mọi người đều biết, mỗi vị Phật đều có một thế giới của mình, Phật A Di Đà có thế giới Cực Lạc; thế giới Lưu Ly do Phật Dược Sư chủ trì; còn có thế giới Liên Hoa, thế giới Mỹ Hảo, Giê-su, Nguyên Thủy Thiên Tôn cũng đều có thế giới của họ. Tại phạm vi hệ Ngân Hà mà nhân loại đang ở, đối ứng có hơn 100 thế giới thiên quốc như thế. Phật cũng [có] rất nhiều, Phật đạt đến cảnh giới Như Lai, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng [rằng nhiều] như số cát sông Hằng. Mỗi vị Phật Như Lai chủ trì một thiên quốc, chư vị nghĩ xem vũ trụ này to lớn nhường nào? Tầng thứ cuối cùng [mà] từ đó Phật Thích Ca Mâu Ni hạ xuống lúc ấy là tại vũ trụ tầng thứ sáu. Con số này lại cũng rất lớn, sáu tầng vũ trụ ấy, chứ không phải là sáu tầng trời. Ở đó Ông có một thế giới, gọi là Thế giới Đại Phạm. Sau này Phật Thích Ca Mâu Ni đến xã hội người thường độ nhân, sau khi khai ngộ Ông truyền Pháp 49 năm, Ông vẫn chưa quay về, bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni ngay cả dựa vào lực lượng của Ông, dựa vào tầng thứ cao ngần ấy, cũng chỉ có thể độ phó nguyên thần, hơn nữa cũng không thể khiến người tu luyện tu luyện được rất cao trong một đời.

Mọi người đều biết, những vị Phật kia đều có thế giới của mình, [nhưng] đã ai từng nghe nói rằng Phật Thích Ca Mâu Ni có thế giới của chính mình chưa? Chưa có người nào giảng. [Người ta] nói Phật Thích Ca Mâu Ni ở tại thế giới Ta Bà, [nhưng] thế giới Ta Bà ở đâu? Chính là Tam Giới, chính là Tam Giới này, bao gồm cả con người. Vậy thế giới của Phật sao lại là thế giới của con người được? Chưa ai nghĩ đến vấn đề này. Trên thực tế Phật Thích Ca Mâu Ni bình thường luôn luôn ở Đại Phạm Thiên. Bởi vì Ông đến từ Thế giới Đại Phạm, nên Ông cũng đặt tên cho tầng trời ấy là Đại Phạm Thiên. Đại Phạm Thiên là ở Thiên thượng cao nhất của Vô Sắc giới, cũng là nội trong Tam Giới. Vì sao Ông ở đây mà không đi? Trước khi Đại Pháp khai truyền Ông vẫn còn trông coi tín đồ của Phật, hơn 2.500 năm qua kỳ thực Ông vẫn đang đợi Đại Pháp khai truyền. Vậy thì vì tầng thứ cuối cùng mà từ đó Phật Thích Ca Mâu Ni đến là thế giới Đại Phạm, nhưng Ông sẽ không ở lại nơi đó. Bởi vì Ông đã đặt định văn hóa cho Đại Pháp khai truyền vào đời này, ở nơi người thường đã chịu rất nhiều khổ, [nên] sau khi đồng hóa Đại Pháp ông sẽ trở về cảnh giới cao hơn nữa. Đây là tôi giảng cho mọi người tình huống chân thực của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Rất nhiều người cứ luôn hỏi tôi rằng: “thưa Thầy, Ngài là ai?” Giảng đến chuyện của tôi, thì thực sự, thực sự quá dài. Tôi đã trải qua tầng tầng các thiên thể khác nhau của vũ trụ mà đi xuống, tầng tầng chuyển sinh, trong nhân thế phân [chia thân] thể mà chuyển sinh, trong mỗi đời đều có rất nhiều “tôi”, phức tạp đến mức không biết phải bắt đầu nói từ đâu. Tôi có thể nói cho mọi người một cách vô cùng đơn giản rằng, tôi thấy tôi ở ngoài tất cả vũ trụ [và] thiên thể, mà chúng Thần Phật và chúng sinh đều ở trong đó.

Trong vũ trụ tồn tại vấn đề thành, trụ, hoại, đây là quy luật tồn tại của vũ trụ. Tuổi của vũ trụ quá lớn rồi. Trong tiến trình của vũ trụ này, tuổi của các Phật, Đạo, Thần sản sinh vào thời kỳ đầu đều đã quá lớn rồi, sống [lâu] đến mức dường như đều đã có phần chán ngán rồi. Thời gian đã quá lâu dài rồi, có thể khiến các chư Thần quên mất lịch sử. Họ thậm chí quên cả quá khứ của mình. Tầng thứ càng cao thì thời gian của họ càng chậm, phạm vi và thể tích của họ thì càng lớn. Khái niệm thành, trụ, hoại, trong cảnh giới cao hơn nữa là tương đối lâu dài, thậm chí là một sinh mệnh, chư vị căn bản không cần nghĩ đến [việc này], lớn như vậy đó. Vậy thì, Phật Chủ ở ngoài hết thảy thời gian và phạm vi vũ trụ, cho rằng chúng sinh là ý nghĩa tồn tại của vũ trụ. Do trong vũ trụ đã xuất hiện rất nhiều rất nhiều kiếp nạn tại các tầng thứ khác nhau, trừ cảnh giới cao nhất ra, không có sinh mệnh nào biết vũ trụ tối nguyên thủy là như thế nào. Sau khi [vũ trụ] mới thay thế [vũ trụ] cũ, thì tất cả [những gì] của quá khứ đều không tồn tại nữa. Nhưng [tôi] muốn lưu lại các chúng sinh trong vũ trụ, vấn đề này bắt đầu giải quyết thì rất khó.

Ban đầu khi vũ trụ được sinh ra, có rất nhiều rất nhiều Thần đã thấy được vấn đề sẽ xuất hiện khi vũ trụ ở thời mạt kiếp. Những Thần ấy đều vô cùng lo lắng, muốn tự cứu mình. Nhưng mà, nếu họ không có đủ uy đức cao ngần ấy, thì không xoay chuyển được sự tình này, hơn nữa còn không quay về được. [Thần ở] từng tầng từng tầng đều muốn làm sự việc này, nên trong lịch sử rất nhiều Thần đã tới [đây].

Nhưng trong vũ trụ quá khứ tồn tại một Lý, chính là tầng này không được biết tầng cao hơn có sinh mệnh hay không; tầng cao hơn cũng không biết tầng cao hơn nữa còn có sinh mệnh hay không. Thần mỗi tầng chỉ biết mình là cao nhất, do vậy Giê-su ở phương Tây nói rằng cha của Ông – Jehovah là Chúa. Jehovah là Chúa đã tạo ra chủng người Do Thái, là Đấng Sáng Tạo của người Do Thái, nói cách khác Ông là [đấng] tối cao của chủng người da trắng Do Thái và các sinh mệnh [của họ] ở các tầng thứ khác nhau. Nhưng mà, trong các thể hệ khác còn có các Chủ mà đã tạo ra các nhân chủng khác, hơn nữa tới [các tầng thứ] cao hơn nữa, cao hơn nữa, cao hơn nữa cũng có Thần và chúng sinh, điều này chỉ là Thần ở tầng thấp và thế nhân không biết. Thần cũng chỉ biết Phật lý ở tầng thứ đó của mình. Khi họ thấy được kết quả tối hậu, chúng Thần đều nghĩ biện pháp giải quyết hậu quả đáng sợ của giai đoạn cuối cùng của thành trụ hoại diệt của vũ trụ, đã lần lượt hạ thế, rất nhiều rất nhiều Thần như vậy đã tới. Có Thần đã chịu tất cả khổ từ đầu đến cuối trong tầng vũ trụ ấy của họ, từ đó muốn có được uy đức lớn nhường ấy, hoàn thành việc đắc cứu. Nhưng họ đều gặp phải cùng một vấn đề, họ đều không phải là tối cao, mà tại cảnh giới còn cao hơn, cao hơn nếu cũng xuất hiện vấn đề, thì cảnh giới sở tại ban đầu của họ cũng vẫn ở trong kiếp nạn. Vậy thì chúng Thần hạ xuống cũng sẽ mất công vô ích mà vẫn bị hủy. Vậy thì chúng Thần hạ xuống [ấy] đều không giải quyết được kết cục này, hơn nữa cũng không quay về được. Thực chất tất cả đều phát sinh như vậy. Trong [khi] cứu độ và chính Pháp hướng lên trên, tôi đã đưa rất nhiều những [Thần] này quay về sau khi [họ] đồng hóa với Pháp.

Mọi người đều biết, vấn đề hôm nay tôi giảng đây là tương đối cao. Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng một câu: Tương lai bao nhiêu bao nhiêu năm sau lúc ấy Phật Di Lặc sẽ đến. Tôi là đến vào thời gian đó, nhưng tôi không phải ở tầng thứ của Phật Di Lặc.

Tôi còn muốn nói với mọi người một thiên cơ rất cao. Sự việc này trước đây tôi đã từng giảng. Phật trên Thiên thượng, ví dụ như Như Lai, Bồ Tát mà chư vị biết, kỳ thực [mỗi danh xưng ấy] đều không phải là một vị. Cứ khoảng [mỗi] mười năm hoặc không quá mười năm thì phải đổi một vị [mới]. Phật A Di Đà hiện tại cũng không phải là vị lúc đầu; Quan Âm Bồ Tát cũng không phải là vị lúc đầu. Vì sao vậy? Bởi vì nhân loại [và] Tam Giới quá phức tạp, mà họ lại cách Tam Giới quá gần, những thứ bất hảo bên dưới có thể trực tiếp can nhiễu đến họ. Bởi vì Phật, Bồ Tát độ nhân, nên con người càng có thể can nhiễu đến Phật, Bồ Tát. Nếu họ cứ trường kỳ độ [nhân] như vậy thì họ sẽ bị rớt xuống, do vậy [tại] không gian này của chúng ta cứ khoảng trên dưới mười năm họ cần phải thay một vị, nhưng có [những] thế giới mà trong đó thời gian đã trôi qua rất lâu rồi. Ngược lại, trong không gian cụ thể ở trong không gian lớn hơn thì thời gian lại trôi qua rất nhanh. Mười năm [ở đây] thì ở một số không gian [khác] đã qua thời gian trên vạn năm rồi. Cho nên trong trạng thái như vậy, các Phật, Bồ Tát không thể lưu lại lâu hơn nữa. Thiên thượng có một quy định rằng, tại một tầng thứ nhất định cho dù là Thần nào, đến một thời điểm nhất định thì đều phải thay đổi, mục đích là để bảo hộ họ, không để họ rớt xuống.

Quá khứ trong một vài ghi chép của nhân thế, cũng có ghi lại như vậy, chỉ là người ta không biết là chuyện gì. Mọi người đều biết có Quan Âm Bồ Tát, trong lịch sử đã có các ghi chép khác nhau [về vị này]. Ví dụ có [người] gọi là Nam Hải Quan Âm Bồ Tát, con gái của vua Diệu Trang Vương {Śubhavyūha} tu thành Quan Âm Bồ Tát, còn có Song Mã Đồng Tử của Ấn Độ tu thành Quan Thế Âm Bồ Tát v.v. v.v., đều là sự thật, chỉ có điều không phải cùng một sinh mệnh. “Quan Âm Bồ Tát” là danh hiệu của hình tượng nguyên thủy của vị Giác Giả đại từ bi trang nghiêm, thù thắng, và sự từ bi bất biến. Mỗi lần có một Quan Âm Bồ Tát tu được lên trên, Bà sẽ bắt đầu chọn một người trên thế gian sẽ kế vị bản thân Bà trong tương lai, giúp người đó tu được [tâm] từ bi giống hệt như bản thân Bà, cũng có tầng thứ cao như thế, cũng có uy đức lớn như thế, cũng có thể chịu khổ nhiều như thế, có thể có được uy lực lớn như thế. Khi người đó viên mãn thì Bà sẽ độ người đó lên tiếp [quản thay] thế Bà. Mỗi vị Phật, Đạo, Thần đều như vậy. Trong quá khứ đây là một thiên cơ tối cơ mật, hôm nay [tôi] đã giảng cho chư vị.

Vì sao tôi giảng ra cho chư vị? Bởi vì tôi muốn giảng một vấn đề. Từ khi Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến danh hiệu Phật Di Lặc, hơn 2.000 năm nay Phật Di Lặc này cũng không biết là đã đổi bao nhiêu lần rồi! Bố Đại hòa thượng là một trong số đó, đây chính là [lý do] vì sao [người ta] đánh đồng Di Lặc và Bố Đại hòa thượng với nhau. Nhưng hình tượng của Phật Di Lặc lại không giống Bố Đại hòa thượng với bụng to cười lớn như vậy, đó chỉ là hình tượng con người của Ông khi ở thế gian mà thôi. Phật là rất thần thánh trang nghiêm, đa số đều là rất trẻ và rất đẹp, bởi vì càng lên cao càng mỹ hảo. Xem ra thì Phật A Di Đà chân thực trông giống như khoảng 20 tuổi, Quan Âm Bồ Tát thì giống như 17, 18 tuổi, Đại Thế Chí thì như là 15, 16 tuổi. Bởi vì quan niệm của con người nhìn nhận rằng người 40 tuổi thì vững vàng thận trọng, đến tuổi bất hoặc {tứ tuần} rồi mà, do vậy bèn tạc tượng của họ thành hình tượng như vậy. Nhưng tư tưởng của Thần trên Thiên thượng là do trí huệ và tầng thứ cảnh giới quyết định, từ bi và trí huệ của Thần không phải là do tuổi tác quyết định. Người thường cứ luôn dùng nhận thức của người thường.

Vậy thì, đến Phật Di Lặc ở đời này, cũng chính là Phật Di Lặc cuối cùng trước khi tôi bắt đầu truyền Pháp, kỳ thực là nữ giới tu thành, nhưng hình tượng của Di Lặc lại là nam giới. Kỳ thực hai chữ “Di Lặc” trong tiếng Ấn Độ cổ thời đó phát âm không thật chuẩn, dịch thành tiếng Hán thì càng không chuẩn. Có [người] phát âm là “Di Lai”, có [người] phát âm là “Di Lặc”, còn có [cách] phát âm khác nữa. Tương lai [tôi sẽ] cho chư vị biết cách phát âm chuẩn xác. Khi Phật Di Lặc thời kỳ này sắp kết thúc việc của Ông, đúng vào lúc tôi xuất sơn {ra công chúng}, nhưng tôi không phải là ở tầng thứ của họ. Thần trong thiên thể đều biết tôi dùng Phật Pháp và hình tượng Phật để đến cứu độ chúng sinh các giới, họ cũng nhận định rằng Di Lặc đã đến rồi, Phật Di Lặc cũng đã cho tôi tất cả những thứ mà Ông được truyền thừa. Nhưng chúng Thần đều không biết căn bản tôi từ đâu đến, chỉ biết [là tôi vì] hạ thế độ nhân mà đến, đồng thời họ đều thúc giục tôi vào chùa, nhưng tôi không vào chùa. Vì sao [tôi] không vào chùa? Bởi vì tôi muốn làm sự việc còn lớn hơn, có sứ mệnh còn lớn hơn. Hơn nữa người hiện nay đã không tin Phật nữa rồi, cư sỹ, tăng nhân trong chùa đã quá ít rồi. [Số] tín chúng đi chùa so với tổng số nhân loại thì thực sự quá ít rồi, vào thời mạt pháp [số] người không tin Phật đã quá đông rồi. [Nếu tôi ở] trong chùa thì không thể [cứu] độ thế nhân một cách rộng rãi, không thể khiến nhiều người hơn nữa đắc Pháp. Một khi [tôi chọn hình thức] vào chùa, những người tin theo các tôn giáo khác sẽ càng không đắc được Pháp. Tôi đã thấy được tình huống này, do vậy tôi không xuất gia, mà truyền Đại Pháp trong xã hội người thường.

Đương nhiên ở đây có một vấn đề, và cũng là vấn đề mà rất nhiều hòa thượng nghĩ không thông. Người ta biết rằng, điều tôi giảng là Phật lý, Phật Pháp, nhưng không phải là Pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni giảng. Kỳ thực giả dụ không phải là tôi, mà là một người khác đến độ nhân, thì cũng sẽ không lặp lại lời của Phật Thích Ca Mâu Ni giảng; [dẫu có] đổi một người khác đến thì cũng sẽ không giảng những gì Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng giảng. Cùng là giảng Phật Pháp, nhưng đều là Pháp lý do [mỗi vị] Phật tự mình chứng ngộ được, có phải vậy không? Điều nghi hoặc lớn nhất mà hòa thượng hiện nay không vứt bỏ được, [đó là] họ nhìn nhận rằng, Phật Thích Ca Mâu Ni là [vị] duy nhất giảng Phật Pháp, [và đó là] Phật Pháp duy nhất của vũ trụ. Họ không biết rằng đó [chỉ] là một bộ phận nhỏ của Phật Pháp, là Phật Thích Ca Mâu Ni giảng ra bộ phận mà Ông chứng ngộ được. Thậm chí Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không hề giảng ra toàn bộ Pháp mà bản thân mình biết, chỉ lưu lại cho con người bộ phận mà con người nên được biết mà thôi. Kỳ thực Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không giảng Pháp của sáu vị Phật quá khứ đã từng giảng. Huống hồ là lần này tôi giảng về đặc tính của toàn bộ vũ trụ, Phật Pháp Thần Pháp Đạo Pháp – căn bản của hết thảy Pháp.

Nếu Tam Giới và nhân loại khởi được tác dụng nên có cho Chính Pháp, thì nhân loại tương lai sẽ có phúc vô lượng. Khi tôi đến, tại cảnh giới rất cao đã tạo ra tất cả những gì tôi cần, thông qua đầu thai phàm mà được sinh tại thế gian. Uy đức của tôi lại siêu việt ra ngoài tất cả cảnh giới [mà] làm chủ. Nói rằng tôi đến rồi, nhưng tôi và chúng sinh Tam Giới không biết còn cách nhau bao nhiêu tầng lạp tử. Tôi có nhân tố bản nguyên nhất của sự tồn tại vũ trụ, nhưng tôi không ở trong đó. Tôi là cội nguồn cấu thành nên tất cả trí huệ của vũ trụ, nhưng tôi không cần gì cả. Mà chúng sinh là do vật chất trong các vũ trụ ở tầng thứ khác nhau cấu thành. Nói rằng tôi chưa đến, tôi không ở cảnh giới con người nhưng lại đang biểu hiện trong thế gian con người. Đây là nói một cách đơn giản khái quát. Tương lai tôi sẽ cân nhắc nói cho mọi người biết sự tình này, nhưng nhiều hơn nữa thì không được, bởi vì [những gì] cho con người biết đã rất nhiều rồi, chẳng qua tương lai bao nhiêu năm sau nhân loại vẫn sẽ chỉ coi tất cả những điều này là chuyện thần thoại mà thôi.

Mọi người biết rằng, sự việc mà chính phủ Trung Quốc sợ nhất chính là sợ người ta lập ra những cái như Nghĩa Hòa Đoàn, tạo phản, [họ] sợ nhất bị đoạt mất quyền lực. Tôi cứ mãi nhấn mạnh rằng chúng ta tuyệt đối không liên quan đến chính trị, tuyệt đối không can thiệp vào chính trị, tuyệt đối không tham dự vào chính trị. Nếu như Lý Hồng Chí tham dự chính trị, thì hôm nay tôi truyền chính là tà pháp, chư vị hãy nhớ kỹ lời tôi nói. Trong lịch sử, tôi, Lý Hồng Chí truyền Pháp này ra sao, bảo chư vị làm việc này ra sao, thì thiên thu vạn đại chư vị đều phải chiểu theo đó mà học, tuyệt đối không thể khiến Nó đi lệch. Hình thức mà tôi lưu lại cho chư vị, tương lai người đời sau sẽ cứ như vậy mà làm. Mọi người biết đấy, chúng ta là quản lý nới lỏng, không đụng đến tiền, không có chức vị, không làm quan. Người tu luyện một khi đụng đến tiền là phức tạp rồi, danh lợi là chướng ngại lớn nhất đối với sự tu luyện của con người.

Đương nhiên chư vị [đang ở] trong xã hội người thường, chư vị có thể duy trì sinh hoạt của mình. Chư vị đi kiếm tiền, chư vị đi làm quan nơi người thường, làm kinh doanh nơi người thường, những việc này đều không ảnh hưởng việc chư vị tu. Đây chính là hình thức tu luyện mà tôi truyền cấp cho chư vị. Trong hình thức tu luyện [này] không thể cấp chức quan, Phật Pháp không thể dùng để kiếm tiền, bất cứ trạm phụ đạo nào cũng không được tồn tiền, đây là [do] hình thức tu luyện quyết định. Pháp lớn thế này truyền cho con người tuyệt đối không phải là ào ào [trong] dăm ba năm, tôi biết tương lai sẽ có nhiều người hơn nữa đắc Pháp, sẽ có rất nhiều rất nhiều người đắc Pháp, con số này là tương đối lớn. Hơn nữa Pháp này không chỉ thuộc về nhân loại, không chỉ thuộc về Trung Quốc, toàn thế giới và cho đến nhiều sinh mệnh hơn nữa đều đang đắc Pháp. Đây là một bộ Pháp của vũ trụ, cho nên mọi người nhất định phải biết trân quý Nó.

Trước kia chư vị không biết [Pháp này] là gì, nhất là khi tôi bắt đầu truyền Pháp này thời kỳ đầu là dùng hình thức khí công để truyền. Bởi vì [để] con người nhận thức Pháp phải có một quá trình, đột nhiên giảng Pháp cao như thế không được. Vậy tôi phải nói với mọi người rằng, vì sao trong lịch sử hôm nay đã xuất hiện khí công? Chính là vì để trải đường cho tôi hôm nay truyền bộ Pháp này. Bản thân các khí công sư không biết là vì sao, mà các khí công sư giả lại càng không biết, những khí công sư giả đó vẫn đang họa loạn trong xã hội. Mà những khí công sư thật sự khởi tác dụng trải đường ấy họ cơ bản đều đã rút về rồi, có một số [khí công sư] biết rằng có người bảo họ xuất lai làm [chỉ] đến bước đó thôi [là phải ngừng]. Nếu họ không xuất lai truyền khí công, [nếu] khí công không được truyền rộng rãi trong xã hội, vậy hôm nay tôi đột ngột giảng Pháp cao thế này, thì rất khó khiến con người hiểu được. Đây chính là [lý do] vì sao xuất hiện khí công. Cho nên tôi giảng, hiện nay tất cả những ai đang gây họa làm loạn Đại Pháp họ đều sẽ không có kết cục tốt đẹp. Họ thực chất đã ở trong địa ngục rồi, chỉ là dương thọ của họ còn chưa hết mà thôi.

Quá trình Đại Pháp lưu truyền đã trải qua nhiều sóng gió, là tương đối không dễ dàng. Đây là chính Pháp, tất nhiên sẽ gặp can nhiễu, bởi vì một khi “chính” xuất hiện, tất cả “bất chính” và “không đủ chính” đều sẽ bị động chạm đến. [Cái gì được] truyền ra rất thuận lợi thì nhất định là phù hợp với những thứ tà, cho nên không có phiền phức nào cả. Không có chính niệm chính hành trong ma nạn, thì họ không lưu lại tham chiếu và uy đức cho thế nhân được. Tương lai chúng ta gặp phải khó khăn gì mọi người cũng đều phải nhận thức cho đúng đắn.

Vũ trụ này cho phép ma tồn tại, vì sao cho phép nó tồn tại? Tôi giảng một đạo lý này: Tương sinh tương khắc là Lý tại tầng thấp của vũ trụ, đặc biệt là Tam Giới. Vì sao tồn tại Lý tương sinh tương khắc? Tại tầng thứ trung gian của khái niệm vũ trụ nhất định, có tồn tại hai chủng vật chất. Hai chủng vật chất phân hóa xuống dưới nữa thì biến thành hai chủng vật chất khác nhau. [Đó là] bởi vì càng xuống thấp càng không mỹ hảo, càng lên cao càng mỹ hảo, càng xuống thấp càng phân hóa, khác biệt càng lớn. Vậy hai chủng vật chất khác nhau này xuống phía dưới của vũ trụ, thì càng biểu hiện ra sự khác nhau và sai biệt giữa chúng, càng xuống thấp thì sai biệt càng lớn. Vậy xuống thấp nữa thì sẽ biểu hiện ra tính đối lập giữa hai chủng vật chất khác nhau. Vậy lại xuống thấp nữa tính đối lập của chúng sẽ đặc biệt rõ rệt, và xuất hiện đạo lý tương sinh tương khắc. Xuống thấp nữa thì lại sản sinh học thuyết Âm Dương của Thái Cực. Xuống thấp nữa, đặc biệt là khi đến chỗ nhân loại đây, thì lý tương sinh tương khắc đã rất rõ ràng. Đến cảnh giới của Phật, thực tế Phật là gì? Phật Đà chính là người bảo vệ vũ trụ. Phật Như Lai là Pháp Vương trong thế giới của Ông. Ông không chọn dùng bất kỳ phương pháp nào để quản lý cả, mà dùng từ bi và uy đức của Ông [để quản]. Chúng sinh của Ông cũng đều phù hợp với tiêu chuẩn thế giới ấy của Ông, vô cùng mỹ hảo. Vậy trong cảnh giới ấy, trong lý tương sinh tương khắc thì đối ứng của Phật (Pháp Vương) chính là Ma Vương.

Nói đến Ma Vương, mọi người có biết Mật Tông không? Tôi đã giảng đi giảng lại rằng Mật Tông không thể lưu truyền trong xã hội người thường được, chỉ có thể mật tu. Vì sao vậy? Bởi vì Mật Tông không chỉ tu Chính Giác mà còn tu Ma Vương, vừa tu Phật (Pháp Vương) vừa tu Ma Vương. Trong xã hội nếu như truyền những thứ này, chư vị nghĩ xem sẽ gây ra hậu quả gì trong xã hội? Chính là vấn đề này. Cho nên tôi luôn luôn giảng rằng Mật Tông không thể truyền tại xã hội được, chỉ có thể tu trong chùa. Phàm là truyền trong xã hội thì đều là giả, là đang lừa người. [Lý] tương sinh tương khắc đến chỗ người thường đây, vậy thì [biểu hiện là] có người thì cũng có quỷ, chính là tồn tại như vậy, cái lý về đối ứng này là đồng [thời tồn] tại. Nhưng chính bởi vì nó có tính đối lập, có tồn tại đạo lý tương sinh tương khắc này tồn tại, nó cũng mang lại một loại trạng thái trong xã hội người thường, bao gồm cả Pháp mà tôi truyền hôm nay, có người tin có người không tin, trong thế nhân có người tốt cũng có kẻ xấu, có người vị công, có người vị tư, có người tấm lòng rộng rãi, có kẻ tâm địa hẹp hòi. Một phản [diện] một chính [diện], chính là loại quan hệ đối ứng này. Tất cả những biểu hiện này chính là trạng thái của xã hội nhân loại.

Bất kể sự việc gì trong xã hội người thường cũng đều biểu hiện giống như vậy. Chư vị muốn làm thành công một việc tốt, thì chư vị phải đột phá được khó khăn hoặc can nhiễu gì đó lớn tương ứng, chư vị mới có thể hoàn thành được việc đó, đây chính là tính chế ước mà lý tương sinh tương khắc mang lại. Chính bởi vì có sự tồn tại của Lý này, có can nhiễu của ma tính, chư vị [muốn] đắc được thứ gì cũng không dễ dàng, chư vị phải nỗ lực mới hoàn thành công việc được. Trải qua sự nỗ lực, phấn đấu của chư vị, khắc phục rất nhiều khó khăn chư vị mới đắc được nó, chư vị mới biết trân quý nó, chư vị mới cảm thấy vui mừng, không dễ dàng đắc được chư vị mới cảm thấy quý báu, chư vị mới có niềm vui sướng sau khi đạt được thắng lợi. Nếu không có lý tương sinh tương khắc này, không có can nhiễu của ma, chư vị làm gì thì cũng đều có thể hễ làm là thành, không có sự tồn tại của ma tính, thì chư vị sẽ không trân quý [những gì] chư vị đắc được, chư vị sẽ không cảm thấy quý báu, chư vị không có niềm vui sau khi thắng lợi. Mọi người nghĩ xem, chư vị sẽ cảm thấy sống vô vị nhàm chán, sống không có ý nghĩa. Hễ làm là thành, làm cái gì cũng đều không có ý nghĩa nữa. Con người sẽ cảm thấy sống mà không có ý nghĩa, không có hương vị. Vậy nên, trong khó khăn chư vị chớ cảm thấy rằng nó không tốt, nó sẽ khởi tác dụng như vậy đó.

Vì sao có người nói với tôi: “Thầy vì sao không thanh lý hết ma đi?” Nếu tôi thanh lý hết ma, thì chư vị hôm nay sẽ không tu luyện được nữa. Không ai khảo nghiệm chư vị rốt cuộc còn kiên định đối với bộ Pháp này hay không, không có can nhiễu của ma thì chư vị có một số tâm sẽ không tống khứ được, không có can nhiễu của ma thì không tiêu nghiệp được, chính là đạo lý này. Người và vật, bản thân sinh mệnh cũng đều tồn tại hai chủng đặc tính này, con người chính là do Phật tính và ma tính đồng thời cấu thành. Chư vị tu luyện trong Phật lý thì chính là loại bỏ ma tính, khi con người phóng túng bản thân không có bất cứ sự ràng buộc của đạo đức nào cả thì chính là ma tính đại phát. Khi con người kích động, điên cuồng hò hét, tức giận thì chính là ma tính đại phát. Hiện tại vạn ma xuất thế, trong các lĩnh vực xã hội đều có [yếu tố] dẫn động con người [bộc] phát ma tính. Tác phẩm mỹ thuật, tác phẩm văn nghệ, tác phẩm văn học, [đều rất] tùy tiện, không hề phát huy chính niệm, giống như điên cuồng vậy, có gì khác với yêu ma đâu? Nam giới để tóc rất dài và quái dị, nam không ra nam nữ không ra nữ, nói nào là hình tượng của nghệ sỹ, nhạc sỹ. Kỳ thực đó đều là sự biến thái tâm lý bị ma tính dẫn động [mà thành].

Người có đạo đức ước thúc thì mới là Phật tính. Tu Phật là gì? Chính là trừ bỏ ma tính của chư vị, [hết thảy] đều đồng hóa thành Phật tính. Tôi vừa mới giảng những điều rất cao, thậm chí rất cụ thể rồi. Tôi giảng cũng đã nhiều rồi.

(Vỗ tay nhiệt liệt thời gian lâu)

● ● ● ● ● ● ● ● ●

Dịch từ bản gốc tiếng Hán: http://www.falundafa.org/book/chigb/jiangfa1_3.htm

Có tham khảo bản tiếng Anh: http://www.falundafa.org/book/eng/beijing1996.htm

Dịch ngày: 17-10-2016. Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.

Bất hoặc: Người ta có câu tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, bất hoặc tức là không còn mơ hồ nữa, chín chắn rồi, không bị lầm lạc nữa